Cao Bằng - Cao Bằng

Cao Bằng

Cao Bằng
Bài viết nổi bật
Di tích lịch sử văn hóa chùa Đống Lân
DI TÍCH - DI SẢN 26/01/2026
Di tích lịch sử văn hóa chùa Đống Lân

Chùa Đống Lân. Chùa Đống Lân nằm trên gò Đống Lân (tiếng Tày là Đoỏng Lân), ở phía tây bắc thành phố Cao Bằng. Nguồn gốc tên “Đống Lân” có nhiều giả thiết, gắn với những sự tích lịch sử qua nhiều thời kỳ như sự tích Thục Phán tổ chức cuộc thi “Chín chúa tranh vua” (có nhiều địa danh khác gắn với sự tích này như: Cánh đồng Tổng Chúp, cây đa Cao Bình, đôi guốc đá ở Bản Thảnh, thuyền úp ở Khau Lừa). Đống Lân là nơi chúa đi lấy trống đồng về đến đây mệt ngủ say, chuột cắn dây trống, trống lăn xuống đồi kêu vang cả một vùng, các chúa khác tưởng chúa đi lấy trống đã thắng nên bỏ dở cuộc thi nên không ai thắng. Tổng Lằn là trống lăn, gọi chệch là Đống Lân. Có giả thiết Đống Lân là chùa nằm trên gò con Lân. Dưới thời nhà Lý (cuối thế kỷ XI), chùa Đống Lân được xây dựng để thờ Phật. Từ năm Tân Hợi niên hiệu Càn Thống 19 nhà Mạc, hoàng hậu nhà Mạc cho xây chùa theo hình chữ đinh, có hai bên hành lang và hậu đường, tăng phòng. Sau chùa là Ly cung của nhà Mạc. Chùa là nơi để hoàng hậu, công chúa tụng kinh niệm Phật. Trước khi chùa được xây dựng, tại gò Đống Lân có đền thờ Trần Quý, Trần Kiên. Theo “Cao Bằng thực lục” có ghi chép nhiều chi tiết về nguồn gốc và tài năng đặc biệt của anh em Trần Quý, Trần Kiên. Cha của hai ông là Trần Triệu vì lấy được vợ tiên nên hai con trai được truyền cho nhiều phép lạ. Khi đến tuổi trưởng thành, mẹ tiên phải quay về trời, cha cũng bỏ vào núi cầu học đạo tiên, hai anh em Trần Quý, Trần Kiên ghi nhớ lời dặn dò của cha mẹ, mang kiếm đi khắp trong vùng tìm diệt yêu quái, trừ hại cho dân. Nhớ ơn công đức hai chàng trai, nhân dân lập miếu xuân thu phụng tự. Hai vị ấy, trải qua các triều vua đều có sắc phong. Đến triều Lê, Trần Kiên được phong làm Cai Cộng Đại Vương, hạ đẳng thần; Trần Quý là Đống Lân Đại Vương, Trung đẳng thần. Trải qua biến cố của lịch sử, chùa Đống Lân nhiều lần bị tàn phá, hư hại nặng, sau đó được tu sửa. Năm Thiệu Trị (1841-1847) nhà Nguyễn, ngôi chùa được dựng lại toàn bộ. Nơi thờ Trần Quý - Trần Kiên được thờ riêng ở một ngôi miếu nhỏ sát hành lang phía bên phải chùa, còn thờ phật ở gian chính điện. Thời kháng chiến chống Pháp, năm 1950, chùa một lần nữa bị tàn phá. Ngoài ra, theo nguồn tư liệu cung cấp của một số cụ cao tuổi ở xã Hưng Đạo, trước đây trong chùa còn có bát hương thờ Thạch Sanh. Đây là một nhân vật trong truyền thuyết của người dân tộc Tày. Thạch Sanh chém chết chằn tinh, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Ngày 15/1/1997, chùa được UBND tỉnh cấp Bằng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Năm 2004, chùa được nhà nước cấp vốn đầu tư tôn tạo ngôi tam bảo, bổ sung nhiều tượng Phật, cải tạo khuôn viên chùa. Tuy nhiên, kiến trúc ban đầu của chùa không còn được giữ lại nguyên vẹn. Các hiện vật như: chuông, tượng phật, câu đối…, từ xưa không còn giữ được. Chỉ có những hiện vật mới được các phật tử cung tiến sau này. Chùa Đống Lân được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 1997. Chùa Đống Lân hiện nay có khuôn viên khá rộng. Cổng tam quan được xây dựng vững chãi, trang trọng. Nhìn từ ngoài vào thấy dòng chữ “Từ bi”, nhìn từ trong ra thấy dòng chữ “Hỷ xả”. Chùa gồm nhà thờ chính với 5 gian tiền đường và một gian chính điện. Ngoài ra còn có một nhà thờ tổ (3 gian). Mái chùa lợp ngói máng, có trang trí lưỡng long chầu nguyệt. Từ sân chùa phải qua 9 bậc thềm mới lên đến lớp kiến trúc đầu tiên là tiền đường (nhà bái đường). Các cửa đều xây theo hình cuốn vòm. Tiền đường rộng rãi, cao thoáng, gồm 5 gian. Gian giữa đặt một bệ thờ có bày tượng phật quan âm nghìn mắt, nghìn tay. Gian bên phải là ban thờ Đức Thánh Trần Quý - Trần Kiên và đặt tượng Đức ông. Gian bên trái là ban thờ Thạch Sanh. Giữa bái đường và chính điện có một khoảng cách quá cảnh là một khoảng trống dùng để lấy ánh sáng. Gian chính điện (gian tam bảo) có hai lớp bệ thờ. Lớp cao nhất giáp với mái chùa đặt 3 pho Tam thế tượng trưng cho chư Phật thuộc về 3 đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Ba pho Tam thế có kích thước và hình dáng giống nhau được đặt ngồi trên tòa sen. Lớp bệ thờ thứ hai có 3 pho tượng cùng dãy gọi là Di đà tam tôn. Ngồi giữa là tượng Phật A di đà được tạc khá lớn. Hai bên là các tượng Bồ tát, tượng Thánh tăng, được sắp thành hàng từ thấp lên cao, uy nghi, trang nghiêm. Trên hai cột chính của gian chính điện có hai câu đối: Thiên niên công đức truyền tam bảo Nhất niệm minh tâm tự cửu thiên Tạm dịch: Ngàn năm công đức truyền tam bảo Một cái niệm thấu chín tầng mây Trong sân chùa có đặt tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát bằng cẩm thạch trắng cao 3m tay cầm bình nước cam lộ. Phía sau nhà thờ chính là điện thờ mẫu với ba ban thờ: ban Thánh mẫu (chính điện), ban Sơn trang, ban Trần Triều. Phía trên điện thờ chính có hình tuợng đôi Thanh xà - Bạch Xà vắt ngang. Năm 2007, được sự nhất trí của UBND tỉnh, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cắt cử sư về trụ trì tại chùa, phục vụ tự do tín ngưỡng của nhân dân. Chùa là nơi để các tín đồ Phật giáo nhiều nơi trong tỉnh đến lễ Phật vào ngày mùng Một, ngày Rằm hằng tháng. Hội chùa vào ngày mùng 8 tháng Giêng âm lịch hằng năm với nhiều hoạt động: tụng kinh niệm Phật, xóc quẻ cầu phúc, cầu tài, thắp hương hái lộc, tổ chức các trò chơi dân gian…, thu hút khách thập phương đến trẩy hội đông vui. Theo Báo Cao Bằng https://baocaobang.vn/-32005.html

26/01/2026
Dinh thự dòng họ Nông – di sản quý giá tại Cao Bằng
DI TÍCH - DI SẢN 06/02/2026
Dinh thự dòng họ Nông – di sản quý giá tại Cao Bằng

Dinh thự dòng họ Nông gắn với một giai đoạn lịch sử quan trọng của tỉnh Cao Bằng. Đây không chỉ là công trình kiến trúc nghệ thuật - văn hoá mà còn là di tích gắn liền với quá trình đấu tranh bảo vệ lãnh thổ, biên cương tại Bảo Lạc. Công trình vốn thuộc về dòng họ Nông ở Bảo Lạc - là dòng họ Thổ ty thế tập dưới triều Nguyễn, có nhiều đóng góp với nước, với dân và dòng họ, góp phần giữ gìn biên cương, chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Trước kia Dinh thự dòng họ Nông nằm trong một khuôn viên rộng, có 2 cây dã hương cổ thụ hơn 100 tuổi trước cổng và gồm 2 nhà chính (nhà trong và nhà ngoài). Nguồn: UBND huyện Bảo Lạc Giữa thế kỷ XVIII, châu Bảo Lạc do Thổ ty Nông Văn Bật cai quản. Thời Tây Sơn, con của Nông Văn Bật là Nông Văn Liêm thế tập. Đến thời Nguyễn, sau khi Nông Văn Liêm và con trưởng là Nông Văn Trang mất, người con thứ hai là Nông Văn Vân giữ chức Tri châu Bảo Lạc. Năm Canh Ngọ 1870, Thổ ty Bảo Lạc Nông Hồng Thạc qua đời, thế hệ kế tiếp của chúa Nông Hồng Thạc là các con Nông Hồng Ân, Nông Hồng Phúc, Nông Hồng Tân tiếp tục sự nghiệp của ông cha, đánh đuổi giặc ngoại xâm và dẹp nạn cướp phá. Dinh thự dòng họ Nông do Tri phủ Nông Hồng Tân xây dựng vào năm 1890, gắn liền với một số nhân vật lịch sử của dòng họ Nông như: Nông Văn Bật, Nông Văn Liêm, Nông Văn Vân, Nông Hồng Thạc… có nhiều công lao chống giặc ngoại xâm và bảo vệ biên cương lãnh thổ Việt Nam. Trước kia dinh thự nằm trong một khuôn viên rộng, có 2 cây dã hương cổ thụ hơn 100 tuổi trước cổng, gồm nhà trong và nhà ngoài. Ban đầu, Tri phủ Nông Hồng Tân làm nhà riêng to rộng, kiến trúc bằng gỗ rất khang trang, độc đáo và tọa lạc ở một vị trí rất đắc địa. Dinh thự này gồm 2 nhà chính với tổng diện tích trên 300 m2. Xung quanh ngôi nhà được thiết kế nhiều gian nhà gỗ khác làm nơi ở cho các gia nhân và người hầu. Ngoài ra còn có khu chuồng ngựa có thể chứa hàng trăm con ngựa, cùng một khu sân rộng dùng tập luyện võ nghệ và chơi thể thao. Đến năm 1909, con rể nạp tế của gia tộc tri châu Bảo Lạc là Nông Quảng Tuyên (tức Nguyễn Đình Giai) nâng cấp, tân trang và xây thêm một nhà gạch bên ngoài với kiến trúc phương Tây kết hợp kiến trúc địa phương, được xây bằng gạch đất nung, vôi và đường phên bản địa. Dinh thự dòng họ Nông nằm dưới tán cây dã hương cổ thụ. Nguồn: UBND huyện Bảo Lạc Hiện tại Dinh thự dòng họ Nông nằm ở trung tâm thị trấn Bảo Lạc (huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng), chỉ còn lại 1 ngôi nhà chính có kiến trúc kết hợp hài hòa giữa kiến trúc phương Tây và địa phương; cùng 01 cây dã hương cổ thụ trong khuôn viên. Nếu nhìn tổng thể ngôi nhà có các đường nét mang nét kiến trúc Pháp, duy chỉ có phần mái là vẫn lợp ngói âm dương theo lối địa phương. Hiện nay, dinh thự dòng họ Nông thị trấn Bảo Lạc là ngôi nhà cổ duy nhất của tỉnh Cao Bằng.  Không chỉ có giá trị lịch sử và kiến trúc, Dinh thự dòng họ Nông cũng là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người dân. Dòng họ Nông đã có công đánh giặc bảo vệ lãnh thổ, biên cương Bảo Lạc. Nhờ công lao của dòng họ Nông mà cuộc sống người dân vùng biên giới trở lại bình yên. Để khắc ghi công ơn, làm gương sáng cho các thế hệ mai sau và con cháu dòng họ noi theo, năm 2018 nhà thờ tổ họ Nông được xây dựng trên khu đất Dinh thự dòng họ Nông, người đứng ra kêu gọi xây dựng là ông Dương Văn Tấn (chắt ngoại đời thứ 6 dòng họ Nông) sống tại tổ khu phố 1, thị trấn Bảo Lạc và cũng là người đứng ra tổ chức lo liệu việc sửa soạn, cúng giỗ vào ngày 17/10 hàng năm. Dinh thự dòng họ Nông cũng là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của người dân. Nguồn: UBND huyện Bảo Lạc Nhận thấy sự cần thiết phải bảo tồn, gìn giữ nguyên trạng, sưu tầm, tìm kiếm các hiện vật di tích, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cao Bằng đã phối hợp với UBND huyện Bảo Lạc lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh và được Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng phê duyệt tại Quyết định số 2606/QĐ – UBND ngày 30/12/2021. Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng - Phó Bí thư, Chủ tịch UBND huyện Bảo Lạc, chính quyền và nhân dân huyện Bảo Lạc quyết tâm gìn giữ, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các điểm di tích lịch sử; giá trị các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và quản lý khai thác thật khoa học, có hiệu quả kho tàng di sản văn hóa trên cơ sở bảo vệ và tôn trọng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường.  "Trong thời gian tới huyện có định hướng xin chủ trương của tỉnh trùng tu, tôn tạo Dinh thự họ Nông thành bảo tàng dân tộc của huyện. Đây sẽ là nơi trưng bày hiện vật di tích và không gian văn hóa của 7 dân tộc anh em huyện Bảo Lạc, thu hút đông đảo du khách đến với Bảo Lạc, góp phần thúc đẩy phát triển tiềm năng du lịch của các huyện miền Tây và của tỉnh Cao Bằng" - ông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết./. Theo VOV.VN https://vov.vn/van-hoa/di-san/dinh-thu-dong-ho-nong-di-san-quy-gia-tai-cao-bang-post937986.vov

06/02/2026
Đền Bà Hoàng
DI TÍCH - DI SẢN 21/01/2026
Đền Bà Hoàng

Đền Bà Hoàng, phường Sông Bằng (Thành phố). Ảnh: Thế Vĩnh Khi xưa, đền Bà Hoàng tọa lạc ven chân núi Kim Pha sừng sững, bạt ngàn rừng đại ngàn nhiệt đới nguyên sinh; cạnh đó là núi Mã Phi như bầy ngựa chiến nhấp nhô tung vó in hình lên lưng trời xanh thắm. Phía bên phải là con suối nước trong vắt, quanh năm rì rào chảy về cánh đồng Nà Cạn cung cấp nước tưới tiêu cho lúa và hoa màu tươi tốt quanh năm. Toàn cảnh phía sau đền như bức tranh rồng bay, phượng múa, sơn thủy hữu tình đẹp huyền ảo, làm cho ngôi đền càng linh thiêng. Hiện nay, Đền được xây bằng gạch, ba gian lợp ngói âm dương, mỗi gian rộng 3 m; hai đầu hồi trang trí đôi phượng hoàng dang rộng cánh bay hướng lên trời. Gian giữa có một bệ thờ đặt tượng Bà Hoàng trùm khăn đỏ, phía trái đền dựng một gian bếp để phục vụ những ngày tế lễ. Mặt trước đền là khoảng sân rộng rãi, bằng phẳng có thể tổ chức các trò chơi dân gian, hát then, sli, lượn... Minh Đức Hoàng Hậu là người phụ nữ danh tiếng, một thời lừng lẫy gắn liền với chặng đường lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc trên vùng đất biên viễn phía Bắc. Thế kỷ XI, năm Mậu Dần 1038, một tù trưởng tên là Nùng Tồn Phúc ở châu Quảng Nguyên (vùng đất Cao Bằng ngày nay) tự xưng là Chiêu Thánh Hoàng Đế, đặt quốc hiệu Trường Sinh, lập vợ là A Nùng làm Hoàng hậu, cát cứ một vùng rộng lớn đối diện với nhà Tống ở bên kia biên giới. Triều Lý cho là làm phản, năm 1039, vua Lý Thái Tông thân chinh thống lĩnh đại quân lên Cao Bằng dẹp loạn, bắt được Nùng Tồn Phúc và con trưởng Nùng Trí Thông dẫn giải về kinh đô xử tội. Hai mẹ con A Nùng và con thứ là Nùng Trí Cao chạy thoát thân. Năm Tân Tỵ niên hiệu Càn phủ hữu đạo thứ ba triều Lý 1042, Trí Cao thừa kế chức cha xin dâng biểu triều đình. Vua Lý thương tình, ra chiếu tha tội và cho mẹ con Trí Cao cai quản châu Quảng Nguyên để giữ vững vùng đất phên dậu và ban cho đô ấn, phong chức Thái bảo. Năm Nhâm Ngọ niên hiệu Minh đạo nguyên niên 1043, hai mẹ con chiếm cứ được 3 châu: Do Lôi, Hỏa Động, Thảng Do và dựng nên nước Đại Lịch. Nhà Lý cho thêm 4 động: Hỏa Lôi, An Bình, Bà và châu Tư Lang. Sau đó, Trí Cao dâng biểu triều đình dẫn binh đánh Ung Châu nhà Tống, mở rộng bờ cõi. Cuộc chinh phạt đánh đâu thắng đấy, sau đó lấy được cả vùng đất Lĩnh Tây. Năm 1049, Trí Cao và bà A Nùng chiếm giữ được châu An Đức, tự xưng là Nam Thiên Quốc; đến năm 1052, đánh chiếm xong Ung Châu, Trí Cao xưng là Nhân Huệ hoàng đế và đặt Quốc hiệu Đại Nam, thế mạnh như chẻ tre, đến đâu cũng vỗ về an dân, được nhân dân ủng hộ. Nhà Tống phải khiếp sợ kinh hoàng, ra chiếu: nếu ai giết được A Nùng hoặc Trí Cao sẽ được thưởng 3.000 quan. Theo truyện lưu truyền trong dân gian, một năm sau đó, Nùng Trí Cao bị thua trận ở Côn Lôn, chạy về phủ thự, ngày ngày buồn bã rồi cưỡi ngựa đi đâu biệt xứ. Bà A Nùng chiếm giữ động Đặc Ma, nay là vùng Vân Sơn tỉnh Vân Nam, nuôi trí trả thù cho con, bà sai Nông Hạ Khanh chiêu tập binh lính lên tới hơn vạn quân, mua sắm vũ khí, dự trữ lương thực, lập đội kỵ binh đánh lên phía Bắc, làm rung chuyển đất Ung Châu. Sau đó bị thua trận, bà chạy về Quảng Nguyên và qua đời tại đây. Minh Đức Hoàng Hậu A Nùng là người phụ nữ đôn hậu, mạnh mẽ, tài giỏi, mưu lược. Bà có công lớn nuôi dạy, rèn luyện võ nghệ cho con trai Nùng Trí Cao, sau này Trí Cao trở thành một dũng tướng miền biên ải, người anh hùng giúp nhà Lý dựng nên thành lũy trấn giữ biên cương, bảo vệ một vùng rộng lớn cương vực phía Bắc của lãnh thổ quốc gia. Bà là quân sư trực tiếp cho Trí Cao trong từng trận đánh và được nhà Lý mời làm cố vấn tướng lĩnh. Ngoài ra, bà còn dạy nhân dân trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi gia súc, được dân chúng suy tôn là Thần gia súc. Nhà Lý đặc chiếu truy phong bà A Nùng làm Bà Hoàng Đại Vương. Để ghi nhớ công lao của bà, nhân dân châu Quảng Nguyên lập đền thờ tại thôn Phù Vạn, xã Kim Pha, châu Thạch Lâm. Ngôi đền mang tên đền Bà Hoàng từ đó. Thời triều Lý, ngôi đền được phong là Thượng đẳng thần, xuân thu nhị kỳ quốc lễ. Các triều đại tiếp tục vinh tôn gia phong mỹ tự: Bà Hoàng phổ ứng hiển linh diệu cảm, Hồng hựu tĩnh trấn biên phu linh thông, phục viễn ninh cảnh, Vũ di hiển hưu, Cảm ứng hộ quốc, Ninh dân dương vũ đinh công Đại Vương. Năm 1947, thực dân Pháp phá đền, dựng đồn bảo vệ sân bay Nà Cạn; để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh, nhân dân vùng Nà Cạn đã dựng lại đền trên nền đất cũ để có chỗ hương bái thờ bà. Hiện tại, trong đền chỉ có một bệ thờ bằng gạch ốp, gạch men cao khoảng 70 cm, dài 1,6 m, rộng 80 cm. Ban thờ đặt 4 bát hương, ở giữa là bát hương to; trên tường phía bên trong treo một bức trướng vải đỏ và câu đối giấy đỏ bằng chữ Hán; hai bên treo hai chiếc quạt lụa màu tím. Lễ hội đền Bà Hoàng được tổ chức hai ngày trong năm, là ngày 15 tháng Giêng và ngày 5/5 âm lịch. Lễ hội vừa thể hiện lòng thành kính với Bà Hoàng Đại Vương, vừa mang tính chất cầu mùa, cầu phúc, mong bà ban cho cuộc sống an lành, may mắn. Để chuẩn bị cho ngày hội, nhân dân trong vùng tự giác đóng góp mỗi nhà một bơ gạo, ít tiền mua hương, hoa, tổ chức nghi lễ. Lễ vật thờ cúng gồm: mâm xôi, con lợn quay hoặc thủ lợn; đặc biệt có thêm một đoạn phèo non, sau thay bằng bánh chè lam cùng với hoa quả và 3 bông lau to, tượng trưng cho bông lúa được mùa. Gia đình được chọn để dâng mâm lễ là gia đình làm ăn thuận lợi từ năm trước, mọi người đều mạnh khỏe, con cháu thành đạt, ngoan ngoãn. Nghi lễ diễn ra long trọng, chủ tế là người có vai vế, uy tín trong vùng. Sau khi xong phần nghi lễ, gia đình dâng mâm lễ sẽ cầm 3 bông lau đem về cắm vào ruộng nhà mình, với ước mong cả vùng đều được mùa bội thu. Tại lễ hội còn tổ chức các trò chơi dân gian ngay tại sân trước đền, sau đó, mọi người cùng nhau thụ lễ, ăn uống vui vẻ, đoàn kết, đông vui, thắm tình làng, nghĩa xóm, khu phố. Đền Bà Hoàng là di tích lịch sử văn hóa thờ Thượng đẳng thần Bà Hoàng Đại Vương A Nùng, một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử thế kỷ XI, người phụ nữ thao lược, tài ba, có công lớn trong thời nhà Lý. Hình ảnh của bà và ngôi đền thờ đã đi vào các trang tư liệu cổ như Đại Việt sử ký toàn thư; trong cuốn Đền thờ và lăng tẩm Việt Nam, Bà Hoàng Đại Vương A Nùng đã được vinh danh trang trọng. Đến với đền Bà Hoàng, chúng ta hiểu biết thêm về một trang sử hào hùng, biết ơn và tự hào về một bậc tiền nhân - người mẹ của Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao, khơi dậy lòng yêu nước trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Đền được Nhà nước công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh ngày 4/11/2008. Theo Báo Cao Bằng https://baocaobang.vn/-1967.html

21/01/2026
Đền Kỳ Sầm
DI TÍCH - DI SẢN 02/02/2026
Đền Kỳ Sầm

Nhân dân trẩy hội đền Kỳ Sầm. Đền được xây dựng trên một khuôn viên rộng, kiến trúc hình chữ “nhị”, mang dáng dấp phong cách kiến trúc thời nhà Nguyễn, có nhà bái đường và hậu cung. Tại nhà bái đường có một ban thờ. Phía trong hậu cung có ba ban thờ, chính giữa thờ Nùng Trí Cao, bên trái thờ mẹ A Nùng, bên phải thờ ba người vợ: Vương Lan Anh, Đoàn Hồng Ngọc, Trần Thị Cẩm. Quá trình gây dựng ngôi đền, với lòng ngưỡng mộ vị dũng tướng, nhân dân đã cung tiến một số đồ thờ quý, như đôi hạc bằng đồng, một số lư hương, chuông đồng…, trong khuôn viên được quy hoạch trồng nhiều cây cảnh bên cạnh các cây đa cổ thụ xum xuê, làm cho ngôi đền thêm trầm mặc, linh thiêng.  Nùng Trí Cao sinh năm 1025, là con của Nùng Tồn Phúc, thủ lĩnh châu Thảng Do. Ngay từ thuở thiếu thời, Nùng Trí Cao là một cậu bé khỏe mạnh, đẹp trai, hiếu động, thông minh lạ thường, học giỏi chữ nghĩa, võ nghệ như bẩm sinh. Năm 1038, Nùng Tồn Phúc chiếm hai châu Vũ Lặc và Quảng Nguyên, lập nên nước Trường Sinh, tự xưng là Chiêu thánh Hoàng đế, lập vợ A Nùng làm Minh Đức Hoàng hậu, cát cứ một phương, án ngữ một vùng biên viễn rộng lớn phía Đông Bắc nước ta. Năm 1039, vua Lý Thái Tông thân chinh dẫn đại quân đi dẹp nước Trường Sinh, Nùng Tồn Phúc và con trưởng Nùng Trí Thông bị bắt về kinh đô xử tử. A Nùng và con thứ Nùng Trí Cao chạy đến động Lôi Hỏa, thuộc địa phận tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) ngày nay. Tại đây, hai mẹ con khẩn trương tập hợp quân sĩ, ngày đêm rèn luyện võ nghệ, xây dựng lực lượng binh đao, ngựa chiến.  Năm 1041, khi đó Nùng Trí Cao 16 tuổi đã cùng mẹ A Nùng dẫn binh từ động Lôi Hỏa chiếm lại châu Thảng Do, lập nên nước Đại Lịch. Triều Lý cử đại quân lên đánh và bắt được Nùng Trí Cao dẫn về kinh đô. Sau khi xem xét, nhận định tình thế, cần trấn yên vùng biên, bảo vệ lãnh địa quốc gia, vua nhà Lý miễn tội cho Nùng Trí Cao và tiếp tục cho quản lý châu Thảng Do; đồng thời, ban cho thẩm quyền cai quản thêm một vùng rộng lớn, gồm các động: Lôi Hỏa, Bình, Bà và châu Tư Lang, sắc phong Nùng Trí Cao làm châu mục Quảng Nguyên. Năm 1043, vua Lý Thái Tông sai người đến châu Quảng Nguyên ban sắc phong cho Nùng Trí Cao chức Thái Bảo, một trong ba tước quan cao cấp nhất triều đình và giao cả đô ấn. Năm 1048, Nùng Trí Cao khởi binh ở động Vật Ác, đánh chiếm châu An Đức, thuộc đất nhà Tống (Trung Quốc) làm căn cứ địa. Hai năm sau (1050), thừa thế binh hùng tướng mạnh, Nùng Trí Cao đánh chiếm động Vật Dương (thuộc đất Tống), rồi xưng vương, lập Nam Thiên Quốc, lấy niên hiệu là Cảnh Thụy. Chiến công kế tiếp chiến công, cương vực bờ cõi rộng mở nhanh chóng. Tuy vậy, Trí Cao vẫn có ý giảng hòa với nhà Tống, năm 1051 cho người đem châu báu, vàng bạc, ngà voi đến biếu cống nhưng bị triều đình Tống khước từ. Trước tình thế đó, năm 1052, Nùng Trí Cao dẫn 5.000 quân tiến đánh thành Ung Châu và Quảng Châu. Sau khi làm chủ Ung Châu, Trí Cao tự xưng là Nhân Huệ Hoàng đế; đổi niên hiệu là Khải Lịch, quốc hiệu là Đại Nam. Trí Cao ra lệnh phá nhà tù, đại xá tù nhân, mở các kho hậu cần, lương thực của quân Tống phân phát cho dân nghèo. Do đó, lực lượng của Trí Cao phát triển mạnh mẽ. Năm 1053, nhà Tống cử Địch Thanh - một viên tướng nổi tiếng triều đình dẫn đầu đại quân hùng hổ đi đánh quân Nùng Trí Cao. Lần này, Trí Cao bại trận phải chạy đến vùng đất Đại Lý, thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) ngày nay. Nùng Trí Cao sai Lương Châu về kinh đô cầu viện nhà Lý nhưng không thể cứu vãn nổi tình thế.  Để tưởng nhớ ơn đức của Nùng Trí Cao, nhân dân nhiều nơi lập miếu thờ phụng. Nhà Lý đặc chiếu sắc phong Trí Cao là Khau Sầm Đại Vương và lập đền thờ tại thôn Bản Ngần, xã Tượng Lặc, châu Thạch Lâm (nay là thôn Bản Ngần, xã Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng). Đền thờ được nhà Lý phong Thượng Đẳng thần, xuân thu nhị kỳ quốc tế; các triều đại sau gia phong mỹ tự: Khau Sầm tế thế, an dân hãn ngoại, ninh thủy trấn dịch, anh nghị quả đoán hiển ứng thùy hưu, hộ quốc an dân Đại Vương. Đền thờ Nùng Trí Cao được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1993. Theo Báo Cao Bằng https://baocaobang.vn/den-ky-sam-3161754.html

02/02/2026
Khám phá Công viên địa chất toàn cầu UNESCO non nước Cao Bằng qua Ba tuyến du lịch chủ đạo
DI TÍCH - DI SẢN 30/01/2026
Khám phá Công viên địa chất toàn cầu UNESCO non nước Cao Bằng qua Ba tuyến du lịch chủ đạo

CVĐC là nơi minh chứng cho lịch sử phát triển địa chất phức tạp kéo dài lên đến hơn 500 triệu năm ở vùng đất này. Nơi đây có nhiều danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng trong nước và quốc tế. Ngày 12/4/2018, UNESCO đã chính thức công nhận  CVĐC Non nước Cao Bằng là Công viên địa chất toàn cầu. Thác Bản Giốc - danh thắng nổi tiếng ở Cao Bằng Đây là nơi sinh sống của 8 dân tộc anh em, như: Tày, Nùng, H’Mông, Kinh, Dao, Sán Chay (Sán Chỉ), Hoa, Lô Lô. Nơi đây còn được xem là một trong những nơi được người tiền sử ngụ cư sớm nhất ở Việt Nam, và là cái nôi của cách mạng Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngoài ra còn nhiều di tích văn hóa, lịch sử, khảo cổ, đa dạng sinh học, cùng hàng trăm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể khác. CVĐC Non nước Cao Bằng là một vùng đất hiếm có ở Việt Nam để du khách có thể tìm hiểu lịch sử của trái đất qua các dấu tích. Các hóa thạch, trầm tích biển, đá núi lửa, khoáng sản…, đặc biệt là các cảnh quan đá vôi, là những minh chứng tuyệt vời cho sự tiến hóa và thay đổi của trái đất. Đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện, đánh giá và đề xuất xếp hạng trên 130 điểm di sản địa chất độc đáo với các dạng địa hình, cảnh quan đá vôi phong phú, đa dạng (như các tháp đá, nón, thung lũng, hang động, hệ thống sông hồ, hang ngầm…) phản ánh một chu kỳ tiến hóa karst hoàn chỉnh ở vùng nhiệt đới bắc Việt Nam. Thêm vào đó là rất nhiều kiểu loại di sản địa chất khác như hóa thạch cổ sinh, ranh giới giữa các phân vị địa chất, đứt gãy, các loại hình khoáng sản hình thành ở vùng đất này. Vùng đất này có bề dày văn hóa, lịch sử với hơn 215 di tích văn hóa, lịch sử được xếp hạng, trong đó có 3 Khu di tích quốc gia đặc biệt, đó là: Khu Di tích Quốc gia Đặc biệt Pác Bó – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước năm 1941 lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam sau hơn 30 năm bôn ba ở nước ngoài; Khu Di tích Quốc gia Đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo – nơi năm 1944 Đại tướng Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay; Khu di tích quốc gia đặc biệt Địa điểm Chiến thắng Biên giới năm 1950. Cùng nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng trong nước và quốc tế như: hang Pác Bó, suối Lê Nin, thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, hồ Thang Hen, vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén… Phát huy giá trị Công viên địa chất toàn cầu để phát triển du lịch Để phát triển du lịch dựa trên những giá trị cốt lõi của Công viên địa chất toàn cầu Non nước Cao Bằng được UNESCO ghi nhận, Cao Bằng đã và đang ưu tiên khai thác 3 tuyến du lịch chủ đạo là: Tuyến du lịch cụm phía Bắc “Hành trình về nguồn cội” Theo chủ đề “Hành trình về nguồn cội”, tuyến du lịch cụm phía Bắc tập trung ở huyện Hòa An và Hà Quảng đưa du khách tìm hiểu về miền đất có nhiều giá trị di sản văn hóa - lịch sử tiêu biểu cho truyền thống đấu tranh giữ nước, bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc như: đền vua Lê, đền Dẻ Đoóng, khu di tích lịch sử Kim Đồng, khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó cùng các dấu ấn trong quá trình hoạt động cách mạng từ năm 1941 - 1944 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hành trình về nguồn cội cũng đưa du khách khám phá tiến trình lịch sử phát triển địa chất trên 500 triệu năm của trái đất qua các giá trị di sản địa chất mang giá trị quốc tế tại Cao Bằng. Tại huyện Hà Quảng, các nhà khoa học đã tìm thấy hóa thạch cúc đá (nhóm các loài sinh vật biển thân mềm tiến hóa cao nhất, cách đây 66 triệu năm), có giá trị định tuổi các tầng lớp đá chứa chúng và xác định đứt gãy địa tầng. Điểm đặc biệt, hóa thạch cúc đá được chọn vào logo của Công viên Địa chất Non nước Cao Bằng, làm biểu tượng đại diện cho khoa học về hai cấu trúc diện mạo địa chất điển hình karst trẻ, karst già và cũng là biểu trưng giá trị văn hóa đặc sắc của Cao Bằng. Suối Lê Nin, Khu Du lịch Pác Bó Tuyến du lịch cụm phía Tây “Khám phá Phia Oắc - vùng núi của những đổi thay” Đây là chủ đề của tuyến du lịch cụm phía Tây, tập trung ở huyện Nguyên Bình với 16 điểm tham quan. Điểm nhấn của tuyến này là Khu du lịch sinh thái Phia Oắc - Phia Đén, trong đó đỉnh Phia Oắc cao 1.931m được coi là nóc nhà của Cao Bằng. Về địa chất, nơi đây có sự đan xen giữa các loại đá lục nguyên, đá vôi và đá xâm nhập granit, tạo nên các dãy núi đất xen với núi đá. Xưa kia người Pháp đã chọn Phia Oắc - Phia Đén làm nơi nghỉ mát, hiện vẫn còn các dấu tích của các biệt thự, nhà nghỉ của các công chức thời Pháp. Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén cũng nổi tiếng với các giá trị đa dạng sinh học cùng nhiều hệ sinh thái, giống loài động thực vật đặc hữu, có nhiều loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam như: nghiến, bách vàng, hoàng liên chân gà, bảy lá một hoa, vượn cao vít, khỉ mặt đỏ, rắn hổ chúa... Rừng ở đây còn giữ được nhiều nét nguyên sinh, trong đó đặc trưng là các khu rừng lùn. Tham quan tuyến này, du khách còn có thể ghé điểm di sản hóa thạch tại xã Lang Môn, di tích đồn Phai Khắt, làng dệt thổ cẩm in sáp ong của dân tộc Dao Tiền, mỏ thiếc Tĩnh Túc, đồi chè Kolia, trang trại cá hồi... Tuyến du lịch cụm phía Đông “Trải nghiệm văn hóa bản địa ở xứ sở thần tiên” Tuyến du lịch phía Đông tập trung vào 4 huyện Trà Lĩnh, Quảng Uyên, Trùng Khánh và Hạ Lang, mang đến những trải nghiệm văn hóa bản địa độc đáo của các dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Sán Chay... qua các làng nghề truyền thống, lễ hội dân gian; cũng như những món ăn đậm đà hương vị núi rừng Việt Bắc như xôi trám, thịt nướng 7 vị, phở chua, hạt dẻ Trùng Khánh, bánh cuốn Cao Bằng... Núi Mắt Thần Công viên địa chất non nước Cao Bằng là xứ sở của hang động, có tới 200 hang động, trong đó 50 hang động có thể khai thác du lịch. Đến với “xứ sở thần tiên” này là đến với những hang động lớn có thạch nhũ đá đẹp thuộc loại nhất nhì Việt Nam như động Ngườm Ngao (Trùng Khánh), hang Dơi (Hạ Lang)... hay quần thể hồ - sông hang ngầm Thang Hen (Trà Lĩnh). Đặc biệt, hành trình này đưa du khách khám phá thác Bản Giốc (Trùng Khánh), được mệnh danh là thác nước lớn và đẹp thứ tư trên thế giới (trong số các thác nước nằm trên đường biên giới giữa hai quốc gia), và là trung tâm của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO non nước Cao Bằng còn giữ được cảnh đẹp nguyên sơ và những giá trị địa chất, văn hóa bản địa cốt lõi. Trên tuyến này, du khách cũng sẽ được ngắm các cảnh quan đặc trưng của công viên địa chất toàn cầu như núi Mắt Thần, thác Nặm Trá (Trà Lĩnh)... Với 3 tuyến du lịch chính này, du khách đến với Cao Bằng sẽ được khám phá toàn cảnh những đặc trưng cơ bản về CVĐC và trải nghiệm văn hóa bản địa. Bên cạnh cảnh quan hữu tình, du khách còn được đến với các làng nghề truyền thống, các lễ hội dân gian, cũng như thưởng thức những món ăn nổi tiếng của người Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ… Cuộc sống dân dã, thanh bình hòa quyện trong khung cảnh trời mây sẽ khiến cho du khách muốn trùng lòng, sống chậm lại để được tận hưởng những giây phút quý giá nơi đây. Theo TRUNG TÂM THÔNG TIN DU LỊCH https://vietnamtourism.gov.vn/post/30177

30/01/2026
Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó
DI TÍCH - DI SẢN 29/01/2026
Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó

Pác Bó cũng là "đầu nguồn" của cách mạng Việt Nam, nơi đây đã gắn liền với giai đoạn lịch sử đặc biệt quan trọng trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam giai đoạn 1941-1945. Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học, ngày 10/5/2012, Khu di tích lịch sử Pác Bó được Chính phủ công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt. Các điểm di tích Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó nằm trên địa bàn xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, diện tích rộng trên 295ha, có 46 điểm di tích lớn nhỏ tạo nên một tố hợp các điểm di tích. Các điểm di tích được phân bố thành từng cụm di tích, bao gồm: 1. Cụm di tích khu vực đầu nguồn - Hang Cốc Bó (tiếng địa phương có nghĩa là "đầu nguồn") rộng khoảng 80m2, cửa hang chỉ một người đi vừa. Đây là nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí cán bộ cách mạng ở từ ngày 08/02/1941 đến trung tuần tháng 3/1941.. Trong hang hiện còn lưu giữ dòng chữ Hán do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khắc lên vách đá để ghi nhớ ngày Người chuyển vào hang ở, đó là "Nhất cửu tứ nhất niên nhị nguyệt bát nhật" (tức ngày 8/2/1941); một chiếc giường đơn sơ được ghép từ mấy tấm phản – nơi Bác và các đồng chí cán bộ nghỉ ngơi; một bếp lửa nhỏ Bác dùng để sưởi ấm trong nhưng đêm đông giá lạnh. Di tích Hang Cốc Bó - Nhà ông Lý Quốc Súng: Là ngôi nhà Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ở khi mới trở về Tổ quốc chỉ đạo cách mạng (từ ngày 28/01 đến ngày 07/02/1941). Ngôi nhà được xây dựng khoảng năm 1937, theo kiểu nhà sàn ở địa phương. Năm 2019, Ban Quản lý các di tích Quốc gia đặc biệt tỉnh Cao Bằng đã tiến hành phục dựng lại ngôi nhà theo đúng kiểu dáng ngôi nhà của gia đình ông Lý Quốc Súng năm xưa. Di tích Nhà ông Lý Quốc Súng  - Vườn trúc: Chủ tịch Hồ Chí Minh trồng lưu niệm ngày 20/2/1961trong chuyến thăm Pác Bó, Cao Bằng sau 20 năm xa cách. Vườn trúc hiện nay vẫn được bảo tồn và chăm sóc thường xuyên. Di tích Vườn trúc - Bếp nấu cơm: Bếp phục vụ Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong thời gian Người sống và hoạt động tại Pác Bó. Di tích Bếp nấu cơm - Cây ổi: Thời gian Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở đây thường lấy lá và búp ổi đun lấy nước uống thay chè. Sau này, cây ổi đã chết, gốc cây được đưa về trưng bày tại Bảo tàng Pác Bó. Khu di tích Pác Bó đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn nghiên cứu phục hồi cây ổi đầu nguồn phục vụ khách tham quan. - Khu vực đầu nguồn: Nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thường đi qua để sang làm việc tại bàn đá. Năm 1961, khi Người trở lại thăm Pác Bó, Người cùng các đồng chí cán bộ đi cùng đã ngồi nghỉ tại khu vực đầu nguồn kể chuyện về quãng thời gian Người sống và hoạt động cách mạng ở Pác Bó. Khu vực đầu nguồn Suối Lê nin  - Bàn ghế đá: Nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc làm việc, dịch các tài liệu quan trọng thời kỳ Người ở trong hang Cốc Bó. Di tích Bàn ghế đá - Hang Lũng Lạn: Nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở và làm việc trong khoảng cuối tháng 3/1941. - Hang Ngườm Vài: Nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp hướng dẫn và kết nạp Đảng cho đồng chí Nông Thị Trưng năm 1941. - Cột mốc 108 (nay là cột mốc số 675): Nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam ngày 28/01/1941. Đây là một trong 314 cột mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc xưa, được làm bằng đá tảng nguyên khối, hình bầu dục, cao khoảng 70x50 cm, bên trên khắc nội dung bằng tiềng Trung và tiếng Pháp.  Cột mốc 108 2. Cụm di tích Khuổi Nặm - Lán Khuổi Nặm: Nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuyển từ hang Lũng Lạn đến ở vào cuối tháng 3/1941 và là nơi Người ở lâu nhất trong thời gian Người sống và làm việc tại Pác Bó. Nơi đây đã diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII (tháng 5/1941). Lán được dựng theo kiểu nhà sàn dân tộc, với 2 gian nhỏ, có diện tích khoảng 12m. Di tích Lán Khuổi Nặm Ngoài ra, để đảm bảo an toàn cho Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, các đồng chí cán bộ đã làm thêm cho Người hai lán nữa (lán Khuối Nặm II và III). - Hang Slí Điếng và hang Diêm Tiêu: Địa điểm được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sử dụng làm hòm thư bí mật và cất giấu tài liệu, giai đoạn 1941 - 1945. 3. Cụm di tích Bó Bẩm - Suối Lê Nin, núi Các Mác: Những ngày đầu mới về nước, khi quyết định chọn hang Pác Bó làm nơi ở và làm việc, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đặt tên cho dòng suối trước cửa hang là suối Lênin, ngọn núi bên dòng suối là núi Các Mác. Những cái tên Bác đặt thể hiện tư tưởng, đường lối cách mạng của Người: lấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam. Tại khu vực này, tháng 9/1969, nhân dân Cao Bằng đã tổ chức lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh. Suối Lê Nin, Núi Các Mác  - Nhà ông Dương Văn Đình: Là nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thường xuyên nói chuyện về cuộc sống của nhân dân, nỗi khổ của người dân mất nước, tuyên truyền về cách mạng. Trong chuyến thăm Pác Bó, Cao Bằng năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự bữa cơm thân tình và chụp ảnh lưu niệm cùng gia đình ông Dương Văn Đình. 4. Các điểm lưu niệm tại khu trung tâm - Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh: Được xây dựng theo mô hình nhà sàn dân tộc. Tượng Bác trong Đền thờ được đúc bằng đồng; bốn bức tường là bốn bức phù điêu bằng đá thể hiện từng thời kỳ tiêu biểu gắn liền với sự nghiệp hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bức hoành phi và câu đối do Giáo sư, Anh hùng lao động Vũ Khiêu phụng thảo. Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh là nơi tưởng nhớ, khắc ghi công lao to lớn của Người đối với dân tộc; đồng thời cũng là nơi để nhân dân thể hiện lòng tôn kính đối với vị Lãnh tụ muôn vàn kính yêu, là nơi giáo dục truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước đối với mọi thế hệ người Việt Nam. Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nhà trưng bày: Nơi trưng bày, giữ gìn và phát huy những hiện vật, tài liệu, di tích liên quan đến hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Cao Bằng; giới thiệu rõ vai trò, vị trí của căn cứ địa Cao Bằng thời kỳ tiền khởi nghĩa; nêu bật những tình cảm sâu đậm của nhân dân các dân tộc Cao Bằng đối với Bác Hồ.  - Khu ruộng Nà Chang: Có diện tích khoảng 5.000m', là nơi mít tinh đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm và nói chuyện với nhân dân Pác Bó ngày 20/2/1961. Nhà Trưng bày Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó - Nền nhà ông La Thanh: Là cơ sở cách mạng quan trọng thời kỳ tiền khởi nghĩa. Đây là nơi đón tiếp các đại biểu toàn quốc về dự Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8. Hiện nay, di tích chỉ còn lại nền nhà cũ, diện tích rộng 131m', đã được cắm bia giới thiệu di tích. - Khu ruộng Goọc Mu: Tại đây, ăm 1940, nhân dân thôn Pác Bó đã cắt máu ăn thề, nguyện suốt đời đi theo cách mạng. 5. Cụm di tích Kim Đồng Kim Đồng (1929-1943) tên thật là Nông Văn Dền, dân tộc Nùng, sinh năm 1929 trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Nà Mạ (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng). Anh là đội trưởng của Đội Nhi đồng cứu quốc, tiền thân của Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. Ngày 15/2/1943, Kim Đồng đã hy sinh anh dũng khi đánh lạc hướng quân Pháp để bảo vệ an toàn cho cán bộ ta. Với những cống hiến trong quá trình hoạt động cách mạng, ngày 23/7/1997, Kim Đồng đã được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các điểm di tích Kim Đồng bao gồm: - Khu mộ Kim Đồng: Nằm dưới chân núi Tèo Lài, thuộc làng Nà Mạ. Bên trái mộ Kim Đồng là mộ của mẹ Kim Đồng, chính giữa là tượng đài Kim Đồng và bức tường nghệ thuật, thể hiện ý nghĩa 14 mùa xuân của Kim Đồng. Khu mộ Anh Kim Đồng - Hang Nộc Én: Nằm ở dãy núi Phja Đài, Phia U phía sau làng Nà Mạ. Tại địa điểm này, vào tháng 8/1942, Kim Đồng đã được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ thông tin liên lạc, bảo vệ cách mạng. - Pò Đoi - Thoong Mạ: Nơi thành lập Đội Nhi đồng cứu quốc (ngày 15/5/1941), do Kim Đồng (Nông Văn Dền) là đội trưởng. Hiện nay, di tích đã được xây dựng nhà bia lưu niệm, ghi dấu sự kiện thành lập Đội Nhi đồng cứu quốc và ghi danh những thành viên trong đội. - Một số điểm di tích khác gắn với thời gian Kim Đồng hoạt động cách mạng như: Đầu cầu Nà Mòn, nơi Kim Đồng bị lính Pháp kiếm tra, xét hỏi khi làm nhiệm vụ; Hòn Thin Nghiễng, nơi Kim Đồng thường ngồi quan sát, canh gác, bảo vệ cách mạng; Đầu Phai Mục (Thua Phai Mục), nơi Kim Đồng bị thực dân Pháp bắn hy sinh rạng sáng ngày 15/2/1943... Ngoài các cụm di tích trên, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó còn có các điểm di tích: Đỉnh dốc Kéo Già (đối diện trụ sở Ủy ban nhân dân xã Trường Hà), nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng nghỉ chân vào ngày 20/2/1961 khi Người trở lại thăm Pác Bó; Ngã tư Đôn Chương, nơi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (với bí danh "Già Thu") nhiều lần hóá trang thành thầy mo để đi lại hoạt động cách mạng từ Pác Bó xuống các châu Hòa An và Nguyên Bình. Hiện nay, di tích không còn nguyên trạng, chỉ còn bia ghi dấu. Theo BAN QUẢN LÝ CÁC DI TÍCH QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TỈNH CAO BẰNG http://pacbo.vn/cac-diem-di-tich-con/khu-di-tich-quoc-gia-dac-biet-pac-bo-1014180

29/01/2026
Miếu Long Vương
DI TÍCH - DI SẢN 27/01/2026
Miếu Long Vương

  Miếu Long Vương bên bờ sông Bắc Vọng. Miếu Long Vương được xây dựng tại một vị trí đắc địa, lưng miếu tựa vào sườn núi Tam Tiên, phía trước cửa miếu là dòng sông Bắc Vọng, uốn lượn như một con rồng xanh khổng lồ. Vị trí của miếu Long Vương hội tụ đầy đủ “Long - Huyệt - Thủy - Sa”, có nghĩa là vùng đất có phong thủy tốt.  Theo một số cụ cao niên tại địa phương, miếu Long Vương được xây dựng từ thời nhà Lê, tường xây xung quanh bằng đá vôi, mái lợp ngói âm dương, phía trước tiền đường là khoảng sân rộng, trước kia miếu Long Vương có kiến trúc hình chữ nhị, gồm 2 tòa là tiền tế và hậu cung. Đặt chính giữa gian hậu cung là tượng Long Vương, hai bên là hai tượng quan văn và quan võ, bên ngoài cửa có tượng 2 lính đứng ở hai bên làm nhiệm vụ canh gác miếu. Tuy nhiên, trải qua thời gian dài do sự biến đổi của khí hậu, thời tiết, chiến tranh và những thăng trầm của lịch sử, kiến trúc cũ của miếu không còn nguyên vẹn. Vào năm 2015, từ nguồn xã hội hóa, miếu Long Vương được người dân địa phương xây dựng lại trên nền miếu cũ với kiến trúc như hiện nay. Miếu Long Vương được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2018. Miếu Long Vương thờ thần Nam Hải Long Vương Ngao Thuận. Trong tâm thức của người dân phố Thông Huề, miếu Long Vương thực sự là ngôi miếu thiêng. Chính vì thế mà quanh năm miếu luôn nghi ngút khói hương. Mọi người đến thắp hương với nhiều ước nguyện khác nhau từ cầu an, cầu tài lộc, đặc biệt là cầu tự. Theo thông lệ tại địa phương, cứ vào năm nhuận sẽ tổ chức lễ tế thần, lễ hội miếu Long Vương diễn ra trong 3 ngày với những nghi thức mang đậm yếu tố tâm linh và huyền bí do các thầy tào và bà bụt thực hiện. Ngày thứ nhất, thầy tào và bà bụt tiến hành nghi thức tế lễ. Mục đích tôn vinh những giá trị văn hóa tinh thần của người dân xóm phố Thông Huề, cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, gia đình hạnh phúc... Điều đặc biệt trong ngày đầu tiên của lễ hội, tất cả ban tổ chức lễ hội, đại biểu, con dân xóm phố Thông Huề cùng thực hiện nghi thức ăn chay. Nghi lễ thả đèn hoa đăng trên sông Bắc Vọng. Ngày thứ hai là ngày diễn ra nhiều nghi thức quan trọng tại miếu, đặc biệt là nghi thức thả đèn hoa đăng trên sông Bắc Vọng. Buổi sáng thực hiện nghi lễ giải uế. Buổi chiều thực hiện nghi lễ rước kiệu thần Nam Hải Long Vương đi khắp phố Thông Huề để chúc phúc và ban cho mỗi gia đình một lá bùa bằng giấy, chủ nhà sẽ dán tờ giấy đó lên cửa để trừ tà ma và nghênh đón phúc lộc vào nhà. Buổi tối thực hiện nghi lễ thả đèn hoa đăng. Theo quy định thả 108 đèn hoa đăng, trong đó có 36 đèn loại to còn gọi là đèn Thiên Cang và 72 đèn loại nhỏ còn gọi là đèn Địa Sát. Với quan niệm ai vớt được đèn hoa đăng sẽ gặp nhiều may mắn và niềm tin biến điều ước của mình thành hiện thực. Ngày thứ ba là ngày cuối cùng của lễ hội miếu Long Vương. Trong ngày cuối cùng này, người dân xóm phố Thông Huề và du khách về dự lễ cùng nhau ăn bữa cơm thụ lộc thần miếu. Trong khi liên hoan, mỗi người đều được bốc thăm một phiếu kín, nếu bốc được phiếu có chữ Nguyên Thủ thì gia đình đó gặp may mắn suốt nhiều năm, nếu bốc thăm được chữ Bình An thì an lành cả năm. Ngoài việc tổ chức lễ hội theo thông lệ, người dân trong xóm phố Thông Huề cùng nhau sắm lễ lên miếu cúng thần Nam Hải Long Vương vào ngày 13 tháng 6 âm lịch (ngày kỵ của thần). Lễ hội miếu Long Vương từ bao đời nay đã đi vào tâm thức của người dân xóm phố Thông Huề. Thông qua các nghi lễ diễn ra tại lễ hội và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian..., Lễ hội miếu Long Vương trở thành nơi giao lưu, chia sẻ tình cảm, cố kết cộng đồng, từ đó góp phần gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống.        Theo Báo Cao Bằng  https://baocaobang.vn/mieu-long-vuong-3162498.html          

27/01/2026