Gia Lai - Gia Lai

Gia Lai

Gia Lai
Bài viết nổi bật
An Khê quan tâm bảo tồn di tích lịch sử
DI TÍCH - DI SẢN 07/02/2026
An Khê quan tâm bảo tồn di tích lịch sử

Chú trọng lập hồ sơ khoa học Ngày 28-12-2023, UBND thị xã An Khê đã tổ chức hội thảo khoa học di tích lịch sử đình Tân Tạo (xã Thành An) và miếu An Xuyên (phường Tây Sơn) với sự tham gia của các cơ quan liên quan, đơn vị tư vấn và thành viên các ban nghi lễ đình, miếu. Ông Trần Thái Dũng - Trưởng ban nghi lễ miếu An Xuyên - cho biết: Miếu An Xuyên hay còn gọi là miếu Bà tọa lạc trên đường Trần Hưng Đạo (thuộc tổ 4, phường Tây Sơn). Miếu thờ Thủy long thần nữ nương nương, Hà Bá, Lang Lại đại tướng quân, Bản cảnh Thành hoàng, Bản xứ thổ địa, Kim niên hành khiển hành binh, Sơn thủy thạch thần, Thổ công, Táo quân, Sơn lâm chúa xứ, Ngũ kỳ thần tượng, Tiêu diện đại lực sĩ, Hỏa hồng thần nữ, tiền hiền, hậu hiền. Hàng năm, tại miếu diễn ra lễ cúng Khai sơn (ngày 10-1 âm lịch), Quý Xuân (ngày 17-2 âm lịch) theo nghi thức truyền thống, có mời chính quyền địa phương, người dân đến tham dự. Ngoài ra, các thành viên Ban nghi lễ cúng Tết Đoan ngọ, rằm tháng 7, cúng chay vào ngày 15-10 và 1-1 âm lịch. “Nhiều năm nay, chúng tôi vẫn giữ lệ cũ là trong đêm Giao thừa, người đứng đầu Ban nghi lễ đình sau khi cúng cáo trời đất tại miếu sẽ đánh 3 hồi trống báo hiệu năm mới. Sáng mùng 1 Tết, dân làng tập trung tại miếu dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền hiền, tổ tiên, mong cầu năm mới bình an, gặp nhiều điều may mắn, thuận lợi, cuộc sống ấm no, hạnh phúc”-ông Dũng chia sẻ. Miếu An Xuyên (phường Tây Sơn) đang được thị xã An Khê lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Ảnh: Ngọc Minh Trong quá trình thu thập thông tin, các nhà khoa học còn tìm thấy nhiều tư liệu chứng minh tại khu vực này từng xuất hiện một làng chài và cư dân sống chủ yếu bằng nghề đánh cá. Các nhà khoa học đối chiếu tư liệu điền dã thu thập di sản Hán Nôm trên địa bàn toàn tỉnh cho thấy, miếu An Xuyên là nơi duy nhất tại Gia Lai thờ thủy thần, bao gồm vị thần chính là bà Thủy Long cùng Hà Bá, Lang Lại đại tướng quân. “Kết quả điều tra cũng cho thấy, miếu An Xuyên là nơi giữ được bài văn cúng có niên đại cổ xưa nhất, từ khi lập làng xây miếu (năm 1894). Đây là những giá trị lịch sử, văn hóa nổi trội của miếu so với các di tích khác ở Gia Lai; đồng thời là căn cứ khoa học vững chắc, có độ tin cậy cao về mặt tư liệu thông tin để đi đến những nhận định khác về lịch sử, văn hóa của di tích”-Tiến sĩ Lưu Hồng Sơn (Bảo tàng tỉnh) cho biết. Còn di tích đình Tân Tạo (thôn 5, xã Thành An) là trung tâm văn hóa, tín ngưỡng của người dân làng Tân Tạo xưa. Hàng năm, tại đình diễn ra lễ cúng Khai sơn (ngày 10-1 âm lịch), Quý Xuân (ngày 15-16 tháng 2 âm lịch) và một số lễ cúng vào ngày rằm tháng 1, 2, 4, 6,10. Dù trải qua nhiều biến cố lịch sử, thay đổi địa điểm, nhưng đình Tân Tạo vẫn giữ được 2 đạo sắc thần nguyên vẹn từ năm 1911 và một số câu đối lưu lại trên ván gỗ năm 1914 và 1943. “Đình Tân Tạo cũng là một cơ sở lưu trữ, kiến tạo di sản văn tự với các tài liệu có giá trị đặc biệt trong việc tìm hiểu lịch sử, văn hóa địa phương. Nguồn tư liệu gốc quý giá này nếu được khai thác tốt sẽ bổ sung đáng kể vào sử sách An Khê nói riêng và Gia Lai nói chung”-Tiến sĩ Lưu Hồng Sơn nhấn mạnh. Theo ông Nguyễn Phi Hùng-Phó Chủ tịch UBND xã Thành An: “Tân Tạo là ngôi đình còn lại duy nhất trên địa bàn xã. Cấp ủy, chính quyền địa phương và người dân rất mừng vì được thị xã quan tâm thuê đơn vị tư vấn lập hồ sơ khoa học. Xã đang hoàn thiện quy hoạch, hồ sơ cấp đất cho đình; tiếp tục tạo điều kiện cho các thành viên Ban nghi lễ đình tổ chức các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng theo quy định, góp phần bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống”. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Thực hiện Quyết định số 312/QĐ-UBND ngày 16-7-2018 của UBND tỉnh về việc phê duyệt danh mục kiểm kê di tích và dự kiến lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích giai đoạn 2018-2023 trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 19-1-2023 của UBND tỉnh về việc bổ sung danh mục kiểm kê di tích và dự kiến lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích giai đoạn 2018-2023 trên địa bàn tỉnh, UBND thị xã An Khê đã xây dựng và triển khai kế hoạch lập hồ sơ khoa học xếp hạng di tích cấp tỉnh đối với 10 di tích lịch sử. Đến nay, có 8 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh, nâng tổng số di tích lịch sử cấp tỉnh trên địa bàn thị xã là 17 di tích. Năm 2021, Khu tưởng niệm liệt sĩ Tú Thủy (xã Tú An) được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Năm 2022, tỉnh hỗ trợ xã 12 triệu đồng, năm 2023 tiếp tục hỗ trợ 24 triệu đồng để Tú An bổ sung kinh phí mua hương hoa cúng dâng liệt sĩ. Ông Trần Thanh Cảnh-Chủ tịch UBND xã Tú An-cho hay: “Từ năm 2017 đến nay, xã xuất ngân sách 30 triệu đồng/năm để trùng tu, tôn tạo cảnh quan và thuê người bảo vệ, quét dọn khu tưởng niệm. Mỗi năm, vào dịp lễ, Tết, người dân đến dâng hoa, dâng hương tưởng nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ”. Từ năm 2017 đến nay, xã Tú An xuất ngân sách 30 triệu đồng/năm để trùng tu, tôn tạo và thuê người bảo vệ, quét dọn Khu tưởng niệm liệt sĩ Tú Thủy. Ảnh: N.M Còn ông Lê Văn Hương-Trưởng ban Quản lý kiêm Trưởng ban nghi lễ đình Tân Lai (phường An Bình) thì phấn khởi cho hay: “Năm 2020, cụm đình miếu Tân Lai, Tân Chánh (gồm đình Tân Lai, miếu Tân Lai, miếu Tân Chánh) được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Cuối năm 2021, tỉnh đầu tư 2,6 tỷ đồng để đại trùng tu, tôn tạo các hạng mục công trình: nhà ngõ, tường rào, chánh điện, nhà tiền nhân miếu Tân Lai, miếu Tân Chánh. Chúng tôi cũng mong tỉnh sớm đầu tư sửa chữa đình Tân Lai để người dân, Ban nghi lễ tiếp tục duy trì tổ chức các hoạt động cúng lễ thần linh, bảo tồn bản sắc văn hóa”. Liên quan đến công tác lập hồ sơ di tích, bà Lê Thị Hồng Minh-Phó Chủ tịch UBND thị xã-cho biết: “Thời gian tới, UBND thị xã tiếp tục chỉ đạo các cơ quan, phòng, ban liên quan rà soát lập danh sách di tích đề nghị tỉnh xếp hạng di tích giai đoạn 2024-2029. Năm 2024, thị xã lập hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích cấp tỉnh đối với đình An Dân (phường An Bình); nơi ở và phần mộ chí sĩ yêu nước Nguyễn Hữu Hảo (xã Song An, theo Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 19-1-2023 của UBND tỉnh), góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, thúc đẩy phát triển du lịch, kinh tế-xã hội của thị xã”. Theo Báo Gia Lai Online https://baogialai.com.vn/an-khe-quan-tam-bao-ton-di-tich-lich-su-post262008.html

07/02/2026
Chung tay trùng tu, bảo tồn miếu cổ An Tân
DI TÍCH - DI SẢN 26/01/2026
Chung tay trùng tu, bảo tồn miếu cổ An Tân

Kiến trúc độc đáo Miếu An Tân được xây dựng trên gò đất cao, giữa khu dân cư đông đúc với đường sá tấp nập người qua lại. Theo hồ sơ khoa học, miếu An Tân là trung tâm văn hóa tín ngưỡng của vạn (xóm) An Tân, thuộc thôn An Khê xưa. Dựa vào kiến trúc hiện có, các nhà khoa học nhận định miếu được xây dựng kiên cố lần đầu vào khoảng thập niên 1920-1930. Trải qua trăm năm với biết bao thăng trầm lịch sử nhưng miếu An Tân vẫn giữ được kiến trúc truyền thống độc đáo. Trải qua trăm năm với biết bao thăng trầm lịch sử nhưng miếu An Tân (phường An Khê) vẫn giữ được kiến trúc truyền thống độc đáo. Ảnh: Ngọc Minh Tiến sĩ Lưu Hồng Sơn cho biết: Tại An Khê nói riêng cũng như Gia Lai nói chung, việc một kiến trúc tín ngưỡng cộng đồng còn giữ được tương đối toàn vẹn gồm nhà ngõ, bình phong, trụ biểu, chánh điện, tường bao như miếu An Tân là rất hiếm. Từ ngoài đi vào bước qua nhà ngõ sẽ tới sân miếu. Nhà ngõ xây kiên cố, trang trí cổ lầu tinh tế. Đỉnh mái thượng nhà ngõ đắp đôi phượng chầu nguyệt khác với đa số đình, miếu trên địa bàn là lưỡng long tranh châu. Tường bao xây cao hơn 1 m phủ rêu phong cùng nhà ngõ uy nghi bảo vệ càng làm cho miếu cổ thêm tôn kính, trang nghiêm. Đặc sắc nhất ở miếu An Tân, là bình phong và 2 trụ biểu chất liệu vôi vữa. Bức bình phong đắp phù điêu long mã ở mặt trước và linh quy ở mặt sau, đây cũng là đồ án trang trí khá phổ biến trên bình phong cổ xưa tại An Khê. Đôi trụ biểu kết cấu cột vuông, trên đầu gắn lân chầu, có câu đối bằng mảnh sành cổ, nét chữ thể hiện sự điêu luyện tài hoa của người thợ xưa. Miếu An Tân (phường An Khê) được xây dựng trên gò đất cao với nhà ngõ, tường bao trang nghiêm cổ kính. Ảnh: Ngọc Minh Không gian điện thờ xây dựng theo kiến trúc truyền thống của người Kinh với kiểu thức “trùng thiềm điệp ốc” còn gọi là “xà chồng mái chồng”-nhà kép 2 mái trên một nền, nhà trước và nhà sau được nối với nhau bằng một hệ thống trần vòm mai cua dưới có máng thừa lưu nối 2 mái nhà. “Nhà trước là tiền đường, nhà sau là hậu tẩm, nhìn từ trên cao xuống sẽ thấy rất rõ đặc điểm kiến trúc này tại miếu. Kiểu kiến trúc này khá hiếm, ngoài miếu An Tân, chúng tôi chỉ còn thấy ở miếu Thanh Minh trên địa bàn phường”-Tiến sĩ Sơn thông tin. Chung tay bảo tồn miếu cổ Miếu An Tân được dân gian gọi là miếu Bà và chánh điện được người địa phương gọi là điện Bà. “Bà” ở đây chính là bà Thiên Y A Na. Đây là vị nữ thần gốc Chăm hoặc có thể hiểu rộng hơn là vị thần tượng trưng cho những dân tộc khác đã có công lao khai khẩn mở mang đất đai. Ngoài ra, miếu còn thờ Thành hoàng, Thần núi, Bạch Mã thái giám, Sơn quân, Chúa Ngung man nương... Hàng năm, tại miếu diễn ra lễ cúng Khai sơn vào mùng 10 tháng Giêng cầu mùa màng tươi tốt bội thu và cúng Quý Xuân 17-2 (âm lịch) cầu quốc thái dân an. Đây là 2 nghi lễ lớn, quan trọng tại miếu. Ông Tô Văn Hòa-Tư biên (ghi chép sổ sách), Ban nghi lễ miếu An Tân-chia sẻ: Năm 2023, miếu được UBND tỉnh Gia Lai xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Năm 2024, ban nghi lễ được hỗ trợ 12 triệu đồng phục vụ các hoạt động của miếu. “Trước đây, mỗi lần cúng lễ, người dân thường đóng góp kinh phí để mua lễ vật, tạ ơn các vị thần linh đã che chở, bảo vệ xóm làng và hỗ trợ tiền tu sửa nhỏ trong điện thờ, nhà tiền nhơn”-ông Hòa bày tỏ. Khu chánh điện của miếu An Tân có nhiều rui kèo, đòn tay, cột chống đỡ bị mối mọt ăn mục ruỗng. Ảnh: Ngọc Minh Theo ông Đặng Thế Khương-Trưởng ban nghi lễ miếu An Tân, lần gần đây nhất đại trùng tu miếu vào năm 1970. Đến năm 2014, ông vận động các nhà hảo tâm và người dân đóng góp được hơn 100 triệu đồng để ban nghi lễ tiến hành lát gạch men khu vực nhà thờ, thảm bê tông khoảnh sân trước miếu, sửa chữa nhà bếp, nhà tiền nhơn. Tuy nhiên, riêng khu chánh điện, từ ngày đại trùng tu đến nay đã 55 năm, nhiều rui kèo, đòn tay, cột chống bị mối mọt ăn mục ruỗng. Hệ thống cửa từ trong nhà ra ngoài ngõ đều hư hỏng nặng. Phần mái kết nối giữa nhà tiền đường và hậu tẩm bị thấm nước, mỗi khi mưa gió lại dột ướt khắp nơi, gây thấm nước, ẩm mốc khu thờ cúng, càng làm cho công trình nhanh xuống cấp, hư hỏng nặng. “Miếu đã là di tích cấp tỉnh nên chúng tôi không thể tùy tiện sửa chữa, chỉ mong các cấp chính quyền, cơ quan chức năng quan tâm sớm trùng tu, bảo tồn di tích đáp ứng hoạt động tín ngưỡng của người dân”-ông Khương kiến nghị. Mối mọt gặm nhấm gỗ mục rơi vương vãi khắp khu điện thờ trong miếu cổ An Tân (phường An Khê). Ảnh: Ngọc Minh Ông Nguyễn Văn Quyên-Trưởng phòng Văn hoá-Xã hội phường An Khê-cho biết: “Miếu An Tân là di tích lịch sử cấp tỉnh. Trước đây, UBND tỉnh Gia Lai giao thị xã An Khê (cũ) khảo sát, xây dựng phương án trùng tu, tôn tạo, bảo tồn di tích. Trên cơ sở đó, phòng sẽ tham mưu UBND phường, khi có kinh phí sẽ phối hợp với cơ quan chuyên trách tiến hành sửa chữa, đảm bảo tính nguyên vẹn của miếu cổ”. Theo Báo Gia Lai https://baogialai.com.vn/chung-tay-trung-tu-bao-ton-mieu-co-an-tan-post560932.html

26/01/2026
Cúng Quý Thu ở đình Cửu An: Trang trọng, nhân văn
DI TÍCH - DI SẢN 22/01/2026
Cúng Quý Thu ở đình Cửu An: Trang trọng, nhân văn

Theo tư liệu, đình Cửu An được xây dựng vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Sau nhiều lần di dời, trùng tu tôn tạo, hiện nay, đình được xây dựng bề thế trên gò đất cao thuộc thôn An Điền Bắc. Đình Cửu An thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền, Thành hoàng và Tây Sơn Tam kiệt: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Hàng năm, tại ngôi đình này diễn ra lễ cúng Khai sơn vào mùng 10 tháng Giêng, Quý Xuân (ngày 19 và 20-2 âm lịch), cúng Quý Thu (ngày 17 và 18-8 âm lịch), cúng đưa Chư Thiên (23 tháng Chạp) và cúng Nguyên đán rước Chư Thiên vào mùng 1 Tết. Thành viên Ban Nghi lễ đình Cửu An (xã Cửu An, thị xã An Khê) viết văn tế trước khi tiến hành cúng tế. Ảnh: N.M   Hàng năm, đình Cửu An cúng Quý Thu vào ban đêm, từ 19 giờ ngày 17 đến rạng sáng ngày 18-8 âm lịch với các lễ cúng: tiền nhân, thỉnh sanh, thần linh, âm linh và cúng tống gió. Là người có nhiều năm thu thập thông tin, tư liệu nghiên cứu về các nghi thức cúng đình truyền thống vùng Tây Sơn Thượng đạo, Tiến sĩ Lưu Hồng Sơn (Bảo tàng tỉnh) cho biết: “Quý Thu là mùa thu hoạch. Sau khi thu hoạch xong thì bà con cúng tạ ơn thần linh, tổ tiên đã giúp đỡ bảo vệ mùa màng trong suốt thời gian từ khi gieo trồng đến lúc thu hoạch, ban cho cái ăn cái mặc. Trong lễ cúng Quý Thu ở đình Cửu An có lệ cúng tống gió, vì đây là thời điểm bắt đầu mùa mưa, xưa kia là vùng nhiều gió bão gây hại cho mùa màng, gây dịch bệnh cho con người và gia súc. Từ đó, người dân làm lễ cầu cúng để thần linh xua đuổi những cơn gió độc, gió dữ ra sông, ra biển”. Chiều 1-10 (17-8 âm lịch), các bậc cao niên cùng người dân đã tập trung về đình Cửu An để sửa soạn lễ vật, chuẩn bị mâm cúng. Từ năm 2021 đến nay, chồng bà Nguyễn Thị Sương (thôn An Bình) tham gia Ban Nghi lễ đình Cửu An nên bà đi theo tham gia đội hậu cần, nấu nướng. Bà Sương cho hay: “Mâm cúng thường được chế biến từ các loại lương thực, thực phẩm do chính tay người dân làm ra. Việc làm này thể hiện lòng thành kính của chúng tôi với các đấng thần linh đã ban mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu; đồng thời, tưởng nhớ, hàm ơn các bậc tiền nhân đã có công khai mở ruộng đồng, xây dựng làng xã để con cháu có cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay”. Lễ cúng Quý Thu tại đình Cửu An (thị xã An Khê) diễn ra trang nghiêm, thành kính. Ảnh: Ngọc Minh   Còn ông Nguyễn Thiệu (thôn An Điền Bắc) thì chia sẻ: “Từ năm 1985 đến nay, dù không còn tham gia Ban Nghi lễ nữa, nhưng mỗi dịp đình tổ chức lễ cúng, tôi đều tham dự và chia sẻ kinh nghiệm cho những người kế tục thực hiện các nghi thức cúng đình truyền thống. Tôi rất mừng vì thành viên Ban Nghi lễ đã thực hiện nghi thức tế lễ bài bản, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống”. Trước khi bước vào lễ cúng chính, thành viên Ban Nghi lễ viết văn tế tâu lên trời đất, thần linh, ông bà những thành quả đạt được sau tháng ngày lao động sản xuất; cầu mong các đấng thần linh tiếp tục che chở cho người người mạnh khỏe, ấm no, bình an. Đúng 19 giờ, lễ cúng tiền hiền được bắt đầu bằng hồi chiêng, hồi trống, nhạc lễ vang vọng xóm làng. Các cụ trong Ban Nghi lễ dâng hương, dâng rượu, cúng tế theo nghi thức cúng đình truyền thống. Ông Trần Thanh Luân-Trưởng ban Quản lý đình Cửu An-cho hay: Lễ vật cúng tiền nhân, thần linh thường có hoa quả, nhang, mâm cơm, vàng mã. Riêng cúng thần linh, âm sĩ có thêm 1 con heo nguyên sinh (heo nguyên con chưa được nấu chín). Kết thúc lễ cúng, người dân trong vùng dâng hương tỏ lòng thành kính biết ơn, cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, gia đình ấm no, hạnh phúc và quây quần thụ lộc. Nhân dịp cúng Quý Thu, Ban nghi lễ đình Cửu An thông báo việc đình Cửu An nằm trong Quần thể di tích quốc gia đặc biệt Tây Sơn Thượng đạo. Ảnh: Ngọc Minh   “Ban Nghi lễ đình thông báo rộng rãi tới bà con việc di tích đình Cửu An và dinh Bà nằm trong Quần thể di tích lịch sử Tây Sơn Thượng đạo đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là di tích quốc gia đặc biệt vào đầu năm 2022. Ấp Tây Sơn Nhì thì được UBND tỉnh xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh. Đây là niềm vinh dự, tự hào cũng là trách nhiệm của Ban Quản lý đình và người dân trong việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích”-ông Luân thông tin. Trao đổi với P.V, ông Trần Hoàng Quang-Phó Chủ tịch UBND xã Cửu An-cho biết: “Đình Cửu An là tổ đình của cộng đồng dân cư ấp Tây Sơn Nhì xưa và của người dân xã Cửu An ngày nay. Thời gian tới, xã tiếp tục tuyên truyền, vận động bà con đồng lòng chung tay bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”. Theo Báo Gia Lai https://baogialai.com.vn/cung-quy-thu-o-dinh-cuu-an-trang-trong-nhan-van-post251048.html

22/01/2026
Di tích quốc gia đặc biệt Tây Sơn Thượng đạo
DI TÍCH - DI SẢN 02/02/2026
Di tích quốc gia đặc biệt Tây Sơn Thượng đạo

Tây Sơn Thượng đạo là một tuyến hành lang quân sự - hậu cần mang tính chiến lược trong lịch sử dân tộc Việt Nam, gắn bó mật thiết với cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Quần thể di tích Tây Sơn Thượng đạo (thuộc phường Tây Sơn, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai) không chỉ là huyết mạch chiến lược giữa đại ngàn Tây Nguyên mà còn là nơi hun đúc, ẩn chứa bao bước chân binh sĩ, bao mưu đồ quân sự của anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ. Huyết mạch chiến lược giữa đại ngàn Tây Nguyên Lịch sử của di tích Tây Sơn Thượng đạo gắn liền với sự hình thành và phát triển của phong trào Tây Sơn, phản ánh một giai đoạn lịch sử đầy biến động nhưng cũng rực rỡ hào khí trong công cuộc thống nhất đất nước, lật đổ các thế lực phong kiến mục ruỗng, đẩy lùi giặc ngoại xâm. Trước khi gắn với tên gọi “Tây Sơn Thượng đạo”, tuyến đường này vốn là các đường mòn giao thương, trao đổi giữa cư dân người Kinh ở vùng duyên hải Bình Định và các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên như Ba Na, Xơ Đăng, Jarai. Nó tồn tại dưới dạng những lối mòn xuyên rừng, theo các thung lũng sông suối hoặc sườn núi, hình thành qua hàng trăm năm bởi nhu cầu di cư, buôn bán, giao lưu văn hóa giữa cao nguyên và đồng bằng. Trong bối cảnh xã hội Đại Việt vào giữa thế kỷ XVIII đang rơi vào khủng hoảng trầm trọng do triều đình Lê - Trịnh suy yếu, nạn tham quan, cường hào hoành hành, đời sống nhân dân cơ cực, vùng Tây Sơn – Bình Định trở thành nơi ươm mầm cho một phong trào khởi nghĩa quy mô lớn với mục tiêu lật đổ trật tự phong kiến cũ. Đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt ở Khu di tích Tây Sơn Thượng đạo. Ảnh: Saco Travel. Khi khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ vào năm 1771, địa hình miền Trung, đặc biệt là khu vực rừng núi phía Tây Bình Định giáp Tây Nguyên trở thành lợi thế về chiến thuật. Trong thời kỳ đầu, nghĩa quân Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Nhạc đã tận dụng mạng lưới đường mòn sẵn có để xây dựng các căn cứ dã chiến, vận chuyển lương thực, vũ khí và cơ động lực lượng. Các tuyến đường từ An Khê – Kbang (nay thuộc tỉnh Gia Lai) về Bình Khê, Phù Cát (Bình Định) trở thành những “huyết mạch” nối hậu phương và tiền tuyến. Từ Tây Sơn Thượng đạo, quân Tây Sơn có thể bất ngờ tiến xuống đồng bằng đánh chiếm Quy Nhơn, rồi từ đó mở rộng địa bàn khởi nghĩa về phía Nam (Gia Định), phía Bắc (Thuận Hóa – Phú Xuân), và xa hơn nữa là ra tận Thăng Long. Đặc biệt, vùng An Khê – Kbang được sử sách và truyền khẩu xem như “đại bản doanh thượng đạo” của nghĩa quân. Nơi đây không chỉ có vị trí hiểm yếu dễ phòng thủ, mà còn là trung tâm tổ chức quân đội, rèn đúc vũ khí, tích trữ lương thực. Các truyền thuyết địa phương kể lại rằng nhiều đèo dốc, dòng suối và ngọn núi trong khu vực từng là nơi đặt trạm tiền tiêu, trại luyện binh hoặc các đồn canh giữ kho lương của quân Tây Sơn. Tây Sơn Thượng đạo cũng là con đường mà Nguyễn Huệ từng hành quân thần tốc từ Tây Nguyên vượt qua đèo An Khê, tiến thẳng về Phú Xuân để đánh tan quân Trịnh, mở đầu cho cuộc giải phóng đất nước mang tầm vóc thời đại. Trong giai đoạn phát triển cực thịnh của phong trào Tây Sơn, tuyến Thượng đạo không chỉ là đường vận chuyển chiến lược mà còn là nơi “trú đông”, hậu phương huấn luyện lực lượng. Mỗi khi triều đình Tây Sơn gặp khó khăn ở đồng bằng, những khu rừng sâu thẳm ở Tây Nguyên lại trở thành nơi tái tổ chức, củng cố thế lực, chờ thời cơ phản công. Phát huy hào khí Tây Sơn Ngày nay, quần thể di tích Tây Sơn Thượng đạo gồm 23 điểm, 8 cụm di tích phân bố trên địa bàn 4 huyện, thị xã gồm: An Khê, Đak Pơ, Kbang và Kông Chro. Trong đó, địa điểm tham quan nổi bật là Khu di tích Tây Sơn thượng đạo ở thị xã An Khê. Tọa lạc tại nơi từng là một trong những căn cứ của nghĩa quân Tây Sơn, khu di tích này có các hạng mục chính gồm đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt, bảo tàng Tây Sơn Thượng đạo, tượng vua Quang Trung - Nguyễn Huệ và An Khê Trường. Tượng đài vua Quang Trung – Nguyễn Huệ ở Khu di tích Tây Sơn Thượng đạo. Ảnh: Giáo dục & Thời đại. Vào những ngày mồng 4 và mùng 5 tết Âm lịch hằng năm, khu di tích Tây Sơn thượng đạo ở An Khê là nơi tổ chức lễ hội cầu Huê để tưởng nhớ về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Lễ hội gồm hai phần chính là phần lễ với các nghi thức trang trọng theo phong tục xưa cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an và phần hội là các hoạt động văn hoá truyền thống như trình diễn võ cổ truyền tây Sơn, diễn cồng chiêng, đấu võ đài, chơi các trò chơi dân gian… Theo các nhà nghiên cứu, việc làm sáng rõ những giá trị của di tích Tây Sơn Thượng đạo không chỉ tô đậm dấu son chói lọi của phong trào Tây Sơn mà còn đem lại những bằng chứng khoa học về quá trình di dân, định cư, lịch sử khai hoang, giao thương, tạo dựng làng xã của người Kinh, người Thượng, tín ngưỡng thờ tự thần linh gắn với hệ thống đình miếu phong phú trên vùng thượng đạo. Vào năm 1991, di tích Tây Sơn Thượng đạo đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đến năm 2021, địa điểm này được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt. Bộ VH,TT&DL vừa có công văn gửi UBND tỉnh Gia Lai về thẩm định Báo cáo kinh tế kỹ thuật bảo tồn, tôn tạo Quần thể di tích Tây Sơn Thượng đạo. Theo đó, Bộ VH,TT&DL lưu ý, khu vực cải tạo nền sân An Khê Trường có diện tích rộng, tuy nhiên phương án cải tạo không có quy định kỹ thuật về thoát nước, độ dốc bề mặt sân, do đó tiếp tục sẽ là nguyên nhân để sân di tích xuống cấp nhanh chóng sau khi được cải tạo. Cần bảo quản, tái sử dụng tối đa gạch lát cũ còn khả năng sử dụng; bảo vệ hiện vật trưng bày nội thất Nhà trưng bày đảm bảo an toàn trong suốt quá trình thi công; Bộ VH,TT&DL đề nghị trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày bàn giao, đưa công trình vào sử dụng, chủ đầu tư phải gửi nhật ký công trình và hồ sơ hoàn công về Cục Di sản văn hóa để lưu trữ và phục vụ công tác quản lý di tích. Theo Báo Tri thức & Cuộc sống https://kienthuc.net.vn/di-tich-quoc-gia-dac-biet-tay-son-thuong-dao-post1552158.html

02/02/2026
Ghé thăm khu di tích nhà lao Pleiku - chứng tích hào hùng trong lịch sử dân tộc
DI TÍCH - DI SẢN 29/01/2026
Ghé thăm khu di tích nhà lao Pleiku - chứng tích hào hùng trong lịch sử dân tộc

Nhà Lao Pleiku nằm trên một đồi đất đỏ cao, đường Thống Nhất thuộc phường Diên Hồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Nhà lao được Pháp xây dựng năm 1925 đến năm 1941 được sửa chữa lại kiên cố. Tổng diện tích khu trại giam khoảng 7ha, bao quanh là những bức tường cao 3m kiên cố với các lớp rào bằng thép gai. Ở góc phía Tây Bắc và Tây Nam có hai bốt gác có binh lính vũ trang túc trực 24/24, phía Đông có đặt lô cốt bảo vệ.  Bia tưởng niệm trong khuôn viên nhà lao Pleiku Trong thời gian đầu từ 1925-1945, nhà lao Pleiku là nơi Pháp giam cầm những người yêu nước và một số đảng viên cộng sản hoạt động trong các Hội Cứu tế đỏ Bầu Cạn, Biển Hồ như: Phan Lương, Nguyễn Bá Hoè, Trần Ren, Lâm Thị Nở. Tháng 6/1946-1954, Pháp đày ải những tù binh, tù chính trị bằng hình thức tra tấn cực hình, xử tử như đồng chí Nguyễn Đồng, Nguyễn Nho, Đào Lụt, Lê Giỏi. Tháng 6/1948 chi bộ nhà lao được thành lập đã liên hệ ra ngoài tổ chức cơ sở và lập chi bộ xã, đồn điền Bầu Cạn, cùng chi bộ nhà lao hình thành liên chi bộ do đồng chí Hồ Hoàn làm bí thư đã lãnh đạo đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù, chống đánh đập, hạn chế khổ sai, bảo vệ nhân cách người cộng sản và tổ chức vượt ngục. Những năm 1965-1968, cao trào cách mạng phát triển mạnh mẽ và rộng khắp tỉnh Gia Lai và trong cuộc tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, anh chị em tù chính trị nhà lao Pleiku đã hiệp đồng tấn công địch bằng cách phá nhà lao thoát ra, nhưng bị địch bắn chết 46 người và nhiều người khác bị thương. Sau Tết Mậu Thân, tại nhà lao Pleiku kẻ địch đã nhốt đến 800 người tù chính trị, và lúc này chế độ hà khắc của tù nhân cũng được tăng cường; thế nhưng với niềm tin vào thắng lợi của cách mạng, các chiến sĩ cách mạng bị địch giam cầm tại đây không ngại hi sinh, gian khổ, vẫn một lòng đoàn kết, bền gan chịu đựng, không đầu hàng địch. Tháng 7/1968, Đảng bộ nhà lao được thành lập do đồng chí Nguyễn Kim Kỳ làm bí thư, lãnh đạo đấu tranh chống địch ngay trong nhà tù. Giếng nước sinh hoạt của tù nhân trong nhà lao Pleiku Khu tái hiện Cảnh lao động khổ sai trong nhà tù Những hình thức tra tấn dã man cả về thể xác lẫn tinh thần của kẻ địch vẫn không làm khuất phục được ý chí và tinh thần bất khuất kiên trung của những chiến sĩ cách mạng. Chiều ngày 15/3/1975 tù chính trị nổi dậy giải phóng nhà lao, châm dứt 50 năm kìm kẹp của chế độ nhà tù đế quốc. Ngày 12/12/1994, Nhà lao Pleiku được Bộ Văn hóa – Thông tin quyết định số công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Nhà lao Pleiku là một trong những “địa chỉ đỏ” giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân, đặc biệt là học sinh, sinh viên. Nhiều tổ chức Đảng, Đoàn Thanh niên đã chọn nơi này để tổ chức sinh hoạt, kết nạp đảng viên, đoàn viên và gặp gỡ, nghe các bác cựu tù kể chuyện. Nơi đây đã thành một điểm tham quan cho du khách trong và ngoài nước mỗi khi đặt chân đến vùng đất giàu truyền thống cách mạng này. Thắp một nén tâm nhang tại nơi tưởng niệm các chiến sỹ đã hy sinh và đang yên nghỉ tại nhà lao Pleiku chúng tôi không khỏi xúc động bồi hồi. Sau những hàng rào dây thép gai, những cánh cửa ngục xưa kia là ý chí sắt đá, là tấm lòng kiên trung, anh dũng của những chiến sĩ cách mạng. Chiến tranh đã qua đi, nỗi đau nào rồi cũng được chữa lành nhưng nơi đây vẫn luôn là những trang sử sống động được tô thấm bằng máu của các chiến sĩ . Với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, chúng tôi và thế hệ trẻ luôn ghi nhớ công lao của cha ông, nguyện góp phần nhỏ bé để giữ gìn và bảo vệ đất nước, cố gắng xây dựng non sông đoàng hoàng hơn, tươi đẹp hơn như Bác Hồ từng mong muốn. Theo Bảo tàng Lịch sử quốc gia https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3096/71605/ghe-tham-khu-di-tich-nha-lao-pleiku-chung-tich-hao-hung-trong-lich-su-dan-toc.html

29/01/2026
Khám phá nhà tù Pleiku – “Địa ngục trần gian” khét tiếng một thời
DI TÍCH - DI SẢN 27/01/2026
Khám phá nhà tù Pleiku – “Địa ngục trần gian” khét tiếng một thời

Nhà tù Pleiku – “địa ngục trần gian” khét tiếng một thời (Ảnh: Sưu tầm) Nhà tù Pleiku nằm trên một đồi đất đỏ cao trên đường Yết Kiêu thuộc phường Diên Hồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Năm 1925, người Pháp đã cho xây dựng nhà tù với mục đích giam giữ tù thường phạm, phần lớn là người dân tộc sinh sống tại Tây Nguyên. Năm 1940, khi phong trào đấu tranh cách mạng bùng nổ mạnh mẽ, nơi này đã trở thành nhà lao giam giữ những chiến sĩ cộng sản, những người yêu nước. (Ảnh: Sưu tầm) Tổng diện tích khu trại giam khoảng 7ha, bao quanh là những bức tường cao 3m kiên cố với các lớp rào bằng thép gai. Ở góc phía Tây Bắc và Tây Nam có 2 bốt gác có binh lính vũ trang túc trực 24/24, phía Đông có đặt lô cốt bảo vệ. Các vọng gác luôn có binh lính túc trực (Ảnh: Sưu tầm) Năm 1967, 20 phòng giam tại nhà tù Pleiku cũng không đủ để nhốt hết hơn 2000 tù nhân, địch đã phải căng lều bạt ở trong trại tù để ở tạm và khẩn trương xây dựng thêm một trại giam khác. Nhà tù Pleiku bao gồm 18 phòng giam và 2 phòng dùng làm chuồng cọp. Mỗi phòng giam chỉ có diện tích 10m2 với 2 ô cửa nhỏ nhưng giam giữ đến 120 người. Thực dân Pháp phân loại người tù theo từng cấp bậc, thương tật, vùng miền để dễ kiểm soát. Ở dãy nhà giam chính gồm 5 phòng: phòng 1 giam tù chính trị là người dân tộc thiểu số, phòng 2 giam quân phạm, phòng 3 giam tù công vụ, phòng 4 giam tù thường phạm, đặc biệt phòng 5 giam tù chính trị nguy hiểm nhất. Phòng số 5 (khu xà lim) chia thành 8 xà lim, mỗi xà lim rộng 1,6m, dài 2m. Trong đó có 2 xà lim chẹt chỉ rộng khoảng 0,5m với một tấm ván gỗ chia thành 2 tầng. Người tù bị nhốt bên trong những phòng này thường xuyên bị ngất xỉu vì thiếu không khí để thở, với đôi chân còng thò ra ngoài cửa, họ bị tra tấn bằng nhiều hình thức dã man, tàn độc. Bên trong một phòng giam của nhà tù Pleiku (Ảnh: Sưu tầm) Một hình thức tra tấn man rợ (Ảnh: Sưu tầm) Tháng 5 – 1972, khi quân ta tấn công vào Kon Tum, địch đã chuyển hết số tù binh ở 2 phòng biệt giam ra nhà tù Phú Quốc. Đến cuối năm 1972, nhà tù Pleiku hoàn toàn bỏ trống, không một bóng người. Sau đó, nhà tù được chính quyền địa phương gìn giữ và đầu tư cải tạo lại làm một địa điểm giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ, giúp thế hệ trẻ thêm tự hào về truyền thống hào hùng của dân tộc. Nhà tù Pleiku ngày nay tuy không còn nguyên vẹn nhưng vẫn còn lưu giữ được nhiều hiện vật, dấu vết minh chứng cho tội ác tàn độc của kẻ thù và tinh thần đấu tranh quật cường giữ gìn khí tiết của những người cộng sản yêu nước. Năm 2015, công trình Bia tưởng niệm Trại giam tù binh Pleiku được gấp rút xây dựng trên nền trại giam cũ để tri ân những con người cách mạng đã ngã xuống vì một đất nước được độc lập, tự do.   (Ảnh: Sưu tầm) (Ảnh: Sưu tầm) Nhà tù Pleiku mở cửa các ngày trong tuần cho du khách vào tham quan miễn phí. Tận mắt chứng kiến các loại hình tra tấn tàn độc đã được phục dựng, chắc hẳn trong mỗi chúng ta càng dâng lên niềm tự hào, xúc động, khắc ghi những công lao to lớn mà cha ông đã mang lại cho nền độc lập ngày hôm nay. Theo Vntrip https://www.vntrip.vn/cam-nang/nha-tu-pleiku-45901  

27/01/2026
Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng - viên ngọc quý của đại ngàn Tây Nguyên
DI TÍCH - DI SẢN 30/01/2026
Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng - viên ngọc quý của đại ngàn Tây Nguyên

  Khu bảo tồn Kon Chư Răng đang là điểm đến cực hấp dẫn với du khách tại Gia Lai. Ảnh: @tien.nnguyenn Ngỡ ngàng trước cảnh sắc tuyệt đẹp của khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng nằm ở địa bàn xã Sơn Lang, huyện K’Bang, phía bắc tỉnh Gia Lai. Địa điểm này nằm trên hai vùng Đông và Tây của dãy Trường Sơn, nên sở hữu hệ sinh thái vô cùng đa dạng, độ che phủ lên đến 99%. Hệ sinh thái đa dạng với nhiều loài đặc hữu   Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng hiện có 1,6 triệu ha rừng nguyên sinh, cảnh quan ở nơi đây vẫn còn rất hoang sơ và chưa chịu sự tác động của nhiều của con người nên vẫn giữ được nguyên vẹn vẻ đẹp vốn có. Đặc biệt, rừng nguyên sinh tại Kon Chư Răng có khá nhiều nơi vẫn giữ được các loại gỗ quý, hiếm và nhiều loài động vật đặc hữu.  Hệ sinh thái rừng Kon Chư Răng rất đa dạng. Ảnh: @the_pdoublep Cụ thể, khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng có khoảng 833 loài thực vật bậc cao với 18 loài có trong sách đỏ của Việt Nam và 7 loài có trong sách đỏ của thế giới. Trong đó, có nhiều loài thực vật đặc hữu hẹp như Trắc, Xoay, Giổi xanh, Song bột, Du móc, 2 loài phong lan rất quý hiếm là Lọng Hiệp và Hoàng thảo vạch đỏ. Hệ động vật cũng rất phong phú với 392 loài, nhiều loài có tên trong sách đỏ như voọc chà vá chân xám, vượn má hung hay mang Trường Sơn.  Hệ sinh thái rừng có nhiều loài đặc hữu quý hiếm. Ảnh: Vnexpress Hệ thống thác nước đẹp đến mê hoặc  Cùng với sự đa dạng về hệ động thực vật, thì cảnh quan của khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng cũng sẽ khiến du khách phải mê đắm khi có cơ hội chiêm ngưỡng. Bên cạnh những thảm rừng xanh của đại ngàn, thì nơi đây cũng được mẹ thiên nhiên ưu ái dành tặng cho rất nhiều thắng cảnh hùng vĩ. Kon Chư Răng có hệ thống thác nước được xếp hạng bậc nhất quốc gia với 12 thác lớn có độ cao từ 10 mét, tạo nên một vùng sơn thủy hữu tình đầy mê đắm, trong đó có nhiều con thác đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng.  Thác Ba Tầng  Ngọn thác này đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng ở khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng. Sở dĩ có tên gọi là thác Ba Tầng vì khi nước từ các dòng suối chảy về đây phải đi qua ba tầng thác nối tiếp nhau với chiều dài khoảng 40m. Tầng thác thứ nhất có độ cao khoảng 1,5 mét, tầng thứ hai cao khoảng 2 mét và tầng thác chính là tầng cuối cao đến 20 mét.  Thác Ba Tầng có vẻ đẹp ấn tượng với 3 tầng thác cao. Ảnh: @votrithac Cả ba tầng thác tuyệt đẹp, nước chảy tung bọt trắng xóa giữa khung cảnh êm đềm của núi rừng tạo nên một tuyệt sắc cảnh mê hoặc lòng nước. Dòng suối dưới chân thác khá rộng và hai bên bờ là những bóng cây lớn nên khi đến đây bạn có thể ngồi nghỉ ngơi và ngắm ảnh.  Thác K50 (Thác Hang Én)  Thác K50 còn được biết đến là thác Hang Én, thác này nằm ở địa phận giáp ranh hai tỉnh Bình Định và Gia Lai, thuộc địa phận khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng. Để đến được thác K50, du khách sẽ di chuyển theo kiểu trèo đèo, lội suối vì không có đường lớn để lên thác mà chỉ là con đường mòn nhỏ, nhiều suối chảy qua. Mặc dù vậy, sự mê hoặc của khung cảnh thác nước vẫn luôn là động lực để thôi thúc bất cứ ai đến với nơi này. Thác K50 có độ cao là 543 mét với độ rộng từ 20 đến 100 mét tùy mùa. Thác K50 chinh phục các tín đồ xê dịch bởi vể đẹp hùng tráng. Ảnh: Bank Tour Nước ở thác K50 chảy cực kỳ xiết và mạnh. Chính vì vậy, du khách có thể chiêm ngưỡng hiện tượng sương mù cộng với ánh nắng mặt trời tạo thành cầu vồng rực rỡ khá thường xuyên ở đây.  Khám phá văn hóa Ba Na khi đến Kon Chư Răng  Bên cạnh nhìn ngắn cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, chinh phục những ngọn thác đẹp thì khi đến với khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng, bạn chớ bỏ lỡ ngôi làng Kon Von 2 là nơi sinh sống của người Ba Na bản địa với nhiều nét văn hóa đặc sắc.  Làng Kon Von 2 nằm lọt thỏm giữa rừng. Ảnh:vnexpress.net/ Phan Nguyên Nằm lọt thỏm giữa bốn bề núi rừng, ngôi làng Kon Von 2 của xã Đắc Rong, huyện K’bang là ngôi nhà chung của 60 hộ dân người dân tộc Ba Na bản địa. Người dân nơi đây chọn rừng núi làm nơi quần cư và bao đời nay vẫn dựa vào rừng để sinh sống. Đặc biệt,các cư dân làng Kon Von 2 còn có một nghề khác đó là nghề giữ rừng, nên người ta vẫn gọi ngôi làng này với một cái tên khác là làng Kiểm Lâm.  Ghé thăm làng Kon Von 2, bạn sẽ có cơ hội trải nghiệm cuộc sống đậm chất Tây Nguyên của người dân nơi đây với nhiều hoạt động hấp dẫn. Đặc biệt, nếu ghé thăm làng Kon Von 2 vào dịp lễ hội, hay các sự kiện cưới hỏi. mừng lúa mới… Bạn sẽ được trải nghiệm nét văn hóa bản địa đặc sắc các hoạt động đâm trâu, nhảy múa và những món ăn bản đặc đặc sắc.  Người dân vẫn giữ nét văn hóa truyền thống của người Ba Na Tây Nguyên. Ảnh: Baogialai Kinh nghiệm khám phá khu bảo tồn Kon Chư Răng Gia Lai  Du lịch khu bảo tồn Kon Chư Răng là trải nghiệm tuyệt vời mà bạn nên thử khi đến với Gia Lai. Hoạt động thích hợp nhất để khám phá nơi này là trekking, vừa đi vừa chiêm ngưỡng cảnh đẹp trong khu bảo tồn. Trekking là cách khám phá hoàn hảo nhất khi đến khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng. Ảnh: @cua.1892 Từ trung tâm Pleiku bạn có thể di chuyển bằng ô tô hoặc xe máy đến khu bảo tồn  theo hướng quốc lộ 19, xã An Khê với khoảng cách là 80km. Khi đến ngã ba Kbang thì rẽ trái di chuyển thêm 30km đến huyện Kbang và tiếp tục đi thêm 60km nữa để đến khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng. Bạn cũng có thể đến khu bảo tồn này từ Bình Định từ huyện An Lão, di chuyển 5km đến cột mốc số 10 và bắt đầu hành trình. Thời gian lý tưởng nhất để đến khu bảo tồn Kon Chư Răng là từ tháng 1 đến tháng 6, lúc này trời đẹp và khô ráo. Cung đường đến với Kon Chư Răng. Ảnh: @nguyen_vanluan Để chinh phục Kon Chư Răng bạn cần chuẩn bị đầy đủ các vật dụng như giày leo núi, đồ đi rừng, các loại thuốc chống côn trùng, nước uống, túi ngủ, lều và đồ ăn. Hành lý nên gọn nhẹ nhất có thể nhưng vẫn phải đầy đủ. Ngoài ra, bạn nhất định phải có thêm người dẫn đường để chinh phục nơi này an toàn nhất. Mặc dù chặng đường chinh phục Kon Chư Răng sẽ chẳng hề dễ dàng, bởi rừng già rất đẹp nhưng cũng ẩn chứa nhiều nguy hiểm. Tuy nhiên, tất cả những nỗi sợ sẽ chẳng là gì khi bạn được đắm chìm vào khoảng không xanh mát đẹp tuyệt vời giữa đại ngàn Tây Nguyên,  những dòng thác như dải lụa vắt ngang trời vừa mềm mại vừa hùng vĩ hẳn sẽ khiến bạn không thể nào quên. Theo Lữ hành Việt Nam https://luhanhvietnam.com.vn/du-lich/khu-bao-ton-thien-nhien-kon-chu-rang-tay-nguyen.html

30/01/2026