Bắc Ninh - Bắc Ninh

Bắc Ninh

Bắc Ninh
Bài viết nổi bật
Chùa Dâu
DI TÍCH - DI SẢN 27/01/2026
Chùa Dâu

Chùa Dâu (Bắc Ninh) Chùa Dâu là nơi giao thoa của nền Phật giáo từ Ấn Độ, Trung Quốc và nền văn hóa dân gian VIệt Nam. Chùa thờ nữ thần mây Pháp Vân trong hệ Tứ pháp gồm: Pháp Vân (Thần Mây), Pháp Vũ (Thần Mưa), Pháp Lôi (Thần Sấm), Pháp Điện (Thần Chớp). Bốn vị thần này khởi thủy là thần nông nghiệp, làm ra các phép mây, mưa, sấm, chớp phục vụ và ảnh hưởng đến việc đồng áng của người dân. Do ảnh hưởng của Phật giáo mà các vị thần này được hóa Phật và tôn thờ. Ngôi chùa cổ đã trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử hàng ngàn năm. Với sự bào mòn của thời gian và tàn phá của chiến tranh, chùa Dâu đã bị hư hỏng và phải xây dựng, tu sửa lại rất nhiều. Tuy vậy, những giá trị văn hóa, tâm linh được của chùa Dâu vẫn còn được gìn giữ nguyên vẹn. Đặc biệt là câu truyện về Phật mẫu Man Nương gắn liền với sự ra đời của ngôi chùa cổ này vẫn còn được lưu truyền mãi tới ngày nay. Năm 2013, chùa Dâu được Thủ tướng Chính Phủ xếp hạng thành Di tích Quốc gia đặc biệt. Tham quan chùa Dâu Chùa Dâu tọa lạc trên một khu đất cao, rộng, cây cối xung quanh mọc xanh tốt. Sân chùa với giếng nước, ao làng tạo nên khung cảnh đặc trưng của vùng thôn quê phía Bắc. Cảnh quan đẹp cùng ngôi chùa cổ kính, rêu phong tạo cho du khách cảm giác yên bình và thơ mộng đến lạ. Chùa được xây theo lối kiến trúc “nội Công ngoại Quốc” - lối thiết kế đặc trưng của những ngôi chùa cổ tại Việt Nam và các nhà Tiền Đường, Thiêu Hương, Thượng Điện được xây cao dần vào phía trong. Trải qua nhiều lần xây dựng và tu sửa, đặc biệt là trong thời kỳ Lê - Nguyễn, nên chùa in đậm dấu ấn kiến trúc và điêu khắc tượng đặc sắc của thời đại này. Toàn cảnh chùa Dâu Khi bước vào chùa, ấn tượng đầu tiên là tháp Hòa Phong 3 tầng cao 17m nằm giữa sân. Tháp được xây bằng gạch nung. Chuông và khánh đặt trong tháp đều được đúc từ cuối thế kỉ 17 - đầu thế kỉ 18, gắn liền với câu thơ quen thuộc của người Bắc Ninh: “Dù ai đi đâu về đâu/ Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về”. Tại các góc của tháp có tượng thờ “Tứ vị Thiên Vương” cai quản bốn phương trời. Ngoài tháp Hòa Phong, chùa Dâu còn có vườn tháp gồm 8 tháp là nơi yên nghỉ của các vị sư từng tu tại chùa, có niên đại thế kỉ 14 - thế kỉ 19. Tiền đường với 7 gian phòng rộng rãi mang phong cách bố trí và đúc tượng thời Nguyễn. Tại đây đặt tượng Hộ Pháp, Bát Bộ Kim Cương, Đức Ông, Đức Thánh Hiền với tạo hình sinh động. Kế tiếp tiền đường là nhà thiêu hương, nơi thờ Thập điện Diêm Vương, trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi - người đã có công tu sửa chùa và Thái tử Kỳ Đà. Kiến trúc chùa Dâu Nhà thượng điện được xây phía trên cao nhất, là nhà một gian ba trái với mái nhà cong, tạo khối như bông sen, được trạm trổ khéo léo hình tứ linh .Bên trong thượng điện đặt pho tượng uy nghi của bà Dâu hay chính là nữ thần Pháp Vân - chị cả của Tứ Pháp. Bên tay trái của bà Pháp Vân là tượng bà Pháp Vũ hay bà Đậu - được rước sang thờ cùng khi chùa Đậu (Bắc Ninh) bị tàn phá do Pháp sang xâm lược. Bên dưới bàn thờ bà Dâu là tượng của Kim Đồng, Ngọc Nữ và hộp đựng Thạch Quang, viên đá nằm trong thân cây dung thụ mà theo sự tích là hoá thân của con gái vị tăng sĩ Ấn Độ, Khâu Đà La và bà Man Nương. Các bức tượng được bố trí cân xứng và mang đường nét, vẻ đẹp đặc trưng của người Việt Nam. Ban thờ Pháp Vân (bà Dâu) tại thượng điện chùa Dâu Nhắc đến nghệ thuật tượng của chùa Dâu, còn phải đến 18 pho tượng của các vị La Hán ở dọc hai dãy hành lang song song nối liền tiền thất và hậu đường được miêu tả với các tư thế, hình dáng và màu sắc sinh động mà gần gũi. Bức tượng vị La Hán tại chùa Dâu Lễ hội tại chùa Dâu Lễ hội chùa Dâu được diễn ra trong ngày 8-9 tháng 4 âm lịch hằng năm với quy mô rộng lớn. Năm ngôi chùa lớn tại ba xã của tỉnh Bắc Ninh thờ Pháp Vân (bà Dâu -chùa Dâu), Pháp Vũ (bà Đậu), Pháp Lôi (bà Tướng), Pháp Điện (bà Dàn) và Phật mẫu Man Nương sẽ lấy chùa Dâu làm trung tâm, thực hiện nghi lễ rước các bà. Đám rước khi tới chùa Dâu sẽ tổ chức các nghi lễ theo hình thức trò chơi vô cùng độc đáo như trò “mẹ đuổi con” - các kiệu rước chạy 3 vòng, “cướp nước” - các kiệu đua nhau tới cổng Tam Quan để dự đoán tình trạng mùa màng. Lễ hội chùa Dâu Lễ hội là cơ hội để tìm về Phật tổ linh thiêng, bên cạnh đó là tìm hiểu các nghi thức tín ngưỡng dân gian độc đáo, thể hiện lòng biết ơn đối với thần linh và những ước mơ về cuộc sống ấm no của người dân làm nông nghiệp. Bởi vậy không chỉ với người dân vùng Bắc Ninh, lễ hội chùa Dâu còn thu hút rất nhiều khách thập phương đến tham dự. Cách di chuyển đến chùa Dâu Chùa Dâu cách trung tâm thành phố Bắc Ninh khoảng 20km. Từ trung tâm Bắc Ninh bạn đi qua cầu vượt Bồ Sơn, đi thẳng theo quốc lộ 38, đến ngã tư Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân thì rẽ trái vào Lạc Long Quân đi khoảng 10km nữa là tới chùa Dâu. Hoặc để tích kiệm chi phí bạn có thể đi xe buýt tuyến 204 với lộ trình tại tỉnh Bắc Ninh là: Ngã tư Phú Thị - Đường 181 - Phố Sủi - Keo - Kim Sơn - Chùa Keo - Phố Toàn Thắng - Đức Hiệp - Xuân Lâm - Hà Mãn - chùa Dâu - Thanh Hoài - Tam Á - Phố Khám - Thị trấn Hồ. Bến xuống ở chợ Dâu, cách chùa Dâu 400m đi bộ. Lộ trình di chuyển đến chùa Dâu Kinh nghiệm cần biết khi tham quan chùa Dâu Khi tham quan chùa Dâu bạn cần chú ý những điều sau: - Đến cổng chùa (cổng Tam Quan) thì đi vào cửa phải, đi ra cửa trái, không được đi cửa giữa. - Giữ tâm ý trong sáng, mọi điều cầu ước nên giữ ý nguyện tốt đẹp, hướng thiện. - Đi lễ chùa cần ăn mặc kín đáo, lịch sự. Tránh mặc đồ màu mè, rườm rà, mặc váy kể cả váy dài. Tuyệt đối không được mặc áo hai dây, quần ngắn trên đầu gối, các trang phục hở hang. - Giữ gìn cảnh quan và không khí tôn nghiêm của chùa bằng cách không nói to, cười đùa, vứt rác bừa bãi, ngắt lá bẻ cành. - Không tự ý chạm, leo trèo, sờ vào các bức tượng của chùa. - Dâng lễ thành tâm, đơn giản, không cần quá cầu kỳ. Chỉ nên dâng hương hoa trà bánh thuần chay. Dâng hương và xếp lễ theo sự hướng dẫn của nhà chùa. - Vào mùa lễ hội, du khách kéo về đây rất đông, bạn nên đặt trước khách sạn Bắc Ninh để có thể tận hưởng trọn vẹn lễ hội diễn ra trong cả 2 ngày nhé. Chùa Dâu với niên đại lâu đời nhưng vẫn giữ gìn được nguyên vẹn các giá trị tôn giáo, tín ngưỡng đậm đà bản sắc dân tộc. Đây không chỉ là niềm tự hào của tỉnh Bắc Ninh - cái nôi Phật giáo Việt Nam mà còn là di sản vô giá của đất nước. Theo BestPrice Travel https://www.bestprice.vn/blog/diem-den-8/chua-dau-971.html

27/01/2026
Chùa Vĩnh Nghiêm – danh lam cổ tự của Bắc Giang
DI TÍCH - DI SẢN 30/01/2026
Chùa Vĩnh Nghiêm – danh lam cổ tự của Bắc Giang

Nhưng nhắc đến Bắc Giang, không thể không nói đến vẻ đẹp văn hóa tâm linh của nơi đây, đặc biệt là chùa Vĩnh Nghiêm, nơi được coi là chốn tổ của Thiền phái Trúc Lâm. Chùa Vĩnh Nghiêm có tên gọi khác là chùa Đức La (tên chữ là Vĩnh Nghiêm Tự), tọa lạc tại thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng. Đây là ngôi chùa cổ có từ thời Lý, đến thế kỷ XIII được Phật Hoàng Trần Nhân Tông tu bổ, xây dựng thành trung tâm Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm. Chùa có các khối kiến trúc chính: Cổng tam quan, Toà tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, Nhà tổ đệ nhất, Gác chuông, Nhà tổ đệ nhị, Hai dãy hành lang đông tây, Khu vườn tháp. Năm 1964 chùa được xếp hạng là di tích Lịch sử - Văn hoá cấp Quốc gia. Hiện tại, chùa lưu giữ nhiều hiện vật cổ như hệ thống tượng Phật, hoành phi câu đối, tranh, bia đá… Trong đó, nổi bật là 3.050 bản ván gỗ khắc chữ Hán và Nôm gồm các bộ kinh sách đạo Phật, sự nghiệp của các vị cao tăng và nhiều sách hướng dẫn chữa bệnh bằng các bài thuốc dân gian… Những bản mộc bản này được lưu giữ cẩn thận, chữ rất sắc nét, có giá trị nghệ thuật vô giá. Năm 2012, mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu khu vực châu Á – Thái Bình Dương thuộc chương trình Ký ức thế giới. Ngày 9/9/2013, Bộ VHTTDL đã công nhận Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ngày 23/12/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định công nhận chùa Vĩnh Nghiêm là Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt. Trải qua hơn 700 năm hình thành, chùa Vĩnh Nghiêm vẫn còn được bảo tồn nguyên vẹn, trở thành chốn văn hóa tâm linh linh thiêng ở Bắc Giang cho du khách thập phương tham quan, chiêm bái. Mộc bản lưu giữ tại chùa Vĩnh Nghiêm Theo TRUNG TÂM THÔNG TIN DU LỊCH https://vietnamtourism.gov.vn/post/28282

30/01/2026
Đền Cùng – Giếng Ngọc, điểm đến tâm linh đầu xuân ở Bắc Ninh
DI TÍCH - DI SẢN 23/01/2026
Đền Cùng – Giếng Ngọc, điểm đến tâm linh đầu xuân ở Bắc Ninh

Bên ngoài Đền Cùng. Ảnh: dangcongsan.vn. Ngày nay nơi đây là địa điểm thu hút đông đảo không chỉ người địa phương mà còn du khách thập phương về thăm quan, mong cầu sức khỏe, tình duyên, sự nghiệp… Bia Đền Cùng. Ảnh: dangcongsan.vn. Qua cổng tam quan Đền Cùng, du khách được chiêm ngưỡng quần thể kiến trúc cổ kính, hài hòa. Không gian đền thoáng đãng với nhiều cây cổ thụ rợp bóng mát cho khách viếng thăm. Giếng Ngọc nước trong như ngọc bích. Ảnh: dangcongsan.vn Từ trước đến nay, cả vào mùa hạn hán, nước Giếng Ngọc chưa bao giờ cạn. Vào những ngày mực nước hạ xuống thấp, du khách đến thăm viếng sẽ dễ dàng nhìn thấy ba “cụ cá thần” trong giếng. Cối đá cổ xưa được giữ nguyên trong Đền Cùng. Ảnh: dangcongsan.vn. Không ai trong làng Diềm biết chính xác cá này sống ở đây từ bao giờ. Người làng cho rằng, ba “cụ cá thần” là hóa thân của hai nàng công chúa Ngọc Dung và Thủy Tiên cùng một nàng hầu. Nhà chòi cổ. Ảnh: dangcongsan.vn. Đền Cùng là nơi thờ tự hai nàng công chúa triều Lý vốn có công lập làng và truyền nghề cho dân. Đến thời vua Bảo Thái đã cho dựng ngôi đền trên những cột đá, mà ngày nay vẫn còn lại chứng tích. Cá trong Giếng Ngọc. Ảnh: dangcongsan.vn. Những trận lụt năm 1957, 1971 đã làm nước tràn miệng giếng nhưng ba ông cá vẫn trụ tại đây mà không hề bơi đi nơi khác. Người dân trong làng cũng nhiều lần thả vào giếng một số loài cá và rùa, nhưng không lâu sau chúng đều chết hoặc bơi đi nơi khác. Nhiều cây cổ thụ trong Đền Cùng. Ảnh: Vy An/Vnexpress. Với những điều linh thiêng và những câu chuyện nhiệm màu được truyền qua bao thế hệ, du khách về với Đền Cùng – Giếng Ngọc không chỉ để cầu may trong năm mới mà còn muốn tự tay lấy nước giếng để thanh lọc cơ thể, làm mới tinh thần cho một năm nhiều niềm vui.  Theo iVIVU.com https://www.ivivu.com/blog/2022/12/den-cung-gieng-ngoc-diem-den-tam-linh-dau-xuan-o-bac-ninh/

23/01/2026
Điểm du lịch Di tích quốc gia đặc biệt chùa Bút Tháp
DI TÍCH - DI SẢN 29/01/2026
Điểm du lịch Di tích quốc gia đặc biệt chùa Bút Tháp

Chùa vốn được khởi dựng từ lâu đời, thời Trần là nơi trụ trì của Thiền sư Huyền Quang (vị tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm - Thiền phái Phật giáo mang sắc thái Việt Nam). Thời vua Lê Thần Tông (thế kỷ XVII), chùa là nơi trụ trì của thiền sư Chuyết Chuyết và thiền sư Minh Hành – người có công trùng tu và phát triển chùa thành trung tâm Phật giáo lớn với sự hưng công của Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và các Hoàng tử, Công chúa. Sau này, chùa được nhiều lần trùng tu qua triều Nguyễn nên hiện nay các công trình kiến trúc vẫn mang dấu ấn nghệ thuật thời Lê - Nguyễn. Chùa xây dựng theo kiến trúc “nội công ngoại quốc” quay hướng Nam, hướng của bát nhã, của trí tuệ, nhờ có trí tuệ mà chúng sinh mới đến bến bờ giải thoát. Tổng thể các công trình được bố trí đăng đối trên một đường Thần đạo, cân đối và hài hòa với  thiên nhiên gồm: Tam quan, Gác chuông, Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, Tích thiện am, Nhà trung, Phủ thờ, Hậu đường, hai bên là hai dãy Hành lang. Tổng thể các công trình kiến trúc của chùa Bút Tháp Gác chuông chùa Bút Tháp Đến với chùa Bút Tháp, du khách sẽ được hòa mình vào thiên nhiên với những công trình kiến trúc cổ kính và được trở về cõi Phật giúp cho tinh thần được thư thái và an yên. Trong chùa có hàng trăm tác phẩm điêu khắc gỗ, đá đạt trình độ nghệ thuật cao thể hiện các tích Phật, cảnh sinh hoạt đời thường, hoa lá, muông thú... Bức chạm Đăng khoa: Con Cò (Lộ) đồng âm với Lộ là con đường, hoa Sen (Liên)“Lộ Lộ Liên Hoa” là ẩn dụ lời chúc “Đường khoa cử thuận lợi, liên tiếp đỗ đạt”. Bức chạm Tước Lộc và Phong Hầu Chim sẻ (Tước), hươu (Lộc) cây Lựu biểu tượng đông con nhiều cháu, Khỉ (Hầu), Ong (Phong), cây đào tượng trưng cho trường thọ. Ý nghĩa của bức chạm thể hiện ước mong được thăng quan tiến chức, đông con nhiều cháu, đời đời hưởng phúc lộc. Đặc biệt, được chiêm ngưỡng Bảo vật quốc gia vô cùng quý giá gồm: Tượng Phật Bà nghìn mắt nghìn tay, ba pho tượng Tam Thế, tòa Cửu phẩm Liên hoa và bộ Hương án chạm rồng đều là những kiệt tác mỹ thuật Thế kỷ XVII. Cầu đá nối giữa Thượng điện và Tích Thiện Am Tòa Tích Thiện Am nơi đặt Bảo vật quốc gia Cửu phẩm liên hoa Bảo vật quốc gia Cửu phẩm liên hoa Cửu phẩm Liên Hoa (cối kinh) được công nhận là Bảo vật Quốc gia năm 2020, được đánh giá đẹp nhất Việt Nam. Cối kinh thể hiện 9 kiếp tu hành của nhà Phật với ý nghĩa vãng sinh về thế giới cực lạc của đức Phật A - Di - Đà. Tháp đá Báo Nghiêm Tháp Báo Nghiêm: được nhà sư Minh Hành cho xây dựng để thờ thầy của mình là Thiền sư Chuyết Chuyết vào năm 1647. Vào thời Nguyễn, vua Tự Đức thấy tháp đá giống như một cây bút khổng lồ vẽ lên trời xanh nên đổi tên là Chùa Bút Tháp. Tháp chính là biểu tượng cho vẻ đẹp của chùa Bút Tháp nói riêng và hình ảnh du lịch của tỉnh Bắc Ninh nói chung. Tượng “Quan âm thiên thủ thiên nhãn” Tượng “Quan âm thiên thủ thiên nhãn” – một kiệt tác của nghệ thuật điêu khắc Thế kỷ XVII. Tượng cao 3,7m, có 42 tay lớn và 958 tay nhỏ xòe tỏa như ánh hào quang, thể hiện đức Quan Âm từ bi cứu độ chúng sinh. Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam đã xác lập kỷ lục vào ngày 04/5/2006: Bảo tượng Bồ tát Quán Thế Âm Thiên thủ Thiên nhãn bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Nưm 2012, được công nhận là Bảo vật quốc gia. Bộ tượng Tam thế chùa Bút Tháp Bộ tượng Tam thế và Hương án tại tòa thượng điện là hai nhóm bảo vật quốc gia thể hiện được sự tinh tế trong mỹ thuật chạm khắc của nghệ nhân thế kỷ XVII. Du khách khi chiêm bái đều cảm nhận được những hoa văn trang trí mang triết lý của nhà Phật và những ước vọng ngàn đời của người Việt. Hương án chùa Bút Tháp Hương án chùa Bút Tháp là sự kết hợp giữa tinh thần Phật giáo (qua hình dáng tòa sen cách điệu) và biểu tượng vương quyền (qua đồ án rồng dày đặc). Kỹ thuật chạm tinh xảo, sinh động, thống nhất giữa 4 mặt với nhau, bố cục tinh tế, tạo cảm giác kết nối chuyển động của cả hệ thống đồ án. Những họa tiết đao lửa, mây lửa, mây mác sắc nhọn là đặc trưng của nghệ thuật thời kỳ Lê Trung Hưng. Khu vườn tháp chùa Bút Tháp Tháp Tôn Đức bằng đá, cao 5 tầng - nơi thờ Thiền sư Minh Hành Tháp Tôn Đức được Hoàng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc cho xây dựng vào năm 1660 để đặt xá lợi và tôn thờ đức cao tăng Minh Hành. Toàn bộ ngôi tháp được dựng bằng đá xanh gồm 5 tầng tháp và phần chóp mái với chiều cao hơn 11m. Năm 2009, trong quá trình trùng tu tháp đã phát lộ trong lòng tháp 2 cuốn kinh bằng đồng.  Kích thước sách rộng 14cm x 24,5cm. có niên đại năm 1660, là vật tùy táng cho thiền sư Minh Hành. Đây là những sách đồng rất hiếm và có niên đại cổ nhất được phát hiện ở Việt Nam. Khách tham quan chụp ảnh tại Gác chuông chùa Bút Tháp Lễ hội chùa Bút Tháp diễn ra vào ngày 23 và 24 tháng Ba âm lịch, thu hút hàng chục nghìn du khách đến lễ Phật và tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao như hát quan họ, thả chim bồ câu, cờ tướng, múa rối nước… Với những giá trị độc đáo, chùa Bút Tháp được Bộ Văn hóa- Thông tin xếp hạng Di tích cấp Quốc gia từ năm 1962, đến năm 2013 được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích Quốc gia Đặc biệt và vào năm 2018, chùa đã được UBND tỉnh Bắc Ninh công nhận là điểm du lịch. Nguồn: Bảo tàng Bắc Ninh Theo Trung tâm Văn hoá và Xúc tiến Du lịch Bắc Ninh https://dulichbacgiang.gov.vn/kham-pha/di-tich-lich-su-van-hoa/diem-du-lich-di-tich-quoc-gia-dac-biet-chua-but-thap-1111.html 

29/01/2026
Đình làng Đình Bảng, nơi thờ phụng các vị nhân thần thời Hùng Vương
DI TÍCH - DI SẢN 21/01/2026
Đình làng Đình Bảng, nơi thờ phụng các vị nhân thần thời Hùng Vương

Đình Bảng là một trong những ngôi đình có kiến trúc đẹp nhất còn tồn tại đến ngày hôm nay. Người xưa đã có câu:     Thứ nhất là đình Đông Khang,     Thứ nhì đình Bảng, thứ ba đình Diềm. Đình Đông Khang đã bị tàn phá, đình Diềm trước có năm gian hai chái nay chỉ còn ba gian hai chái. Chỉ còn đình Bảng là tương đối nguyên vẹn. Đình làng Đình Bảng được xây dựng năm 1700 thời Hậu Lê kéo dài ba mươi sáu năm đến năm 1736 mới hoàn thành. Người hưng công là quan Nguyễn Thạc Lương, người Đình Bảng (từng làm trấn thủ Thanh Hóa) và vợ là Nguyễn Thị Nguyên, quê ở Thanh Hóa. Ông bà đã mua gỗ lim, một loại gỗ quý và bền đem về cúng để dựng ngôi đình. Kiến trúc đặc sắc của đình Bảng Đình Bảng gồm tòa đại đình đồ sộ nối với hậu cung phía sau theo dạng mặt bằng hình chuôi vồ, còn gọi theo dạng chữ Nho là kiểu "chữ đinh" 丁. Toà đại đình dài 20 m, rộng 14 m, cao 8 m, phần mái rủ xuống đẹp đẽ chiếm tới 5,5 m tổng chiều cao. Vẻ độc đáo của ngôi đình thể hiện ở không gian mái đình tỏa rộng, nét đồ sộ của những đầu đao, quy thức thích nghi với khí hậu gió mùa, và trang trí điêu khắc dày đặc. Đình Bảng có kết cấu hệ kèo chồng rường, gồm bảy gian hai chái (gian phụ). Đình được dựng trên nền cao có thềm bó bằng đá xanh. Đặc biệt, đình mang kiến trúc nhà sàn với sàn gỗ bề thế cao 0,7 m so với mặt nền, sáu hàng cột ngang và mười hàng cột dọc bằng gỗ lim có đường kính từ 0,55m (với cột con) đến 0,65m (với cột mẹ) được kê trên các tảng đá xanh. Nóc đình cao tới 8 mét với tỷ lệ mặt đứng của phần mái lớn hơn phần thân (mái chiếm hai phần ba chiều cao của đình) tạo nên cảm giác bề thế. Đình lợp ngói mũi hài và có các đầu đao vươn xa nhất trong các công trình kiến trúc gỗ cổ truyền tại Việt Nam. Đình có cửa bức bàn bao quanh. Nội thất đình được trang trí với rất nhiều chủ đề phong phú như rồng, phượng, tùng, mai, trúc, bầu rượu, thanh gươm. Đặc biệt, hình tượng rồng chiếm một tỷ lệ lớn với số lượng khoảng 500 hình. Gian chính điện (gian giữa) có sàn thấp, lát gạch lá nem. Gian này thấp nhất, thuật ngữ là "lòng thuyền". Sàn ván các gian hai bên cao dần, tổng cộng là hai cấp, phân biệt địa vị của các hương chức khi họp việc làng để người ngồi "chiếu trên", kẻ ngồi "chiếu dưới" tùy theo vai vế trong làng. Bức cửa võng và tấm trần che của gian chính điện được chạm trổ công phu. Trên ván nong, phía dưới bao lơn của hàng cột cái và cột con có một bức chạm hình "Bát mã quần phi" (Bầy ngựa tám con đang phi) với các đáng điệu rất sống động. Trong đình có nhiều bức hoành phi, câu đối được sơn son thếp vàng.  Đình Báng có kiến trúc bề thế, hòa hợp với thiên nhiên Việt Nam Cũng như nhiều đình làng Việt Nam dựng vào cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18, đình Báng có kiến trúc bề thế, hòa hợp với thiên nhiên Việt Nam. Đình có mái dài, cao, các đầu đao uốn cong vút, lợp ngói mũi hài dày bản, rộng khổ. Góc mái tức "tàu đao" làm cong uốn ngược.  Tòa đại đình được xây trên nền cao ba bậc đá xanh bao quanh Tòa đại đình được xây trên nền cao ba bậc đá xanh bao quanh. Bốn mặt bưng kín bằng ván có thể tháo mở. Đại đình gồm 6 hàng chân cột với 60 cột cái bằng gỗ lim đường kính từ 0,55 đến 0,65 m đặt trên đá xanh, giúp công trình thêm vững chắc. Trên 28 chiếc kẻ hiên là 28 đầu rồng, mỗi đầu mang một vẻ sinh động. Có con rồng nhỏ nhắn, hai chân nắm râu mép, hình dáng ngộ nghĩnh, tươi cười; có con mang nét oai phong, hùng dũng; con lại vô cùng hiền từ... Trước cửa bước vào hai con nghê trong tư thế chầu nhau, căng đầy sức sống và vẻ mặt sinh động. Ở chính điện là một bức cửa võng lớn, chia thành bảy lớp, chín ô theo kiểu lồng hộp, trang trí dày đặc với các chữ triện, các con vật như rồng, phượng, ngựa, sư tử, mây, các cây trong bộ tứ quý... Đình mang kiến trúc nhà sàn với sàn gỗ cao 0,7 m so với mặt nền gồm 6 hàng cột ngang và 10 hàng cột dọc. Không gian bên trong Đại đình hình chữ nhật, dài 20 m, rộng 14 m. Đình có kết cấu hệ kèo chồng rường, gồm bảy gian hai chái (gian phụ). Nóc đình cao tới 8 m với tỷ lệ mặt đứng của phần mái lớn hơn phần thân (mái chiếm hai phần ba chiều cao của đình) tạo nên cảm giác bề thế. Gian chính điện có sàn thấp, gọi là “lòng thuyền”. Sàn ván các gian hai bên cao dần, tổng cộng là hai cấp, phân biệt địa vị của các hương chức khi họp việc làng để người ngồi “chiếu trên”, kẻ ngồi “chiếu dưới” tùy theo vai vế trong làng. Bức cửa võng và tấm trần che của gian chính điện được chạm trổ công phu. Đình thờ các vị thành hoàng gồm Cao Sơn đại vương (thần Núi), Thủy Bá đại vương (thần Nước) và Bách Lệ đại vương (thần Đất) đồng thời thờ sáu vị có công lập lại làng vào thế kỷ 15. Tất cả hệ kèo, cột đều được chạm khắc, các chi tiết không giống nhau Tất cả hệ kèo, cột đều được chạm khắc, các chi tiết không giống nhau. Nghệ thuật điêu khắc thể hiện xu hướng của thời điểm cuối thế kỷ 17, đầu 18 là nghệ thuật cung đình lấn át nghệ thuật dân gian.  Trên các cấu kiện đều chạm khắc hình chữ triện, rồng với nhiều chủ đề như lưỡng long vờn mây Trên các cấu kiện đều chạm khắc hình chữ triện, rồng với nhiều chủ đề như lưỡng long vờn mây, lưỡng long chầu nhật, ngũ long tranh châu, lục long ngự thiên, kèm theo đó là hình con phượng, nghê và hoa lá...  Hình rồng chiếm số lượng lớn với khoảng 500 hình Hình rồng chiếm số lượng lớn với khoảng 500 hình. Con rồng mang nhiều lớp nghĩa, như biểu hiện cho mây, mưa và ước vọng mùa màng thuận lợi của người nông dân. Rồng cũng biểu hiện cho uy quyền của bậc đế vương, đặt ở đình càng tăng thêm vị thế của Thành hoàng làng.  Đình Đình Bảng có tất cả 28 kiểu chạm khắc bộ long Theo các cụ cao niên trong làng, đình Đình Bảng có tất cả 28 kiểu chạm khắc bộ long và hàng chục kiểu chạm khắc bộ ly, quy, phượng, không một bộ nào giống nhau về hình thể cũng như kích cỡ. Những đường nét được chạm khắc tinh xảo đến từng chi tiết nhỏ. Những đường nét được chạm khắc tinh xảo đến từng chi tiết nhỏ. Nét tinh tế trong nghệ thuật điêu khắc ở đình Đình Bảng khiến bất cứ ai đến đây cũng phải khâm phục bàn tay tài hoa của cha ông.   Hoa văn trang trí trên các cấu kiện kiến trúc khác rất đa dạng, chạm trổ tinh vi, chau chuốt, hài hoà. Kết cấu bộ khung đình khá vững chắc, gắn với nhau bằng các loại mộng theo lối chồng giường "Thượng tam, hạ tứ". Mỗi bức chạm khắc ở đình là một tác phẩm nổi tiếng độc nhất vô nhị. Càng chiêm ngưỡng, càng thêm bị cuốn hút: Bức "Bát mã quần phi" thể hiện sự sống động, thấy được sự phóng khoáng và nét thanh bình của mảnh đất này qua hình ảnh và tư thế của từng chú ngựa. Bức Lưỡng nghê phục chầu, con đực, con cái, mỗi con một vẻ. Những bức chạm rồng tuyệt xảo: Long vân đại hội, Ngũ long tranh châu, Lục long ngự thiên...từng bức, từng bức gợi tả bao điều. Suốt hơn 200 năm kể từ khi khởi dựng, cho đến nay đình Đình Bảng đã đi vào đời sống tình cảm và là niềm tự hào của người xứ Bắc cũng như nhân dân cả nước. Theo Travel News - Trang tin Du lịch https://www.didulich.net/van-hoa/dinh-lang-dinh-bang-noi-tho-phung-cac-vi-nhan-22745  

21/01/2026
Ghé thăm Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh đậm chất châu Âu cổ kính
DI TÍCH - DI SẢN 06/02/2026
Ghé thăm Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh đậm chất châu Âu cổ kính

Giới thiệu về Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh Nhà thờ Chánh tòa Bắc Ninh tọa lạc tại đường Ngô Gia Tự, Ninh Xá, tỉnh Bắc Ninh. Vị trí nhà thờ đắc địa ngay giữa trung tâm thành phố Bắc Ninh và chỉ cách thành cổ Bắc Ninh 300m. Năm 1889, Đức cha Antonio Lễ – Giám mục tiên khởi đã chọn mua mảnh đất tại đây và bắt đầu cho xây dựng nhà thờ cùng với Tòa Giám Mục. Sau 3 năm xây dựng, đến năm 1892 Nhà thờ Chánh tòa Bắc Ninh chính thức được khánh thành. Từ đó đến nay, đây là nơi tập trung sinh hoạt thường xuyên tín ngưỡng tôn giáo của giáo dân Bắc Ninh và các khu vực xung quanh.  Nhà thờ Chánh tòa Bắc Ninh Trong những năm chiến tranh ác liệt, nhiều công trình lịch sử bị tàn phá nặng nề. Vậy nhưng trải qua hơn một trăm năm thăng trầm, nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh vẫn sừng sững vững vàng vượt qua bom đạn, rêu phong của năm tháng và trở thành biểu tượng cho giáo phận Kinh Bắc, là “di sản Đức Tin” lưu giữ những minh chứng lịch sử hùng hồn của dân tộc. Nhờ thế mà dù gặp biết bao khó khăn trong đời sống đức tin, nhưng niềm tin sắt son của giáo phận Bắc Ninh vẫn mãi kiên vững không lay.  Một bức ảnh cổ về Nhà thờ Chánh tòa Bắc Ninh xưa kia còn sót lại Kiến trúc độc đáo của Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh được xây dựng theo lối kiến trúc Baroque độc đáo của Ý được hình thành vào thế kỉ XVI. Không gian nhà thờ được xây dựng theo cấu trúc hình chữ thập và tuân theo quy tắc đối xứng đặc trưng của kiến trúc nhà thờ thời kỳ Phục Hưng. Nhà thờ có chiều dài khoảng 45m, chiều ngang rộng 12m được tạo thành từ 12 cột chính hình chữ nhật cao hai tầng tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ, chia đều hai hàng mỗi bên sáu chiếc. Nhà thờ Chánh tòa Bắc Ninh mang đậm lối kiến trúc Baroque độc đáo của Ý Nhìn từ xa, bạn sẽ cực kì ấn tượng với ngoại hình bên ngoài của Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh. Điểm nhấn đầu tiên là mặt tiền nhà thờ với hai ngọn tháp cao 22m. Ngọn tháp này được tạo thành từ 4 khối hình hộp xếp chồng lên nhau và trên cùng là tháp chóp. Có ý kiến cho rằng hai ngọn tháp này tượng trưng cho liền anh và liền chị đang đứng nâng chiếc nón quai thao. Phía trong hai ngọn tháp có treo ba quả chuông bằng đồng được đúc từ khi xây dựng nhà thờ. Suốt hơn một thế kỉ qua, tiếng chuông nhà thờ Bắc Ninh cao vút quen thuộc vẫn vang lên đều đặn lan tỏa khắp các phố phường. Tiếng chuông ấy đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tín ngưỡng nói riêng và trên miền quê hương Quan họ nói chung. Kiến trúc mặt tiền của nhà thờ Phía mặt trước nhà thờ ta có thể dễ dàng nhận ra rất nhiều hình ảnh tượng trưng về Đức Mẹ. Trên cùng là biểu tượng của Mẫu Tâm với hình trái tim kết hợp cùng vương miện. Ngay bên dưới đó là hình ảnh triều thiên cùng bốn bông hoa tượng trưng cho Đức Mẹ Mân Côi. Hai bên cạnh chạm khắc hai huy hiệu Giám mục được cho là của Đức Cha An-tô-ni-ô Cô-lô-mơ Lễ Lễ và Ðức cha Mac-xi-mi-nô Van-lát-cô Khâm. Phía dưới là bốn bông hồng được khắc thêm trong dịp kỉ niệm nhà thờ tròn 100 tuổi, biểu tượng cho lòng sùng mến Đức Mẹ. Dưới sảnh đường nhà thờ bố trí ba cửa vào, một cửa lớn ở chính diện và hai cửa phụ nhỏ hai bên. Điều này khá tương đồng với cổng làng Tam quan ở các làng quê Việt Nam. Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh gồm ba lối vào, một lối đi chính và hai lối đi phụ hai bên Đi vào bên trong nhà thờ, có lẽ bạn sẽ còn ấn tượng hơn nữa với không gian nơi đây. Một không gian rộng lớn, thoáng đãng và tràn ngập ánh sáng lung linh mỗi buổi sớm khi nắng mai chiếu xuống. Gian cung thánh chính là trung tâm nhà thờ với thiết kế vô cùng độc đáo và tinh tế với hàng ngàn mảnh gỗ Hương đỏ xếp xen kẽ nhau. Mái trần nhà thờ được xây bằng gỗ dồi theo kiểu đan mắt cáo. Hai bên là các bức tranh kính khắc họa chân dung 4 vị Thánh sử và diễn tả 20 mầu nhiệm kinh Mân côi. Điểm nhấn của gian cung thánh chính là cây Thánh giá được làm bằng gỗ hương đỏ lớn cùng tượng “Chịu nạn” được trạm trổ bằng gỗ Pơmu nguyên khối. Bên trên gác đàn có 12 bức phù điêu vẽ 12 nhà thờ giáo xứ đầu tiên được thiết lập khi giáo phận mới được khai sinh vào năm 1883.  Không gian toàn bộ bên trong cung thánh Phía cuối nhà thờ là Chính toà - nơi đặt ngai Giám mục thể hiện cho sự hiện diện diện và cai quản của Đấng Bản Quyền giáo phận. Bàn Thánh, Ghế và bục đều được làm từ gỗ Hương đỏ chạm khắc tinh tế tượng trưng cho sự giao hoà đất trời và sự trường tồn vĩnh cửu của Đạo Chúa.  Bên trái gian cung thánh là bức tượng Nữ Vương Thánh Mân Côi cổ nhất Giáo phận. Theo tài liệu ghi chép lại, bức tượng này được các Cha Dòng Đa Minh Tây Ban Nha tặng nhà thờ nhân dịp khánh thành năm 1892. Dáng vẻ mềm mại, dịu dàng làm cho bức tượng thêm sống động và mang đậm hơi thở của đời sống Đức Tin. Đối diện sang phía bên phải gian cung thánh là tượng Thánh Giuse Hoàng Lương Cảnh, trong tay cầm cành thiên tuế. Thời vua Minh Mạng ngài đã can trường giữ vững Đức tin qua việc khẳng định “Thiên Chúa là thượng phụ” và chịu phúc tử đạo vào ngày mồng 5 tháng 9 năm 1838 tại pháp trường Cổ Mễ. Đến ngày 27 - 5 - 1900, Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII suy tôn Ngài lên bậc Chân Phước của Giáo Hội. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn Ngài lên bậc Hiển Thánh. Khu vực Chính tòa với điểm nhấn là cây thánh giá lớn làm từ gỗ sồi Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh – điểm đến không thẻ bỏ qua Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh đã trải qua một lần trung tu vào năm 1990 nhưng nơi đây vẫn còn nguyên vẹn nét kiến trúc cổ kính vốn có. Ngày nay, nơi đây điểm sinh hoạt tôn giáo thường xuyên của các giáo dân. Vào mỗi chủ nhật hàng tuần, mọi người đều cùng tới nhà thờ và cầu nguyện. Ngày nay, nơi đây trở thành một điểm đến của rất nhiều giáo dân trong khu vực cũng như khách du lịch và các bạn trẻ tới tham quan khám phá. Một buổi sinh hoạt tại Nhà thờ Chính tòa Bắc Ninh Và chắc chắn không thể thiếu trong dịp lễ Noel rồi Theo Lữ hành Việt Nam https://luhanhvietnam.com.vn/du-lich/ghe-tham-nha-tho-chinh-toa-bac-ninh.html

06/02/2026
Miếu Đại Trung - Biểu tượng của truyền thống võ học Kinh Bắc
DI TÍCH - DI SẢN 02/02/2026
Miếu Đại Trung - Biểu tượng của truyền thống võ học Kinh Bắc

Trong hệ thống di tích thờ võ quan ở Bắc Ninh, miếu Đại Trung ở khu phố Dũng Quyết (còn gọi làng Guột, phường Quế Võ) được xem như một báu vật. Đây là nơi tôn vinh những bậc võ tướng danh thần thời Lê-Trịnh, đồng thời là trung tâm gìn giữ mạch nguồn truyền thống võ học Kinh Bắc. Con cháu dòng họ Nguyễn Đức tìm hiểu truyền thống lịch sử của cha ông tại miếu Đại Trung.   Khởi dựng năm 1660 và hoàn thành năm 1708, miếu Đại Trung là một trong những di tích đặc sắc từ thời Lê Trung Hưng. Miếu thờ các võ tướng kiệt xuất thuộc dòng họ Nguyễn Đức - một dòng họ nổi danh bậc nhất Kinh Bắc với nhiều thế hệ kế tục truyền thống võ công hiển hách. Đó là: Hùng Quận công Nguyễn Đức Điện (đời thứ 7); Cẩm Quận công Nguyễn Đức Thiện (đời thứ 8); Ân Quận công Nguyễn Đức Nhuận (được phong Đại Vương, đời thứ 9); Quế Quận công Nguyễn Đức Uyên và Chiêm Quận công Nguyễn Đức Tự (đời thứ 10); Nhậm Quận công Nguyễn Đức Dật và Giao Quận công Nguyễn Đức Ôn (đời thứ 11). Các vị quận công này đều là võ quan khí phách hơn người, giỏi cầm quân, tinh thông mưu lược, không chỉ lập công cho triều đình mà còn giúp dân phòng, chống thiên tai. Đặc biệt, Ân Quận công Nguyễn Đức Nhuận sau khi hy sinh trong một trận đánh ở miền Trung đã được triều đình truy phong là Đại Vương, rồi "Trung đẳng phúc thần" và lập miếu đường tế lễ thờ cúng tại xã Dũng Quyết. Hằng năm, triều đình sai quan khâm sai sắm đủ lễ vật về làm chủ tế, đồng thời miễn sưu thuế cho người dân trong xã để lấy tiền đó chăm lo thờ cúng. Tên gọi “Miếu Đại Trung” cũng là triều Lê ban tặng như một biểu tượng cho lòng trung quân ái quốc. Trải qua gần 400 năm, miếu Đại Trung vẫn giữ được cấu trúc vững chãi, cơ bản nguyên vẹn. Công trình rộng 1.500 m², kết cấu hình chữ Đinh, gồm 5 gian tiền tế và hậu cung. Nơi đây còn lưu giữ nhiều hiện vật quý phản ánh tinh thần thượng võ Kinh Bắc như: Sắc phong các triều đại, gia phả, hoành phi, câu đối, văn tế… Nhiều câu chuyện cảm động về thân thế, sự nghiệp, khí tiết và chiến công của các quận công vẫn được lưu truyền và gắn bó mật thiết với tài liệu, hiện vật đang được gìn giữ trong di tích. Hương sư Nguyễn Huy Trạc, người làng Guột từng có bài thơ vịnh miếu Đại Trung: “Giữa khu cây cối tựa rừng thông/ Rực rỡ một tòa Miếu Đại Trung/... Oanh liệt năm xưa còn để dấu/ Kẻ gian qua đó phải sờn lòng”. Theo các nguồn tài liệu lịch sử, từ thời Lê Trung Hưng, dòng họ Nguyễn Đức nối đời làm tướng, có đến 18 người được phong quận công. Tuy nhiên, khi khảo cứu gia phả “Quế Ổ Nguyễn Đức tộc phả”, chuyên gia Hán Nôm Nguyễn Phạm Bằng, cán bộ Phòng Quản lý di sản (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã thống kê được tới 20 vị quận công. Hơn nữa, cuốn gia phả còn bổ sung nhiều thông tin chi tiết khi nghiên cứu về tiểu sử, sự nghiệp, hành trạng các vị quận công mà chính sử ghi chép vắn tắt, sơ lược hoặc còn khuyết thiếu. Điều này cũng minh chứng cho thế lực và vai trò đặc biệt của họ Nguyễn Đức trong lịch sử Kinh Bắc. Nơi phát tích dòng họ Nguyễn Đức là thôn Quế Ổ (xã Chi Lăng). Theo các nguồn tài liệu lịch sử, từ thời Lê Trung Hưng, dòng họ này nối đời làm tướng, có đến 18 người được phong quận công. Tuy nhiên, khi khảo cứu gia phả “Quế Ổ Nguyễn Đức tộc phả”, chuyên gia Hán Nôm Nguyễn Phạm Bằng, cán bộ phòng Quản lý di sản (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã thống kê được tới 20 vị quận công. Hơn nữa, cuốn gia phả còn bổ sung nhiều thông tin chi tiết khi nghiên cứu về tiểu sử, sự nghiệp, hành trạng các vị quận công mà chính sử ghi chép vắn tắt, sơ lược hoặc còn khuyết thiếu. Điều này cũng minh chứng cho thế lực và vai trò đặc biệt của họ Nguyễn Đức trong lịch sử Kinh Bắc. Ngày nay, dòng họ Nguyễn Đức ở làng Guột có khoảng 230 hộ với hơn 500 suất đinh. Các thế hệ con cháu vẫn duy trì, tiếp bước truyền thống hiếu học vẻ vang. Ngoài hai tiết Xuân tế (10/2 âm lịch) và Thu tế (11/9 âm lịch), hằng năm, vào dịp Quốc khánh 2/9, dòng họ còn tổ chức lễ trao thưởng cho con cháu dòng họ đạt thành tích xuất sắc trong học tập tại miếu Đại Trung. Ông Nguyễn Đức Vệ, hậu duệ đời thứ 19 cho biết: “Miếu Đại Trung không chỉ là nơi thờ tự mà còn là chỗ dựa tinh thần, nhắc nhở con cháu giữ gìn kỷ cương, gia phong, sống đúng pháp luật và nghĩa tình”. Năm 1992, miếu Đại Trung được xếp hạng di tích quốc gia. Trải qua thời gian, di tích luôn được quan tâm tu bổ, bảo tồn nguyên vẹn giá trị và kiến trúc nghệ thuật, trở thành nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của Nhân dân. Với tầm vóc lịch sử và giá trị văn hóa đặc sắc, giới nghiên cứu, con cháu dòng họ Nguyễn Đức và Nhân dân địa phương đều chung nguyện vọng, mong tỉnh Bắc Ninh sớm lập hồ sơ đề nghị công nhận miếu Đại Trung là di tích quốc gia đặc biệt. Tham luận tại Hội thảo khoa học về truyền thống võ lược tỉnh Bắc Ninh, nhà nghiên cứu Trần Văn Lạng, nguyên Giám đốc Bảo tàng Bắc Giang từng đề xuất: Cần xem xét đề nghị ghi danh cả những yếu tố di sản văn hóa phi vật thể về truyền thống thượng võ liên quan đến miếu Đại Trung và cộng đồng làng Guột. Đây là mảnh ghép quan trọng để khẳng định Bắc Ninh - vùng đất ngàn năm văn võ song toàn, hài hòa giữa trí tuệ và sức mạnh. Hằng năm, miếu Đại Trung đón nhiều đoàn khách trong nước và quốc tế đến tham quan, nghiên cứu. Sức hút ấy chứng tỏ di tích không chỉ là chứng tích lịch sử của dòng họ Nguyễn Đức, mà còn trở thành biểu tượng của cả một vùng đất giàu khí phách, nơi tinh thần võ lược gắn liền với lòng yêu nước, trung quân, hiếu nghĩa. Trong bối cảnh hội nhập, việc bảo tồn và phát huy giá trị miếu Đại Trung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa góp phần giáo dục truyền thống, vừa hun đúc bản lĩnh, niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ. Theo Báo Bắc Ninh https://baobacninhtv.vn/bg2/dulichbg/mieu-dai-trung-bieu-tuong-cua-truyen-thong-vo-hoc-kinh-bac-postid424813.bbg

02/02/2026