Nhà đày Buôn Ma Thuột có diện tích gần 2ha, được thực dân Pháp xây từ những năm 1930 theo lối kiến trúc hình chữ U khép kín với 6 nhà lao và 1 xà lim. Công trình tọa lạc tại số 18 đường Tán Thuật (phường Tự An, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) ngày nay. Dãy xà lim là nơi giam giữ những tù nhân cho là nguy hiểm nhất. Nơi đây được mệnh danh là “địa ngục của địa ngục”, từng là nơi giam giữ các chiến sĩ cách mạng kiên trung. Dãy xà lim có 21 phòng, mỗi phòng rộng 2,5m2 bao gồm một sạp nằm, thanh cùm chân và 2 ống tre được đặt ở cuối sạp. Tù nhân bị nhốt biệt lập, bị cùm trong căn phòng không có ánh sáng, ăn, ngủ, vệ sinh tại chỗ. Tái hiện một hình thức tra tấn đối với tù nhân: Bị cùm chân bằng những cục tạ to và nặng, bị bắt ngồi nhiều giờ ngoài sân bê tông dưới thời tiết nắng nóng gay gắt. Tù nhân phải lao động khổ sai trong nhà xưởng dưới sự giám sát chặt chẽ của lính gác, cai ngục. Trong ảnh: Tái hiện cảnh lao động của tù nhân trong nhà xưởng. Những chiến sĩ cách mạng bị đánh đập, tra tấn trong tù. Mặc dù bị giam trong điều kiện khắc nghiệt, tra tấn dã man, chế độ ăn uống kham khổ, bệnh tật đe dọa... nhưng không đè bẹp được ý chí kiên cường, bất khuất của những chiến sĩ cách mạng. Họ đã biến nhà tù thành trường học cách mạng, những truyền đơn, tài liệu, sách vở vẫn được truyền tay nhau ở trong nhà lao, hình thành các lớp học tập... Từ năm 1954-1975, đế quốc Mỹ đã sử dụng lại Nhà đày Buôn Ma Thuột và xây dựng một bức tường ngăn đôi nhà đày, một bên là trung tâm cải huấn, một bên là kho quân nhu. Đồng thời, mở hai cổng mới ở phía Tây của nhà đày, xây thêm nhà Quốc thái dân an, nhà nguyện, phòng biệt giam, nhà lao nữ… Tháng 12/2018, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt xếp hạng Nhà đày Buôn Ma Thuột là Di tích quốc gia đặc biệt. Hiện nay, Nhà đày Buôn Ma Thuột được đưa vào khai thác, phục vụ nhu cầu tham quan, tìm hiểu của nhân dân và du khách. Anh Y Lê Pas Tơr - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh Đoàn Đắk Lắk cho biết: Đoàn Thanh niên thường xuyên tổ chức các hoạt động tham quan Nhà đày Buôn Ma Thuột, giao lưu, nói chuyện với các bậc lão thành cách mạng…Qua đó, giúp các em có sự tương tác, có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về di tích nhà đày. "Qua những hiện vật, chứng tích sống động, các em cảm nhận sâu sắc về tinh thần đấu tranh anh dũng, bất khuất của cha anh, để thêm hiểu, thêm tự hào về lịch sử oai hùng của dân tộc", anh Y Lê Pas Tơr cho biết thêm. Hiện tại nhà trưng bày có nhiều tư liệu, hình ảnh, hiện vật về của các chiến sĩ cách mạng, các phong trào đấu tranh trong tù. Trong ảnh: Hành trang đặc biệt của chiến sỹ cách mạng tổ chức vượt ngục. Mũ nồi và áo len, còng tay, còng chân Những phương tiện thông tin liên lạc của chiến sỹ cách mạng bị giam cầm tại Nhà đày. Theo Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VH-TT&DL) tỉnh Đắk Lắk, Nhà đày Buôn Ma Thuột nằm giữa trung tâm thành phố, là “địa chỉ đỏ” thu hút người dân và du khách đến tham quan trong những năm qua. Tỉnh Đắk Lắk sẽ đẩy mạnh phát triển du lịch Nhà đày theo hướng liên kết với tuyến du lịch tham quan tìm hiểu về di tích lịch sử. Để Nhà đày Buôn Ma Thuột trở thành điểm đến tham quan, tìm hiểu về lịch sử không thể bỏ qua khi du khách đến du lịch Đắk Lắk. Ngày 6/7 vừa qua, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà đã ký Quyết định phê duyệt lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích quốc gia đặc biệt Nhà đày Buôn Ma Thuột. Theo Báo Tiền Phong https://tienphong.vn/ben-trong-di-tich-quoc-gia-dac-biet-nha-day-buon-ma-thuot-post1553721.tpo
Hàng nghìn người đổ về Buôn Đôn trong ngày diễn ra Lễ hội văn hóa truyền thống các dân tộc. Từ địa danh Bản Đôn Bản Đôn tiếng Lào nghĩa là “làng đảo” - ngôi làng được toạ lạc trên một ốc đảo của sông Sêrêpôk, con sông chảy ngược từ Đắk Lắk đổ lên sông Mê Kông ở Campuchia. Còn người Êđê, M’Nông gọi là Buôn Đôn. Nguyên nơi đây là một trong những điểm giao thương đường sông quan trọng của 3 nước Đông Dương ngày xưa. Thời bấy giờ, các lái buôn người Lào thường xuôi theo dòng Mê Kông qua Campuchia, Thái Lan rồi ngược dòng Sêrêpôk đến Việt Nam. Trên mỗi chuyến đi, hàng hoá chủ yếu lúc bấy giờ là trâu mộng để trao đổi voi, ngà voi và các loại lâm đặc sản khác... Trong lúc ngược dòng sông buôn bán, bắt gặp mảnh đất này họđã bị quyến rũ và ở lại cùng người Êđê bản địa xây dựng lên ở đây một ngôi làng trù phú. Nơi đây vốn nổi tiếng với nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng, với huyền thoại về Vua Voi Khun Ju Nốp (tức Y Thu K’nul), người đã bắt được hơn 400 con voi rừng. Chính vì vậy, khi mới đặt chân lên Đắk Lắk, người Pháp đã chọn Bản Đôn làm tỉnh lị của Đắk Lắk, cho đến đầu thế kỷ XX mới chuyển về Buôn Ma Thuột. Bản Đôn trở thành xứ sở Voi của Đắk Lắk, của Tây Nguyên. Các Vua Voi kế tục Y Thu K’nul cũng là con cháu của ông như R’leo, Ama Kông. Vì thế Bản Đôn – Buôn Đôn từ lâu đã nổi tiếng trong và ngoài nước. Buôn Đôn nổi tiếng với nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng. Đến một vùng văn hóa đa sắc tộc… Huyện Buôn Đôn cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 30 km về phía Tây, phía Bắc giáp huyện Ea Súp;phía Đông giáp huyện Cư M'gar và thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; phía Tây giáp Vương quốc Campuchia; phía Nam giáp thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk và huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông. Buôn Đôn có lịch sử hình thành và phát triển hơn 200 năm, trước tháng 8 năm 1904 là thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk. Cùng với các tộc người Êđê, M’nông là dân tộc bản địa đến quần cư lập nên những buôn làng đầu tiên của vùng đất này, sự có mặt định cư của người Lào, sự giao thương của người Thái, người Campuchia… đã biến nơi đây trở thành trung tâm buôn bán sầm uất, một vùng văn hoá đa sắc tộc. Sau ngày thống nhất đất nước 30-4-1975, nhiều đợt chuyển cư của các dân tộc miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên tìm vùng đất mới sinh sống mà Buôn Đôn cũng là một điểm đến, từ đó trong thành phần dân cư đã có thêm nhân dân các dân tộc vùng núi phía Bắc như: Tày, Nùng, Dao… Đến nay Buôn Đôn có tất cả 29 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 47%. Một góc trung tâm huyện Buôn Đôn. Văn hoá đa sắc tộc mà trọng tâm là Văn hoá Voi đã góp phần tạo nên nền văn hoá truyền thống độc đáo, trên cơ sở đó đã hình thành Ngày hội văn hoá truyền thống - Lễ hội Voi Buôn Đôn hàng năm, thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế. …và giàu tiềm năng phát triển kinh tế Phần lớn diện tích của huyện Buôn Đôn nằm trong vùng bán bình nguyên Ea Súp, địa hình đồi núi thấp trung bình chiếm 86,4% diện tích tự nhiên. Nơi đây có Vườn Vườn Quốc gia Yok Đôn lớn nhất nước với diện tích trên 115.500 ha, nơi bảo tồn Voi châu Á và hệ sinh thái rừng Khộp độc nhất vô nhị. Nét văn hóa đặc sắc của người dân Buôn Đôn. Với đường biên giới dài khoảng 45 km chung với Vương quốc Campuchia, nên Buôn Đôn có vị trí địa lý, kinh tế quốc phòng rất quan trọng đối với tỉnh Đắk Lắk và vùng Tây Nguyên. Huyện Buôn Đôn còn được xác định là vùng kinh tế trọng điểm phía Tây của tỉnh Đắk Lắk, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, năng lượng, công nghiệp chế biến nông sản và các dịch vụ nông nghiệp. Hiện nay ở Buôn Đôn đã và đang phát triển mạnh về du lịch, cũng là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. Buôn Đôn có rất nhiều thắng cảnh đẹp nằm dọc theo dòng sông Sêrêpôk như các bãi sông, Hồ thuỷ điện Sêrepôk 3, thác Bảy nhánh, thác Phật, hồ Đức Minh.. . qua đó hình thành các điểm du lịch hấp dẫn du khách như Cầu treo Buôn Đôn, nhà Lào cổ, khu mộ vua Voi, du lịch Ánh Dương, Du lịch Thanh Hà, Lâu Đài Yến - Làng du lịch cộng đồng Đảo Yến Buôn Đôn, Vườn cảnh Trohbư,… Vườn Quốc gia Yok Đôn nổi tiếng chứa đựng nhiều tiềm năng khai thácdu lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm.Và đặc biệt là bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc, huyền thoại về Vua Voi là những sản phẩm du lịch độc đáo của vùng đất Buôn Đôn. Buôn Đôn một vùng văn hóa đa sắc tộc- Tết punpimay của người Lào tại Buôn Đôn. Cùng với những giá trị văn hóa truyền thống, các di tích, thắng cảnh, lợi thế rừng quốc gia, các món ăn đặc sản rất đặc trưng như thịt nướng, gà nướng Bản Đôn, cơm lam; rượu Ama Công; các món ăn từ các loài cá sông đặc sản như cá lăng, cá mõm trâu… cũng góp phần làm nên nét riêng cho văn hoá ẩm thực Buôn Đôn, du lịch Buôn Đôn. Theo Báo Đại Đoàn Kết https://daidoanket.vn/buon-don-vung-dat-giau-tiem-nang-10278093.html
Tổng quan về Chùa Sắc Tứ Khải Đoan Vị trí: 117 đường Phan Bội Châu, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Thời gian mở cửa: 8 giờ sáng – 18 giờ tối Chùa sắc tứ Khải Đoan thường được người dân gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như chùa Lớn, chùa Tỉnh Hội… Theo tương truyền, tên của vua Khải Định và hoàng thái hậu Đoan Huy, vợ của nhà vua Khải Định kết hợp lại và tạo thành tên chùa Sắc Tứ Khải Đoan. Đây cũng là ngôi chùa đầu tiên được xây dựng trên mảnh đất Cao Nguyên đầy nắng và gió. Với tổng diện tích lên đến gần 7 mẫu đất, Chùa Sắc Tứ Khải Đoan chính là công trình Phật giáo vô cùng đồ sộ và đây cũng là ngôi chùa thờ Phật được nhiều người tìm đến nhất tại Đắk Lắk. Chùa Sắc Tứ Khải Đoan được thành lập vào năm 1951, trong suốt nhiều năm qua chùa liên tục được trùng tu và xây dựng thêm. Chùa Sắc Tứ Khải Đoan đã trải qua thời gian phát triển và trở thành một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất tại miền Trung. Đã tới Buôn Ma Thuột là phải tới Chùa Sắc Tứ Khải Đoan. Ảnh: @captainessy Đây chính là điểm tham quan tâm linh được nhiều người yêu thích đó! Ảnh: @milin.nguyen Nhãn 2. Hướng dẫn di chuyển đến Chùa Sắc Tứ Khải Đoan Để đến được Chùa Sắc Tứ Khải Đoan thì đương nhiên phải biết đường rồi, bạn hãy đặt bút ghi chú ngay đường đi đến chùa vào cẩm nang du lịch của mình nhé. Xuất phát từ trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột, bạn sẽ việc di chuyển đến Chùa Sắc Tứ Khải Đoan rất thuận tiện và dễ dàng. Chùa nằm cách trung tâm thành phố chỉ khoảng 2 km, vì thế bạn hoàn toàn có thể tự di chuyển bằng phương tiện cá nhân hoặc phương tiện công cộng. Đầu tiên, bạn di chuyển đến tượng đài chiến thắng Buôn Ma Thuột tại trung tâm thành phố. Tiếp đó là rẽ sang hướng đường Phan Bội Châu, đi thẳng chừng 1km nữa là bạn sẽ nhìn thấy cổng Chùa Sắc Tứ Khải Đoan. Đường đi đến chùa cũng rất dễ tìm, nên bạn có thể hỏi những người dân xung quanh để đến nơi nhanh nhất. Đừng quên chọn cho mình Phương tiện di chuyển ở Buôn Ma Thuột thật hợp lý để có thêm thời gian "tung hoành" nơi đây nữa nhé. Giờ thì bạn đã nắm rõ được đường đến Chùa Sắc Tứ Khải Đoan chưa? Ảnh: @captainessy 3 Vì sao bạn nên ghé thăm Chùa Sắc Tứ Khải Đoan? 3.1 Vẻ đẹp cổ kính giữa lòng thành phố Buôn Ma Thuột Chùa Sắc Tứ Khải Đoan mang đậm lối kiến trúc cung đình Huế, kết hợp với đó kiểu dáng thiết kế nhà sàn của Tây Nguyên và nhà dài của người Ê Đê. Các gian của chùa được xây nối tiếp nhau trông vô cùng uy nghi và đồ sộ. Chùa Sắc Tứ Khải Đoan được xây dựng không quá cao, các gian chùa rộng lớn tạo nên thế vững trãi giữa đất trời. Chất liệu để xây dựng nên Chùa Sắc Tứ Khải Đoan chủ yếu là gỗ. Tông màu nâu trầm của gỗ khiến cho ngôi chùa càng thêm phần trầm mặc và cổ kính hơn. Từng đường nét điêu khắc trên các bức tường, cột chùa đều trông vô cùng tinh xảo và kỳ công. Trên mảnh đất cao nguyên miền Trung, ngôi chùa Sắc Tứ Khải Đoan uy nghi và vững trãi khiến bất cứ ai cũng phải trầm trồ mỗi khi có dịp ghé thăm. Cho đến ngày nay, Chùa Sắc Tứ Khải Đoan trở thành một trong những ngôi chùa lớn và lâu đời bậc nhất tại Buôn Ma Thuột. Ngôi chùa này đã sống cùng thời gian hơn một nửa thế kỷ, chứng kiến biết bao sự thăng trầm đổi thay. Vẻ đẹp của Chùa Sắc Tứ Khải Đoan chính là sự kết hợp giữa vẻ đẹp kiến trúc, thiên nhiên giao hòa, quan trọng hơn cả là nét đẹp khắc cốt lịch sử ngàn đời không gì có thể thay thế. Chất liệu xây dựng nên chùa chủ yếu là gỗ. Ảnh: @honghia2001 Từng đường nét điêu khắc tại chùa đều vô cùng tinh xảo và kỳ công. Ảnh: @eric.ho0808 Vẻ đẹp cổ kính đẹp đến say lòng của Chùa Sắc Tử Khải Đoan. Ảnh: @hua.huyeen_ 3.2 Những góc check-in cực đẹp tại Chùa Sắc Tứ Khải Đoan Không chỉ là một chốn tâm linh để mọi người tìm về tịnh tâm, Chùa Sắc Tứ Khải Đoan còn là điểm đến hấp dẫn với các bạn trẻ. Bởi lối kiến trúc độc đáo, quy mô hoành tráng với cảnh sắc hữu tình, tại chùa không thiếu những góc sống ảo hết sức lung linh mà đảm bảo bạn sẽ “yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên” khi đặt chân đến chùa đó. Theo MIA.VN https://mia.vn/cam-nang-du-lich/chua-sac-tu-khai-doan-va-ve-dep-co-kinh-lam-say-long-nguoi-5679
Lịch sử hào hùng Từ TP Buôn Ma Thuột, dọc theo quốc lộ 26 khoảng 27km, Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Đồn điền Ca Da (xã Ea Yông, huyện Krông Pắk) sừng sững như một chứng nhân lịch sử bất tử từ kháng chiến đến thời bình. Cách đó nửa cây số, miếu thờ Ca Da nổi bật giữa làng quê yên bình bởi màu ngói đỏ tươi, những bức tường vàng bao quanh. Trong sân miếu, người đàn ông mảnh khảnh đang quét lá cây rơi rụng. Ông là Trần Văn Nam (SN 1960) người trông coi chăm sóc miếu thờ này. Mỗi ngày, công việc đầu tiên của ông Nam là ra khu miếu dọn dẹp, thắp hương. Hơn 10 năm gắn bó nơi này, ông như cuốn “từ điển sống” về những câu chuyện lịch sử xung quanh miếu, cùng sự thay đổi nhịp sống đô thị hóa qua từng thời gian. “Bây giờ, thông tin về miếu thờ đã được số hóa, du khách tham quan có thể quét mã QR tìm hiểu về lịch sử của di tích. Số hóa này được Tỉnh Đoàn Đắk Lắk tạo dựng đầu năm 2023, để thuận lợi cho du khách, các bạn trẻ hiểu hơn những hy sinh của thế hệ cha anh vì độc lập, tự do cho dân tộc, tiếp thêm ngọn lửa truyền thống cho thế hệ mai sau”, ông Nam nói. Di tích lịch sử Ca Da được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích cấp quốc gia từ năm 1999. Miếu thờ Ca Da, một địa điểm quan trọng trong quần thể Ca Da cũng đã được xếp hạng Di tích cấp quốc gia vào năm 2012. Cả hai di tích đều đã trải qua một số lần trùng tu, sửa chữa, tôn tạo cảnh quan. Miếu nằm trong tổng thể khu Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Đồn điền Ca Da, miếu thờ Ca Da đã cùng với công nhân, cán bộ chiến sĩ nơi đây góp phần viết nên trang sử hào hùng trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, đế quốc. Ca Da từ một đồn điền của thực dân Pháp đã trở thành nơi chính quyền cách mạng đầu tiên ở cấp cơ sở trong toàn tỉnh Đắk Lắk, góp phần vào thắng lợi chung của Cách mạng tháng Tám 1945. Được viết tắt từ tên gọi Công ty Nông nghiệp Á Châu (Compagnie Agricole D’asie), đồn điền Ca Da do Pháp xây dựng vào năm 1922 để trồng cà phê, chè, mở đầu cho việc cướp đoạt đất đai để khai thác tài nguyên một cách quy mô. Quá trình khai thác mạnh nhất của thực dân Pháp tại đồn điền Ca Da thuộc giai đoạn từ năm 1925-1934. Ca Da là một trong những đồn điền ra đời sớm với quy mô rộng lớn. Được thành lập đúng thời điểm giai cấp công nhân Ca Da bắt đầu ra đời. Miếu thờ Ca Da. Công nhân và những cán bộ chiến sĩ hoạt động ở đồn điền Ca Da là người Việt từ các tỉnh miền Trung lên lao động và hoạt động cách mạng, họ đấu tranh đòi chủ đồn điền lập một miếu thờ nhỏ để thờ cúng thần hoàng làng nơi quê hương mới và thờ tự tổ tiên. Miếu cũng là nơi thờ cúng các công nhân, cán bộ, chiến sĩ đã đổ xương máu để đấu tranh, bảo vệ vùng đồn điền Ca Da. Ngoài mục đích sử dụng làm nơi thờ tự, tín ngưỡng, miếu thờ còn là nơi công nhân sử dụng để tiếp tế lương thực cho cán bộ, chiến sĩ dưới hình thức mang lễ vật đến cúng tại ngôi miếu. Lễ kết nạp đoàn viên tại miếu thờ. Theo lời của những người làm công nhân đồn điền trước đây, trong thời kháng chiến chống Pháp, chủ đồn điền chỉ cho dựng ngôi miếu thờ có vách bằng đất, mái lợp cỏ tranh và cửa cuốn lá mía. Một thời gian sau do mối mọt mưa nắng nên miếu thờ bị hư hỏng hoàn toàn, những công nhân ở đồn điền đã dựng lại miếu thờ có vách bằng ván, sau đó xây tạm lại bằng gạch. Bạn trẻ quét mã QR để tìm hiểu di tích. Toàn bộ ngôi miếu không trang trí hoa văn gì, trừ mặt tiền ngôi miếu có hình tròn và các thanh sọc đứng, ngang được đúc bằng xi măng, nằm ở hai bên cửa chính, thay cho cửa sổ mặt tiền ngôi miếu. Miếu thờ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của công nhân, cán bộ chiến sĩ, người lao động, của cả một vùng đồn điền cà phê rộng lớn. Chính tại ngôi miếu này diễn ra một số cuộc họp của Chi bộ Đảng đồn điền Ca Da trong những năm kháng chiến. Điểm đến của du khách Nắng mùa khô tràn ngập vùng cao nguyên. Xung quanh miếu thờ Ca Da, cuộc sống thường ngày của người dân vẫn diễn ra nhộn nhịp. Hiện nay, miếu thờ Ca Da đã được tôn tạo lại, nằm trong một khuôn viên rộng rãi, thoáng mát và trang nghiêm. Trong sân miếu, sừng sững một cây đa cổ thụ có tuổi đời khoảng trăm năm, nhiều nhánh tỏa ra um tùm. Từ nhỏ, ông Nam nghe kể về ngôi miếu với những câu chuyện đầy linh thiêng. Hơn chục năm trông coi miếu, ông luôn dành cho ngôi miếu lòng thành kính đặc biệt. Trước đây, ông Nam làm việc tại công ty cà phê Phước An, sau khi nghỉ hưu, ông về đây trông coi miếu thờ này. Theo lời ông, biết miếu thờ từ những năm 1980. Trước đây miếu nằm phía trong cây đa cổ thụ. Một số người dân tưởng chôn vàng bạc bên dưới nên đào lên và miếu bị sập chỉ còn hai bức tường. Bên trong hốc cây còn mảnh tường cũ, trải qua bao năm tháng, những rễ cây đa tự uốn thành hình vuông góc với bức tường di tích còn sót, bọc lại và bảo quản trong cây. Ông Nam bồi hồi kể, khi trùng tu tôn tạo lại, hai cây đại (hoa sứ) được chuyển ra phía trước nhà, lư hương được làm trước cây đa để hương khói và biết được di tích nằm trong cây này. Trước đây, có người phụ nữ là y tá làm cho ông chủ đồn điền, bà rất giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp. Bà am tường những câu chuyện lịch sử, huyền bí về cây đa, miếu thờ, nhưng bà đã mất cách đây mấy năm. Ngày ấy, bà bốc thuốc cho các chiến sĩ, cán bộ hoạt động cách mạng. Nhờ có bàn tay chăm sóc, phụng thờ hương khói của ông Nam mà di tích linh thiêng luôn sạch đẹp, mở lối cho du khách thập phương đến tham quan, khám phá. Hiện nay, vào ngày rằm, mùng Một âm lịch hàng tháng, hoặc các ngày lễ, Tết…nhân dân trong vùng và lân cận đến đây dâng hương, cầu an cho gia đình hoặc cầu siêu cho những công nhân, chiến sĩ đã hy sinh tại khu vực đồn điền trước đây. Đây cũng là địa điểm tổ chức các hoạt động giáo dục lịch sử cho học sinh, tổ chức các lễ kết nạp đoàn viên mới của Đoàn. Theo Báo Tiền Phong https://tienphong.vn/chuyen-mieu-co-trong-hoc-cay-da-tram-tuoi-post1533836.tpo
Năm 1947, trên một mảnh đất nhỏ ở Buôn Hồ, Krông Buk (nay là phường Buôn Hồ), Nhân dân đã dựng Đền thờ Đức Thánh Trần để tỏ lòng thành kính, biết ơn và tôn vinh vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo - người có công lớn trong ba lần chiến thắng quân Nguyên - Mông, đã đi vào lịch sử, đi vào thế giới huyền thoại, thế giới tâm linh, trở thành vị “Thánh” thiêng liêng được toàn thể nhân dân thờ phụng, được dân gian phong là một trong “Tứ bất tử” của dân tộc Việt Nam. Ban đầu Đền được dựng tạm từ những cây rừng và vách ván, mái lợp tôn, chính giữa Đền đặt một trang thờ và treo bức tranh Trần Hưng Đạo bằng giấy. Ngay từ lúc mới hình thành, nhân dân đã bầu Ban quản trị Đền để phục vụ công tác quản lý, tế lễ, hương khói hàng tháng, hàng năm. Đến năm 1964, Ban quản trị Đền đứng ra khởi xướng, kêu gọi nhân dân thị xã Buôn Hồ quyên góp thêm tiền mua đất đai, vật liệu và dỡ bỏ ngôi Đền cũ, xây dựng Đền thờ Đức Thánh Trần bằng tường gạch, mái lợp tôn. Để có được khuôn viên và Đền thờ khang trang như ngày nay, Đền đã trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, mở rộng diện tích như: Năm 1972 cải tạo, mở rộng chánh điện; năm 2004 mua thêm đất; năm 2006 lát nền; 2012 làm sàn. Tuy nhiên, do được xây dựng trong hoàn cảnh đất nước đang xảy ra chiến tranh và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương còn khó khăn nên Đền thờ chưa thể xây dựng theo kiểu kiến trúc cổ truyền của một số Đền thờ Đức Thánh Trần ở Hải Dương, Hà Nội, Thanh Hóa, thành phố Hồ Chí Minh,... Hiện nay, Đền thờ Đức Thánh Trần nằm trong một khuôn viên rộng với tổng diện tích là 525,8m2, với các hạng mục: Cổng Đền, sân trước, Đền thờ, sân sau. Nơi thờ chính của Đền là Nội điện (hậu cung), được xây dựng lồi ra phía sau so với Tiền đường, không được chia ra nhiều gian và cũng không có cửa khép kín như ở các ngôi Đền ở các tỉnh phía Bắc mà chỉ gồm một gian được thông thẳng với gian giữa Tiền đường. Nội điện không có cửa cánh khép kín mà được trang trí bằng viền khung gỗ với hoa văn rồng mây ở lối đi vào, hai bên treo hai câu đối: “Bạch Đằng Vạn Kiếp dân Việt nhớ ơn Hàm Tử Chương Dương quân Nguyên khiếp vía” Bức hoành phi cao 60 cm, rộng 3,6 m, sơn son với 4 chữ Hán: “Trần triều hiển thánh” được treo trang trọng ngay trên cửa vào Nội điện. Hương án ở Nội điện gồm có 3 tầng: Tầng trệt là nơi thờ Ngũ hổ (biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng có thể diệt trừ ma tà, trấn giữ các phương, là thần linh canh cửa ở các ngôi Đền) với hai bức tranh Ngũ hổ và một đỉnh đồng được đặt chính giữa trang thờ, hai bên đặt hai chân nến bằng đồng và một tượng Hổ bằng đồng để mong cầu no đủ, an lành; Tầng thứ hai của hương án Nội điện cao 50 cm, rộng 1,8 m, đây là nơi đặt bát nhang và một Ấn Đền Trần được lồng trong một khung kính với chiều ngang 30 cm, chiều cao 60 cm. Đây là Ấn Đền Trần được nhà báo Trần Quang Tuấn thỉnh từ Đền Trần của tỉnh Nam Định đem về tặng lại cho Ban Quản lý Đền thờ Đức Thánh Trần ở Đắk Lắk vào Tết năm 2016. Trên trang thờ cũng đặt hai chân nến và một đỉnh trầm bằng đồng được trang trí hình Lân tượng trưng cho sự thông minh, sức mạnh, kiểm soát tâm hồn người đến hành lễ; Tầng thứ ba – tầng cao nhất của hương án chính là nơi đặt tượng Trần Hưng Đạo bằng thạch cao, tượng cao khoảng 1,1 m, bề ngang khoảng 50 cm, được đặt trên một đế tượng dày 60 cm, cao 20 cm. Tượng được đúc ở thế ngồi trên ghế Rồng, tay cầm kiếm, với trang phục màu đỏ và nét mặt uy nghiêm để thể hiện sức mạnh, ý chí, tinh thần chống giặc ngoại xâm của một thiên tài quân sự Việt Nam. Bên trái của tượng Trần Hưng Đạo đặt một cây kiếm, một bộ quan phục cùng với một đôi hài vải thêu hoa văn trang trí và một tủ kính đựng lễ phục màu vàng. Hai bên của tượng Trần Hưng Đạo còn đặt tượng hai con Kỳ Lân bằng gỗ (trong văn hóa Việt Nam thì Kỳ Lân cũng là con vật báo hiệu điềm lành, là biểu tượng cho sự trường thọ, sự nguy nga đường bệ và niềm hạnh phúc lớn lao). Đặc biệt, hai bên hương án còn dựng hai thành đao bằng đồng có hoa văn trang trí hình rồng và cao khoảng 1,8 m để tăng thêm vẻ uy nghi, tôn nghiêm cho điện thờ trong Nội điện. Đền thờ Đức Thánh Trần là nơi thờ vọng để tưởng nhớ công ơn của người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Xung quanh tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo không chỉ có các di sản văn hóa hiện hữu, mà là cả một kho tàng di sản văn hóa phi vật thể đa dạng, đa sắc màu, thấm đẫm giá trị văn hóa nghệ thuật dân gian cổ truyền, đó là kho tàng truyền thuyết, thần tích, huyền thoại về các thần linh, là các hình thức diễn xướng âm nhạc, các hình thức trang trí. Các nghi lễ tại Đền Trần từ lâu đã lưu giữ được các phong tục cổ truyền của dân tộc, phần nào tái hiện được một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc, nuôi dưỡng, bồi đắp tinh thần yêu nước, ý chí bất khuất chống ngoại xâm và khích lệ tinh thần đoàn kết, tình yêu thương gắn bó các thành viên trong cộng đồng để cùng nhau xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp. Trong kháng chiến chống Mỹ, Đền thờ Đức Thánh Trần là một địa điểm cung cấp, tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men cho cách mạng, chủ yếu là cung cấp cho các đội công tác dọc tuyến H4 (mật danh của các huyện Buôn Hồ, Krông Năng, Krông Buk). Ngoài ra, Ban Quản trị Đền do các cụ Đặng Văn Đậu, Năm Phụng, Hà Hạnh,… đã vận động, kêu gọi chủ đồn điền cà phê Rossi đứng ra móc nối với lực lượng Bảo An tại khu vực H4 để che giấu cho việc tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược tại Đền thờ Trần Hưng Đạo trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Đền thờ Đức Thánh Trần vừa là nơi đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng dân gian, thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua hàng ngàn năm dựng và giữ nước; vừa tôn vinh vị anh hùng kiệt xuất của dân tộc, thể hiện được nét đẹp văn hóa, tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của nhân dân tỉnh Đắk Lắk nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung. Với ý nghĩa đó, ngày 29/9/2017, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã ban hành quyết định số 2717/QĐ-UBND xếp hạng Đền thờ Đức Thánh Trần là Di tích lịch sử cấp tỉnh. Một số hình ảnh về Di tích:
Đình Lạc Giao Đình được xây dựng theo kiểu chữ Môn có diện tích 100m2 nằm trong khuôn viên rộng 700m2, gồm: Đình chính, nhà Tiền hiền (nhà Hiện hữu), nhà Hội quán, nhà Bếp, nhà ở cho từ đình và nhà vệ sinh. Kinh phí xây dựng đều do dân làng Lạc Giao đóng góp. Triều đình nhà Nguyễn đã sắc phong cho đình thờ Thần hoàng Đào Duy Từ. Cách mạng Tháng Tám thành công, Đình Lạc Giao là nơi ra mắt chính quyền cách mạng, những người con của làng Lạc Giao trở thành chiến sĩ vệ quốc đoàn hoặc tham gia chính quyền cách mạng như: ông Hồ Bang – Chủ tịch làng Lạc Giao, ông Lê Văn Tín – Phó chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời thị xã và nhiều đồng bào, đồng chí đã hy sinh vì độc lập dân tộc. Đây cũng là nơi diễn ra sự kiện ra mắt Uỷ ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột vào ngày 18/3/1975. Năm 1990, Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ban hành Quyết định số 168/QĐ-BVHTT, ngày 02/3/1990 xếp hạng Đình Lạc Giao là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Hằng năm, vào các dịp Xuân Thu nhị kỳ, tại Đình Lạc Giao dân làng đều tổ chức các lễ tế: Lễ Tế Xuân (17/01 âm lịch), Lễ Tế Thu (17/8 âm lịch) với mục đích cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), Lễ tưởng niệm 100 chiến sĩ Nam tiến và đồng bào tử nạn tại Buôn Ma Thuột vào ngày 01/12/1945 (27/10 âm lịch). Tế lễ tại Đình Lạc Giao Theo DAK LAK MUSEUM https://daklakmuseum.vn/tin-tuc-su-kien/bai-viet/di-tich-lich-su-dinh-lac-giao
Vài nét về nhà thờ Thánh Tâm Đắk Lắk Nhà thờ Thánh Tâm Đắk Lắk không chỉ là nơi người ta tìm đến để cầu nguyện. Với Buôn Ma Thuột, nó giống như một dấu mốc lặng lẽ mà bền bỉ, đứng đó để nhắc nhớ về một lớp ký ức văn hóa – lịch sử của vùng đất Tây Nguyên. Nằm ngay khu trung tâm thành phố, công trình này khiến người ta dừng chân không phải vì sự phô trương, mà bởi dáng vẻ rất khác: những mảng gỗ, đường nét và nhịp kiến trúc gợi cảm giác như bóng dáng nhà dài Ê Đê được đưa vào không gian Công giáo một cách tự nhiên. Sự giao thoa ấy tạo nên một bầu không khí vừa trang nghiêm, vừa ấm áp, như thể ai bước vào cũng tự động nói nhỏ lại, chậm lại. Nhà thờ được khởi công từ năm 1959, và kể từ đó, nó lặng lẽ đi cùng bao đổi thay của Buôn Ma Thuột. Qua nhiều thập kỷ, nơi đây vẫn là điểm tựa tinh thần của giáo dân, đồng thời trở thành một điểm ghé thăm mà du khách thường muốn “đến cho biết” rồi lại bất ngờ ở lại lâu hơn dự tính. Bởi khi đứng trước công trình mộc mạc ấy, người ta không chỉ nhìn thấy một nhà thờ, mà còn cảm nhận được nhịp sống phố núi rất hiền: bình yên, chậm rãi, và có chút gì đó ấm trong lòng như mùi gỗ cũ quyện với gió cao nguyên. Nhà thờ Thánh Tâm Đắk Lắk. Ảnh: @facebook Phương tiện di chuyển Nhà thờ Thánh Tâm nằm ngay khu vực trung tâm Buôn Ma Thuột nên đường đi khá dễ, bạn có thể linh hoạt chọn phương tiện theo lịch trình của mình. Theo kinh nghiệm du lịch Đắk Lắk, nếu muốn chủ động thời gian và tiện kết hợp ghé nhiều điểm trong thành phố, đi xe máy là lựa chọn hợp lý. Bạn có thể thuê xe ngay tại khách sạn đang ở hoặc các điểm cho thuê trong nội thành, thủ tục thường nhanh gọn. Trường hợp không quen đường, đi theo nhóm, hoặc đơn giản muốn tiết kiệm thời gian, taxi cũng rất tiện. Một số hãng như Mai Linh hay Ban Mê hoạt động phổ biến, dễ gọi và có thể đưa bạn đến tận nơi an toàn. Ngoài ra, vì các điểm tham quan ở trung tâm thường không quá xa nhau, bạn cũng có thể đi bộ hoặc đạp xe để vừa di chuyển vừa ngắm phố xá. Cách này giúp bạn thong thả cảm nhận nhịp sống địa phương, ngắm cảnh đô thị và tận hưởng không khí trong lành. Dù chọn phương tiện nào, việc đến nhà thờ Thánh Tâm nhìn chung đều thuận tiện, giúp chuyến tham quan nhẹ nhàng và trọn vẹn hơn. Hãy lựa chọn phương tiện phù hợp. Ảnh: @dulichfun Kiến trúc Kiến trúc nhà thờ Thánh Tâm được nhiều người nhắc đến như một nét chấm phá rất riêng của Buôn Ma Thuột. Thay vì đi theo kiểu thánh đường quen thuộc với bê tông, đá và các mảng tường đồ sộ, công trình này chọn một hướng tiếp cận gần gũi hơn: lấy cảm hứng từ nhà dài truyền thống của người Ê Đê. Nhìn từ bên ngoài, phần mái vươn cao và cong nhẹ như ôm lấy toàn bộ không gian bên dưới, gợi cảm giác giống những nếp nhà gỗ đặc trưng của vùng Tây Nguyên, giản dị nhưng vẫn nổi bật bởi bản sắc địa phương. Khi bước vào bên trong, thánh đường mở ra theo hướng rộng và thoáng, không tạo cảm giác nặng nề mà thiên về sự dễ chịu. Với chiều dài khoảng 45 mét, bề ngang 12 mét, nhà thờ có thể đón hơn một nghìn người trong những dịp lễ đông. Cách tổ chức không gian được tính toán hợp lý để ánh sáng tự nhiên có thể len vào, không khí cũng lưu thông tốt, vì vậy dù đông người vẫn giữ được cảm giác thoáng đãng, mà sự trang nghiêm của nơi hành lễ vẫn không bị mất đi. Điểm khiến công trình “có hồn” nằm ở việc sử dụng gỗ xuyên suốt. Từ cột, xà cho đến hệ trần, gam màu trầm ấm của gỗ tạo nên một bầu không khí vừa ấm áp vừa thân thuộc, như đưa người ta chậm lại giữa nhịp thành phố. Chính vẻ mộc mạc ấy làm cho Nhà thờ Thánh Tâm không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo của giáo dân, mà còn trở thành điểm dừng chân đáng ghé cho du khách yêu kiến trúc truyền thống, hoặc muốn nhìn thấy một sự giao thoa hài hòa giữa văn hóa bản địa Tây Nguyên và không gian thánh đường Công giáo. Nhà thờ mang kiến trúc kiểu nhà dài truyền thống của đồng bào Ê Đê. Ảnh: @vietgoing Lịch sử của nhà thờ Thánh Tâm Lịch sử của nhà thờ Thánh Tâm (Đắk Lắk) đi cùng với hành trình hình thành cộng đồng Công giáo ở Buôn Ma Thuột. Những ngày đầu, nơi đây chưa phải một nhà thờ đúng nghĩa, chỉ là một nhà nguyện nhỏ, dựng tạm bằng mái lá, vách đất để vài nhóm giáo dân thưa thớt có chỗ đọc kinh, dự lễ. Công trình khi ấy đơn sơ đến mức chỉ cần một trận mưa lớn cũng đủ làm người ta phải lo, vậy mà với những người đi khai phá vùng cao nguyên, nó lại là chỗ dựa tinh thần quan trọng, một nơi để gặp nhau, giữ nếp đạo giữa cuộc sống còn nhiều thiếu thốn. Dần dần, khi Buôn Ma Thuột ngày càng đông người đến sinh sống, đặc biệt là giáo dân từ Kon Tum chuyển xuống lập nghiệp, nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cũng thay đổi rõ rệt. Nhà nguyện nhỏ không còn đủ chỗ, nên chuyện mở rộng, chỉnh trang rồi xây dựng quy mô hơn trở thành điều tất yếu. Một cột mốc đáng nhớ là ngày 30/3/1937: giáo họ Buôn Ma Thuột được nâng lên thành giáo xứ, do linh mục Phêrô Nguyễn Đắc Cẩn phụ trách. Từ đây, đời sống tổ chức của giáo dân bước sang một giai đoạn ổn định và bài bản hơn. Đến tháng 9/1956, linh mục Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn cho khởi công xây dựng một ngôi thánh đường mới, đặt nền móng cho diện mạo Nhà thờ Thánh Tâm về sau. Công trình trải qua thời gian thi công và đến năm 1959 thì khánh thành. Từ đó, nhà thờ trở thành một điểm tựa lớn của giáo dân, đồng thời giữ vai trò nổi bật trong đời sống tinh thần của Buôn Ma Thuột. Trải qua nhiều thập kỷ, Nhà thờ Thánh Tâm vẫn là nơi diễn ra các sinh hoạt tôn giáo quan trọng và, với nhiều người, còn là một dấu mốc văn hóa gắn chặt với lịch sử phát triển của Đắk Lắk. Lịch sử nhà thờ gắn liền với quá trình hình thành cộng đồng Công giáo ở Buôn Ma Thuột. Ảnh: @vietgoing Nhà thờ Thánh Tâm có gì nổi bật? Nhà thờ Thánh Tâm Đắk Lắk không chỉ hấp dẫn ở kiến trúc khác biệt, mà còn khiến nhiều người muốn nán lại vì cảm giác “chạm” được một phần không khí văn hóa của Tây Nguyên. Ở đây, bạn dễ thấy sự hiện diện của đời sống bản địa trong từng chi tiết: từ dáng mái gợi nhớ nhà dài Ê Đê, đến chất liệu, màu sắc và cách không gian mở ra nhẹ nhàng. Vì vậy, chuyến ghé thăm không đơn thuần là ngắm một công trình tôn giáo, mà giống như một cuộc gặp gỡ với một lớp ký ức và bản sắc đã bồi đắp lâu dài trên vùng đất cao nguyên. Khu vực quanh nhà thờ cũng góp phần tạo nên trải nghiệm ấy. Các tuyến đường nhỏ gần đó thường khá yên ả, nhiều đoạn rợp bóng cây, rất hợp để đi bộ chậm rãi và quan sát nhịp sống của Buôn Ma Thuột. Trên đường, bạn có thể bắt gặp những quán cà phê mang đúng tinh thần địa phương: không cầu kỳ, hơi mộc, nhưng ấm áp và dễ chịu. Chỉ cần ngồi xuống, gọi một ly cà phê đậm vị, nghe tiếng xe thưa thớt, tiếng gió qua tán cây, bạn sẽ cảm nhận được một kiểu thư thái rất riêng, khác hẳn sự náo nhiệt thường thấy ở những điểm du lịch đông người. Từ Nhà thờ Thánh Tâm, việc kết hợp tham quan các điểm văn hóa lân cận cũng khá thuận tiện. Một số buôn làng của người Ê Đê ở không quá xa là lựa chọn đáng cân nhắc nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về đời sống, phong tục và kiến trúc nhà dài truyền thống. Khi nghe người địa phương kể chuyện, điều đọng lại thường không chỉ là thông tin, mà là cảm giác về tinh thần cộng đồng, sự gắn bó với thiên nhiên, và cách những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ bằng những điều rất bình dị. Chính sự giao hòa giữa yếu tố tôn giáo, kiến trúc và đời sống bản địa khiến Nhà thờ Thánh Tâm trở thành một điểm dừng chân “có chiều sâu”. Nếu bạn muốn một hành trình mang màu sắc địa phương rõ rệt, không vội, không ồn, nhưng đủ để nhớ lâu thì nơi này thường là lựa chọn khiến người ta rời đi mà vẫn còn lưu lại một chút dư âm của Đắk Lắk. Không gian trước nhà thờ. Ảnh: @cgvdt Thánh lễ tại nhà thờ Một trải nghiệm dễ để lại ấn tượng khi ghé nhà thờ Thánh Tâm là ngồi dự một buổi thánh lễ tại đây. Thánh lễ thường được cử hành vào các ngày Chủ nhật và những dịp lễ lớn trong năm, vì thế không khí khá đông vui nhưng vẫn giữ trọn sự trang nghiêm. Bạn sẽ cảm nhận rõ một nét rất “Buôn Ma Thuột”: không ồn ào phô trương, không cầu kỳ hình thức, mà là sự hiện diện bình dị của cộng đồng, người lớn, trẻ nhỏ, những gương mặt quen nhau, chào nhau bằng ánh mắt, rồi cùng lặng đi khi tiếng chuông và lời kinh bắt đầu vang lên. Điều làm thánh lễ ở Nhà thờ Thánh Tâm trở nên đặc biệt không nằm ở sự hoành tráng, mà ở cảm giác ấm và gần. Trong không gian gỗ mộc mạc, lời kinh nguyện nghe như thấm sâu hơn, âm vang rõ hơn, khiến người ta tự nhiên chậm lại. Dù chỉ ngồi phía sau quan sát, bạn vẫn có thể thấy được nếp sinh hoạt tôn giáo của người dân địa phương: cách họ giữ sự tôn kính, cách họ tham dự nghi thức với thái độ thành tâm, và cách niềm tin ấy được gìn giữ qua thời gian như một phần của đời sống thường nhật. Trong suốt buổi lễ, phần giảng của linh mục thường được truyền tải bằng giọng điệu nhẹ nhàng, dễ hiểu, không tạo khoảng cách. Nội dung bài giảng thường hướng về những điều rất đời: yêu thương, nhẫn nại, tử tế, cách đối xử với gia đình và với người xung quanh. Vì vậy, dù bạn là giáo dân hay chỉ đến để tìm hiểu, việc dự lễ vẫn có thể mang lại một cảm giác “được chạm”, chạm vào nhịp sống tinh thần của vùng đất này, nơi tín ngưỡng không tách rời văn hóa, và cũng không đứng ngoài những câu chuyện thường ngày của con người Tây Nguyên. Thánh lễ tại nhà thờ Thánh Tâm Đắk Lắk. Ảnh: @vietgoing Lưu ý Khi ghé nhà thờ Thánh Tâm, bạn chỉ cần để ý vài điều nhỏ là chuyến tham quan sẽ vừa thoải mái, vừa giữ được sự tôn trọng với không gian sinh hoạt tôn giáo. Trước tiên, nếu có ý định chụp ảnh hoặc đi tham quan kỹ bên trong, bạn nên xem trước giờ thánh lễ để tránh rơi đúng lúc nghi lễ đang diễn ra. Khi thánh lễ bắt đầu, tốt nhất nên hạn chế đi lại, nói chuyện lớn hoặc giơ máy chụp liên tục, vì chỉ một chút xáo động cũng có thể ảnh hưởng đến người đang cầu nguyện và bầu không khí trang nghiêm chung. Vì đây là nơi thờ phượng, trang phục lịch sự và kín đáo cũng là điểm nên ưu tiên. Bạn không cần quá cầu kỳ, chỉ cần chọn đồ gọn gàng, tránh trang phục quá ngắn hoặc quá hở, để bản thân cảm thấy tự tin và phù hợp với không gian. Nếu đi cùng trẻ nhỏ, cũng nên nhắc các bé giữ trật tự, đi nhẹ và không chạy nhảy trong khu vực thánh đường. Nhà thờ nằm ngay trung tâm Buôn Ma Thuột nên việc di chuyển khá thuận tiện, bạn có thể đi xe máy, taxi hoặc kết hợp đi bộ nếu muốn ghé thêm các điểm quanh đó. Tuy nhiên, nếu dự tính đi bộ nhiều để khám phá khu vực lân cận, hãy chuẩn bị thêm mũ, kính râm và kem chống nắng, nhất là những ngày nắng gắt. Chỉ cần chuẩn bị một chút như vậy, chuyến ghé thăm sẽ dễ chịu hơn và bạn cũng có thể tận hưởng trọn vẹn không khí yên bình của Nhà thờ Thánh Tâm. Hãy ăn mặc lịch sự khi đến nhà thờ nhé. Ảnh: @vietgoing Theo Lữ hành Việt Nam https://luhanhvietnam.com.vn/du-lich/nha-tho-thanh-tam-dak-lak.html