Tổ đình Bửu Phong- Ngôi cổ tự danh tiếng đất phương Nam Tổ Đình Bửu Phong là ngôi chùa cổ hơn 300 năm tuổi thuộc phái Bắc Tông tọa lạc trên núi Bình Điền, thuộc quần thể khu du lịch Bửu Long, cách trung tâm thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai khoảng 5km về phía Tây Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30km về phía Đông.. Mặt chính của chùa quay về hướng Đông, từ đây nhìn xuống sân bay Biên Hòa, Văn Miếu Trấn Biên và đồng ruộng xanh tươi, về hướng Tây cách sau chùa khoảng 500m có sông Đồng Nai uốn khúc. Cảnh trí u nhàn, thanh tịnh ở Tổ đình Bửu Phong Theo tài liệu nghiên cứu thì chùa Bửu Phong thuở ban đầu là một am tranh thờ Phật do Thiền sư Bửu Phong dựng năm 1676, đến năm 1678 một nhóm dân binh Trung Quốc chạy tìm đến chùa xin tị nạn, sau đó xây dựng lại bằng gạch ngói và thỉnh đại sư chùa Hoàng Long, hiệu Thành Chí đến trụ trì. Chùa Đại Giác, chùa Long Thiền và chùa Bửu Phong là ba ngôi chùa cổ nhất Đồng Nai, là dấu ấn đầu tiên của người Việt trong công cuộc mở mang đất nước và truyền bá đạo Phật cho vùng đất mới phương Nam. Chùa Bửu Phong có vị trí đắc địa nằm trên trái châu của rồng trong quần thể danh thắng Bửu Long, bên trái có đá Hàm Rồng, bên phải có hang Bạch Hổ; trong phong thủy đó là đất lành muôn thuở, nơi động thiêng phúc địa, sơn thủy hữu tình. Nằm trên một ngọn núi tương đối cao, cảnh trí thanh nhàn u tịch, nơi đây đúng là cõi thường lạc chốn nhân gian. Vì vậy mà từ khi lập chùa cho đến nay đã gần 400 năm vẫn luôn được các quý tăng ni cao trọng về tiếp nối việc chấn hưng, hoằng dương đạo pháp, hương đăng chưa bao giờ dứt. Đài Tam thế Phật và tượng đức Hưng Đạo Vương được bài trí trong khuôn viên chùa Bửu Phong Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cũng có đề cập đến cảnh vật uy nghi, kỳ ảo nơi đây: “Núi Bửu Phong phía Tây Nam ngó xuống Đại Giang, hộ vệ phía sau núi Long Ẩn, suối bàu tẩm nhuận, dẫn tưới ruộng nương. Trên núi có chùa Bửu Phong, phía tả có đá long đầu đứng sững, phía hữu có đá thiền sàng la liệt, khói mây man mác, cây cối sum suê”. Sau nhiều lần trùng tu, tôn tạo vào các năm 1829, 1898, 1944, 1963 và 1974, đến năm 1994, ngôi chùa đã được công nhận là Di tích lịch sử nghệ thuật cấp quốc gia và năm 2013 trở thành Di tích lịch sử văn hóa - thắng cảnh Quốc gia. Giá trị văn hóa và kiến trúc của chùa Bửu Phong Để lên chùa Bửu Phong, trước đây, khách hành hương đều phải đi bộ qua đoạn đường được xây bằng 99 bậc đá, nay đã có đường lên đến sân chùa cho du khách đi xe máy. Chùa Bửu Phong ban đầu được xây dựng theo hình chữ “Tam” với chính điện, giảng đường và nơi thờ tổ theo kiến trúc chùa cổ của người Hoa. Sau nhiều lần trùng tu, chùa chuyển thành kiểu kiến trúc chữ Đinh do thêm nhà dưỡng tăng, nhà khách, nhà bếp, nhà cốt, miếu Bà Chúa Xứ, hệ thống thờ trong khuôn viên, đường nội bộ,… và các bảo tháp bên hông chùa. Cổng chùa xây bằng gạch thẻ, mái lợp ngói ống mặt trước có ghi 4 chữ Hán “Bửu Phong Cổ Tự”, dưới ghi 1676 (năm xây dựng của chùa). Trước chùa có tượng Phật Bà Quan Âm Nam Hải đứng trên đài sen và cách khoảng 20m là giếng nước Vua Gia Long. Trong khuôn viên chùa cổ Bửu Phong có rất nhiều các bức tượng lộ thiên với kích thước khổng lồ như: tượng Phật Nằm, tượng Đức Phật đản sanh, tượng Phập niết bàn, tượng Phật thiền định. Nổi bật nhất là tòa chính điện rêu phong cổ kính mang đậm nét kiến trúc của người Hoa kết hợp với nghệ thuật trang trí nhà Nguyễn. Mặt tiền chùa Bửu Phong được trang trí nhiều họa tiết tinh xảo, nghiêm trang bằng sành sứ như một đặc điểm riêng biệt mà các ngôi chùa khác ở Đồng Nai không có. Bằng nghệ thuật ghép sành sứ độc đáo, các nghệ nhân xưa thể hiện nhiều đề tài thường thấy ở các công trình kiến trúc cổ tại Huế như: hình ảnh cuốn thư, lân ngậm châu, cá hóa long, tượng Phật, tượng mặt trăng mặt trời, tứ linh và dây lá cách điệu… Đề tài trong kiến trúc trang trí của chùa Bửu Phong thể hiện khát vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cầu cho quốc thái, dân an, cuộc sống thịnh vượng, sung túc, dài lâu của người xưa. Trung tâm ngôi chánh điện thờ Phật Di Đà Tam Tôn, Đức Phật Thích Ca, Ngọc Hoàng thượng đế, Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền. Hai bên tả hữu thờ Quan Công và Tổ sư Đạt Ma. Ngoài ra còn có hương án thờ Bồ tát Di Lặc, Bồ tát Địa Tạng và bàn thờ Thập Điện Diêm Vương và Xá Lợi Phật. Hiện nay, chùa vẫn còn lưu giữ rất nhiều cổ vật có giá trị như: bức tượng Phật bằng gỗ mít, cặp mai sơn son thếp vàng thời Nguyễn, xá lợi – báu vật nhà Phật, 14 câu liễn đối bằng gỗ, 9 bức hoành phi gỗ, đầu phướn cổ và kinh sách có giá trị… Năm 1972, Hòa thượng Huệ Thành công cử Ni sư Thích nữ Huệ Hương thay mặt Ngài quản lý và phát triển chùa Bửu Phong. Năm 1988, Ni sư Huệ Hương chính thức trụ trì chùa Bửu Phong cho đến nay. Từ đó, ni sư Huệ Hương đã không ngừng tôn tạo và trang trí để ngôi chùa được thêm phần trang nghiêm, là nơi để khách hành hương đến lễ Phật và vãn cảnh tịnh tâm. Tổ đình Bửu Phong là dấu ấn của người Việt trong công cuộc mở cõi về phương Nam, góp phần lưu giữ nét đặc sắc về kiến trúc đình chùa trong văn hóa dân tộc. Ngày nay, chùa Bửu Phong không chỉ truyền bá Phật pháp mà còn tích cực đưa giáo lý từ bi, bác ái của đạo Phật đến với thực tiễn cuộc sống. Các tăng ni, Phật tử trong chùa đã tích cực tham gia nhiều phong trào từ thiện - xã hội như: cứu trợ nạn nhân bị thiên tai lũ lụt trong và ngoài tỉnh; tặng quà, học bổng cho học sinh nghèo trong những ngày lễ, tết; khám, chữa bệnh, phát thuốc miễn phí cho người nghèo; chăm sóc trẻ em lang thang và người già neo đơn; tổ chức phát cơm chay miễn phí….theo đúng phương châm "tốt đời, đệp đạo" mà nhà nước ta đã đưa ra. Theo Cổng thông tin Phật giáo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam https://phatgiao.org.vn/ngoi-chua-co-hon-300-nam-tuoi-o-bien-hoa-d71106.html#
Đền thờ Đoàn Văn Cự là một di tích lịch sử quan trọng, tôn vinh một trong những nhân vật vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Nằm ở vị trí trung tâm, nơi đây không chỉ là điểm hành hương của hàng nghìn du khách mỗi năm mà còn là biểu tượng của lòng tự hào dân tộc. Bài viết này sẽ khám phá lịch sử, kiến trúc và ý nghĩa của đền thờ Đoàn Văn Cự. Tổng quan về đền thờ Đoàn Văn Cự Đền thờ Đoàn Văn Cự không chỉ là một di tích lịch sử văn hóa quan trọng của tỉnh Đồng Nai, mà còn là biểu tượng cho tinh thần yêu nước và sự hy sinh anh dũng của ông cùng 16 nghĩa quân trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đoàn Văn Cự, một thủ lĩnh kiệt xuất của nghĩa quân ở Biên Hòa vào đầu thế kỷ XX, đã đóng vai trò quan trọng trong việc thành lập Hội kín Thiên địa hội. Tổ chức này đã góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Năm 1905, trong một trận chiến khốc liệt, ông và 16 đồng đội đã anh dũng hy sinh, để lại một di sản tinh thần vô giá cho dân tộc. Nhằm tưởng nhớ và tri ân các vị anh hùng, vào năm 1956, người dân địa phương đã quyên góp xây dựng đền thờ, nơi không chỉ để thắp hương tưởng niệm mà còn là biểu trưng cho lòng yêu nước và ý chí kiên cường của nhân dân. Đền thờ được xây dựng trên một khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng, với kiến trúc độc đáo theo hình chữ tam, bao gồm hai phần chính: nhà võ ca và chánh điện. Nhà võ ca là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là các buổi biểu diễn hát bội trong các dịp lễ hội. Chánh điện, với không gian linh thiêng, là nơi thờ tự chính dành cho linh hồn của Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa quân. Hàng năm, đền thờ tổ chức các lễ hội lớn để tưởng nhớ và tri ân những người đã hy sinh vì độc lập dân tộc, thu hút đông đảo người dân tham gia. Bên cạnh đó, nơi đây còn là điểm tổ chức các hoạt động văn hóa, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về lịch sử và truyền thống cách mạng của dân tộc. Đền thờ Đoàn Văn Cự không chỉ là minh chứng cho truyền thống yêu nước và tinh thần bất khuất của người Việt Nam, mà còn trở thành điểm đến tâm linh cho cả người dân địa phương và du khách. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của đền thờ là trách nhiệm chung của cộng đồng, nhằm giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc. Lịch sử xây dựng và phát triển của đền thờ Đoàn Văn Cự Đền thờ Đoàn Văn Cự, một di tích lịch sử văn hóa nổi bật tại tỉnh Đồng Nai, được xây dựng nhằm tưởng nhớ và tôn vinh những hy sinh cao cả của Đoàn Văn Cự cùng 16 nghĩa quân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào đầu thế kỷ XX. Thời kỳ hình thành Đoàn Văn Cự là một trong những thủ lĩnh nghĩa quân tiêu biểu ở Biên Hòa, ông đã sáng lập và lãnh đạo Hội kín Thiên địa hội, một tổ chức có vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong một trận đánh vào năm 1905, Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa quân đã anh dũng hy sinh. Sự hy sinh này đã tạo nên một niềm cảm hứng lớn lao trong lòng người dân, thúc đẩy họ kêu gọi bảo tồn và tưởng niệm công lao của các anh hùng dân tộc. Xây dựng đền thờ Để tri ân công lao của Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa quân, người dân địa phương đã chung tay quyên góp xây dựng đền thờ vào năm 1956. Ngôi đền được xây dựng trên một khu đất rộng rãi, thoáng mát, với kiến trúc độc đáo theo kiểu chữ tam, bao gồm nhà võ ca và chánh điện, tạo nên không gian trang nghiêm và linh thiêng. Phát triển qua các thời kỳ Từ khi được khánh thành, đền thờ Đoàn Văn Cự đã trở thành nơi để người dân đến thắp hương tưởng niệm, cũng như tổ chức các lễ hội lớn hàng năm nhằm tôn vinh các anh hùng dân tộc. Qua các thời kỳ, đền thờ không ngừng được tu sửa, bảo tồn và phát triển, không chỉ giữ gìn giá trị văn hóa lịch sử mà còn phục vụ cho việc giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước và truyền thống dân tộc. Đền thờ trong đời sống hiện đại Ngày nay, đền thờ Đoàn Văn Cự không chỉ là một di tích lịch sử mà còn là điểm đến tâm linh thu hút đông đảo du khách và người dân địa phương. Đền thờ thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, giáo dục để nâng cao nhận thức về lịch sử và truyền thống yêu nước. Bảo tồn và phát huy giá trị của đền thờ đã trở thành trách nhiệm chung của cộng đồng, nhằm giáo dục thế hệ trẻ và giữ gìn ký ức về những anh hùng đã hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc. Kiến trúc và nghệ thuật nổi bật của đền thờ Đoàn Văn Cự Đền thờ Đoàn Văn Cự không chỉ là một di tích lịch sử quan trọng mà còn nổi bật với kiến trúc độc đáo và nghệ thuật tinh tế, thể hiện giá trị văn hóa và tâm linh của người dân nơi đây. Kiến trúc độc đáo: Đền thờ được xây dựng theo hình chữ tam, một kiểu kiến trúc truyền thống của Việt Nam, với hai phần chính: chánh điện và nhà võ ca. Chánh điện: Đây là phần quan trọng nhất của đền, nơi thờ tự chính dành cho linh hồn của Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa quân. Chánh điện được trang trí tinh xảo với các hoành phi, câu đối, phản ánh lòng kính trọng và tưởng nhớ của người dân đối với các vị anh hùng. Bên trong chánh điện, bức tượng của Đoàn Văn Cự được tôn thờ trang trọng, tạo cảm giác linh thiêng cho du khách khi ghé thăm. Nhà võ ca: Nằm bên cạnh chánh điện, nhà võ ca là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là các buổi biểu diễn hát bội trong những dịp lễ hội. Kiến trúc của nhà võ ca mang đậm nét văn hóa dân gian, với mái ngói và các họa tiết trang trí đặc sắc. Nghệ thuật trang trí: Các họa tiết trang trí tại đền thờ được thể hiện qua những hình ảnh mang đậm giá trị văn hóa dân tộc. Những bức tranh tường, điêu khắc gỗ và các tác phẩm nghệ thuật khác đều mang chủ đề về lòng yêu nước và sự hy sinh của các anh hùng. Các hoành phi, câu đối được viết bằng chữ Hán – Nôm với nội dung ca ngợi công lao của Đoàn Văn Cự, thể hiện tâm tư, tình cảm của người dân dành cho những người đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Không gian linh thiêng: Không gian của đền thờ được bố trí hợp lý, tạo cảm giác yên bình và trang nghiêm. Các yếu tố thiên nhiên như cây cối, hoa cỏ xung quanh đền cũng được chăm sóc kỹ lưỡng, tạo nên một môi trường trong lành, thuận lợi cho việc tưởng niệm và cầu nguyện. Đền thờ nằm trên một khu đất rộng rãi, thoáng mát, giúp du khách dễ dàng tìm thấy sự thanh tịnh khi đến viếng. Các hoạt động văn hóa nghệ thuật: Ngoài vai trò là nơi thờ tự, đền thờ còn là trung tâm tổ chức các lễ hội và hoạt động văn hóa, nghệ thuật, góp phần gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Những buổi lễ hội diễn ra tại đây không chỉ thu hút người dân địa phương mà còn đông đảo du khách, giúp kết nối cộng đồng và giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử và truyền thống yêu nước. Kiến trúc và nghệ thuật nổi bật của đền thờ Đoàn Văn Cự không chỉ thể hiện vẻ đẹp về mặt thẩm mỹ mà còn mang đậm giá trị văn hóa, tâm linh và lịch sử. Đền thờ là nơi để tưởng nhớ và tôn vinh những anh hùng dân tộc, đồng thời là điểm đến ý nghĩa cho những ai mong muốn tìm hiểu về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. Các hoạt động văn hoá và lễ hội tại đền thờ Đoàn Văn Cự Đền thờ Đoàn Văn Cự không chỉ là nơi thờ tự mà còn là trung tâm tổ chức nhiều hoạt động văn hóa và lễ hội truyền thống, góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa của địa phương. Dưới đây là những hoạt động nổi bật diễn ra tại đền thờ: Lễ hội tưởng niệm: Hàng năm, đền thờ tổ chức lễ hội tưởng niệm vào ngày kỷ niệm sự hy sinh của Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa quân. Lễ hội này thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham gia. Trong lễ hội, các hoạt động như dâng hương, thuyết trình về lịch sử, và trình diễn văn nghệ diễn ra sôi nổi, tạo không khí trang trọng và đầy ý nghĩa. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật: Đền thờ thường xuyên tổ chức các buổi biểu diễn văn nghệ, đặc biệt là các tiết mục hát bội, hát xoan, và các loại hình nghệ thuật truyền thống khác. Những hoạt động này không chỉ giúp gìn giữ văn hóa nghệ thuật dân gian mà còn tạo cơ hội cho người dân địa phương và du khách giao lưu, học hỏi. Ngày hội thể thao: Đền thờ cũng là nơi tổ chức các ngày hội thể thao, nhằm khuyến khích tinh thần thể dục thể thao trong cộng đồng. Các môn thể thao truyền thống như kéo co, đẩy gậy, và cờ tướng được tổ chức, thu hút sự tham gia của nhiều lứa tuổi, tạo ra bầu không khí vui tươi, gắn kết cộng đồng. Giáo dục lịch sử: Ngoài các hoạt động vui chơi giải trí, đền thờ còn tổ chức các buổi thuyết trình và hội thảo về lịch sử, nhằm giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống yêu nước và những giá trị lịch sử của dân tộc. Các chương trình này thường được tổ chức trong các dịp lễ hội hoặc vào dịp đầu năm học mới. Các hoạt động từ thiện: Đền thờ Đoàn Văn Cự cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động từ thiện, như quyên góp giúp đỡ các gia đình khó khăn, trẻ em mồ côi, và những người có hoàn cảnh khó khăn trong cộng đồng. Những hoạt động này không chỉ thể hiện tinh thần tương thân tương ái mà còn gắn kết tình cảm giữa người dân với nhau. Ý nghĩa văn hoá và tâm linh của đền thờ Đoàn Văn Cự Đền thờ Đoàn Văn Cự không chỉ là một di tích lịch sử mà còn mang trong mình những giá trị văn hóa và tâm linh sâu sắc, đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân địa phương. Tưởng nhớ và tri ân các anh hùng: Đền thờ là nơi tôn vinh và tưởng nhớ Đoàn Văn Cự cùng 16 nghĩa quân đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nó thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của người dân đối với những người đã hy sinh vì độc lập và tự do của Tổ quốc. Gắn kết cộng đồng: Đền thờ là một điểm đến quan trọng cho người dân địa phương và du khách, nơi mọi người có thể tụ họp, giao lưu và chia sẻ những giá trị văn hóa. Các lễ hội và hoạt động diễn ra tại đây tạo cơ hội gắn kết cộng đồng, củng cố tinh thần đoàn kết và tương trợ lẫn nhau. Giáo dục lịch sử và truyền thống: Đền thờ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử và truyền thống yêu nước. Các hoạt động giáo dục, thuyết trình tại đền giúp nâng cao nhận thức và lòng tự hào về văn hóa dân tộc. Bảo tồn văn hóa truyền thống: Đền thờ là biểu tượng của sự bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, từ kiến trúc đến các hoạt động nghệ thuật diễn ra tại đây. Những giá trị này không chỉ giúp gìn giữ bản sắc văn hóa mà còn làm phong phú thêm đời sống tinh thần của cộng đồng. Đền thờ Đoàn Văn Cự không chỉ là nơi thờ phụng mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa và lịch sử quý báu. Việc tham quan nơi đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những hy sinh của thế hệ đi trước. Hy vọng bài viết này sẽ truyền cảm hứng để bạn đến thăm và cảm nhận sâu sắc ý nghĩa của di tích này. Theo Yêu Lịch Sử https://yeulichsu.edu.vn/den-tho-doan-van-cu
Đình Tập Phước - Phước Hòa Chủ tịch UBND tỉnh phân cấp cho UBND xã Long Phước thực hiện quyền quản lý trực tiếp đối với di tích trên địa bàn; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quyền quản lý nhà nước, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị của di tích. Trước đó, để thực hiện hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích cấp tỉnh đối với di tích đình Tập Phước, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã lập hồ sơ và trình UBND tỉnh xem xét bổ sung 2 di tích (nhà cổ Võ Hà Thanh và đình Tập Phước - Phước Hòa) vào danh mục xếp hạng di tích - dang thắng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021 - 2025. Ngày 22/5/2025, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1669/QĐ-UBND bổ sung danh mục xếp hạng di tích - danh thắng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021 - 2025 đối với đình Tập Phước - Phước Hòa vào danh mục xếp hạng di tích - danh thắng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2021 - 2025. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo Bảo tàng tỉnh triển khai lập hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích đình Tập Phước. Bên trong chánh điện của đình Bảo tàng tỉnh đã phối hợp Phòng Văn hóa, Khoa học và Thông tin huyện Long Thành (cũ), UBND xã Long Phước, Ban Quý tế đình Tập Phước gặp gỡ nhân chứng, thu thập thông tin tư liệu, hình ảnh liên quan phục vụ lập hồ sơ khoa học di tích; tiến hành đo điều chỉnh và hoàn thiện Bản đồ khoanh vùng các khu vực bảo vệ di tích đình Tập Phước; tổ chức họp Hội đồng khoa học, sau khi nghiên cứu hồ sơ khoa học xếp hạng di tích, Hội đồng khoa học của Bảo tàng tỉnh thống nhất đề nghị đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, trình UBND tỉnh ban hành Quyết định xếp hạng di tích đình Tập Phước. Theo CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH ĐỒNG NAI https://dongnai.gov.vn/vi/news/Di-tich-Danh-thang/dinh-tap-phuoc-phuoc-hoa-vua-duoc-xep-hang-di-tich-lich-su-cap-tinh-58260.html
Nhà thờ Biên Hòa xây dựng lấy ý tưởng từ hình ảnh chiếc nón Đức Giáo Hoàng NHỮNG NGÀY ĐẦU VEN SÔNG Theo tài liệu của các xứ đạo lâu đời ở đất Biên Hòa cũng như các nguồn ghi chép lịch sử về Đồng Nai, những người Công giáo đã cùng với đồng bào lưu dân lập nghiệp ở đây theo bước chân khai hoang mở cõi của Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Lúc đầu họ dừng chân ở Bến Gỗ, Tân Triều…, đến năm 1861 mới có sự xuất hiện các tín hữu Công giáo trên đất Biên Hòa. Năm 1861, Biên Hòa vẫn có ngục thất giam giữ nhiều tín hữu. Khi quân Pháp trấn đóng ở Biên Hòa và từ đây không còn cảnh bắt đạo, người Công giáo dần trở về sinh sống. Họ tụ tại một khu đất dựng làng xóm, đó chính là khu vực chợ Biên Hòa ngày nay. Các nữ tu dòng Thánh Phaolô Sài Gòn được bề trên cử về phục vụ bệnh viện mới ở đây và giúp các sinh hoạt tôn giáo. Ban đầu linh mục Barou Besombe, tuyên úy của bệnh viện, phụ trách thêm việc mục vụ cho giáo dân. Năm 1863, giáo phận Đàng Trong cử cha G.A Creuse đến coi sóc giáo dân, và Biên Hòa mới chính thức trở thành giáo xứ. Cha Creuse cho xây một nhà thờ nhỏ. Cũng như Bến Gỗ, Tân Triều, ban đầu vị trí của họ đạo Biên Hòa nằm sát bờ sông, tiện cho việc bà con đi đường thủy đến nhà thờ. Tuy nhiên, sau khi xây dựng được vài năm, nhà thờ Biên Hòa được chuyển lùi vào phía trong để lấy chỗ cho chính quyền Pháp xây tòa nhà hành chính. Vị trí nhà thờ được giữ nguyên cho đến nay, nằm cạnh cơ sở của các nữ tu dòng Thánh Phaolô. Đây cũng là cơ sở dòng Thánh Phaolô duy nhất tại giáo phận Xuân Lộc. Tính từ cột mốc 1863, xứ Biên Hòa chỉ còn ít tháng nữa sẽ bước vào mốc 160 năm. Cha Creuse qua đời chỉ sau khi giáo xứ Biên Hòa thành lập được 3 năm, cha được an nghỉ tại nghĩa trang giáo xứ. Sau đó, cha P. Legrand về quản xứ tới tháng 8.1870 với số giáo dân là khoảng hơn 700 người. Ít năm sau, chính quyền Pháp tiến hành nâng cấp chợ, buộc các tiểu thương và dân trong khu vực thay nhà lá bằng nhà ngói. Nhiều gia đình người Công giáo không có tiền xây nên bỏ đất đi nơi khác sống. Số giáo dân sau đó sụt giảm, còn vỏn vẹn 300 tín hữu. Năm 1890, cha Errard về thay cha Legrand đã cho xây một ngôi nhà thờ bằng gạch. Năm 1872, nhà thờ khánh thành. Sau năm 1936 mới bắt đầu có các linh mục bản xứ coi sóc giáo xứ Biên Hòa. Trong các cha phó từng phục vụ xứ có Đức cha Tôma Nguyễn Văn Trâm, Giám mục Chánh tòa tiên khởi giáo phận Bà Rịa. Ngoài ra, trong những hoa trái đời dâng hiến của họ đạo còn có Đức cha Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn, hiện là Giám mục giáo phận Bà Rịa. Số giáo dân dần tăng, rõ rệt là từ năm 1986, thời kỳ đất nước đổi mới, thành thị phát triển cũng như sự ra đời các khu công nghiệp tại Biên Hòa. Đời sống đức tin của họ đạo cũng trải qua nhiều biến đổi. Bên trong nhà thờ NGÔI THÁNH ĐƯỜNG HÌNH CHIẾC NÓN GIÁO HOÀNG Năm 1966, cha Tôma Nguyễn Văn Sum từ họ đạo Dầu Giây về coi xứ Biên Hòa. Năm 1972, cha Sum khởi công xây lại nhà thờ mới. Nhiều bậc lớn tuổi còn nhớ công trình này được xây tới năm 1975 thì tạm ngưng vì hết kinh phí, nhiều năm sau mới được tiếp tục. Năm 1991, ngôi thánh đường chính thức hoàn thành và tồn tại hơn hai mươi năm thì được xây mới dưới thời cha Philipphê Lê Văn Năng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt. Năm 1998, cha Philipphê Lê Văn Năng về quản xứ thay cha Sum. Sau nhiều năm chuẩn bị, công trình xây dựng Nhà thờ mới bắt đầu từ đầu năm 2008. Hai năm sau, công trình hoàn tất và thánh lễ cung hiến diễn ra vào ngày 13.10.2010. Nằm ở vị trí trung tâm đối diện vòng xoay giữa các tuyến phố lớn, ngôi nhà thờ mới ít nhiều gây sự chú ý bởi hình dáng đặc biệt. Nhà thờ được thiết kế theo hình ảnh chiếc mũ của Đức Giáo Hoàng. Với tổng thể kiến trúc theo hình rẻ quạt, hướng ra hai con đường lớn trước mặt. “Quạt là phương tiện đưa gió mát đến cho con người. Luồng gió mới mà cộng đoàn giáo xứ Biên Hòa muốn gởi đến mọi người chính là tình thương được kín múc từ Thánh Thể và Lời Chúa. Và vì thế, ngay trước tiền sảnh còn có ghi bài học mà Chúa Giêsu đã dạy phải sống: ‘Đây là giới răn của Thầy: các con hãy yêu thương nhau’. Như vậy, nhà thờ chính là cây quạt dùng để phân phát luồng gió yêu thương đến mọi người”, cha Philipphê Lê Văn Năng đã chia sẻ điều này trong ngày cung hiến thánh đường. Mặt tiền nhà thờ ở trên vị trí cao nhất có tượng Chúa Kitô Vua giang rộng tay. Phía dưới là 13 bức tượng thánh tông đồ bổn mạng 13 xóm đạo ôm thành hình vòng cung, tượng trưng cho cánh tay nối dài của Chúa mang Tin Mừng cho nhân loại. Cửa chính nhà thờ mang hơi thở phương Đông với điêu khắc biểu tượng trống đồng. Thánh Phêrô và Phaolô là bổn mạng giáo xứ nên hai pho tượng lớn của hai vị được đặt ngay cầu thang chính ở tiền sảnh. Bên trong nhà thờ có chân dung 266 vị giáo hoàng tính từ thánh Phêrô đến Đức Thánh Cha Phanxicô. Hai bên cung thánh còn có hai bức tranh ghép từ hàng ngàn mảnh đá màu nhỏ theo nghệ thuật mosaic. Bức bên trái tạc hình Chúa Thánh Thần trên Đền Thánh Phêrô và mẫu ảnh Lòng Chúa Thương Xót. Dưới bàn thờ trung tâm có hộp đá niêm ấn hài cốt các thánh tử đạo Philipphê Phan Văn Minh, Matthêu Lê Văn Gẫm và Inê Lê Thị Thành… Còn rất nhiều các chi tiết, biểu tượng được xây dựng, thiết kế chăm chút mang nhiều ý nghĩa khác. Sức chứa nhà thờ vào khoảng 3.000 người cho một thánh lễ. Ngoài nhà thờ, các công trình phụ khác cũng được hoàn thiện và đưa vào sử dụng cùng thời gian. Tuy xây mới nhưng hiện nhà thờ vẫn giữ lại một số di tích cổ gắn với giáo xứ như quả chuông trên 130 năm, tượng Thánh Tâm Chúa trên 100 tuổi… Nhà nguyện Hoa Lư thuộc giáo xứ Biên HòaNhãn NÉT SỐNG ĐẠO CỦA XỨ TRÊN 15.000 TÍN HỮU Từ những ngày đầu giáo xứ đặt nền móng với con số tín hữu chỉ vài trăm, đến nay, dựa trên sổ rửa tội là khoảng trên 15.000 người, chiếm tỷ lệ gần 8% trên tổng số dân địa phương. Nằm ở vị trí trung tâm một thành phố sôi động, xứ Biên Hòa còn là đất lành quy tụ nhiều bà con di dân. Do vậy, các thánh lễ mỗi ngày, đặc biệt lễ Chúa nhật, mỗi lễ đều có trên 1.000 người tham dự. Nhà nguyện Hoa Lư nằm cách nhà thờ Biên Hòa chỉ khoảng chưa tới 1 cây số, mỗi lễ Chúa nhật cũng gần 1.000 người đến đi lễ. Đây là nhà nguyện được họ đạo Biên Hòa dựng từ năm 1957. Người nhập cư về Biên Hòa nhiều cũng góp phần làm nhịp sống ở một xứ đạo lâu đời thêm màu sắc. Theo ghi nhận không chính thức, thành phần giáo dân hiện nay khá đa dạng, dù buổi ban đầu đa số là người Nam bộ. “Bắc, Trung, Nam, đa dạng văn hóa, đa dạng ngành nghề, đông đảo di dân là nét đặc trưng của giáo xứ ở trung tâm một thành phố lớn như Biên Hòa. Ngoài ra, với địa bàn rộng, giáo dân đông nhưng lại không sống tập trung cũng là thách đố của giáo xứ trong truyền giáo và giữ gìn truyền thống”, cha chánh xứ hiện tại Đaminh Trần Công Hiển chia sẻ. Nói về sự chan hòa cũng như làm rõ thêm sự đa dạng, phong phú trong nếp sống đạo ở xứ Biên Hòa, cha Đaminh Trần Công Hiển kể nhiều ví dụ như khi xin lễ có rất nhiều ý lễ của người trong đạo dành cho người ngoại đạo và ngược lại. Với số lượng di dân lớn, giáo xứ mỗi năm khai giảng liên tiếp 4 khóa giáo lý tân tòng, hôn nhân… Hằng năm, trung bình có hơn 100 tân tòng được rửa tội. Thánh lễ sử dụng tiếng Anh bắt đầu được từ đầu tháng 9 vừa qua Vào đầu quý IV/2022, giáo xứ có thêm thánh lễ bằng tiếng Anh cho người nước ngoài vào sáng Chúa nhật. Thánh lễ này khá đặc biệt vì hiện trong giáo phận Xuân Lộc dường như chưa có. Khoảng chục năm trở lại đây, khi thành phố Biên Hòa mở nhiều tuyến đường mới, nhiều khu phố mới hình thành… đã thu hút khá đông người nước ngoài về làm việc. Lễ tiếng Anh có gần 200 người nước ngoài tham dự. Có nhiều người là giáo viên của ngôi trường quốc tế nằm cạnh nhà thờ. Đặc biệt, để thánh lễ diễn trang trọng, đồng thời tạo sự liên kết, cha Đaminh cũng quy tụ ca đoàn để tập hát lễ tiếng Anh. Ca đoàn có trên 50 thành viên. Không chỉ người nước ngoài mà có nhiều người Việt thích tiếng Anh. Anh Nguyễn Đức Hậu, từng có thời gian học ở Phillipines, cho biết: “Tôi bỏ tiếng Anh một thời gian không dùng nên cũng có phần quên nhưng giáo xứ chuẩn bị cả giấy in hỗ trợ song ngữ rất chu đáo. Bạn tôi người nước ngoài đang sống ở Biên Hòa cũng rất vui vì có thể dự lễ. Mong sao thánh lễ tiếng Anh sẽ được duy trì và phát triển bền bỉ”. Gần tròn 160 năm qua đi, tính từ những nền móng vững chắc mà tiền nhân gầy dựng, xứ đạo Biên Hòa vẫn đang và sẽ viết tiếp hành trình của mình bằng nhiều màu sắc sống động hơn. Theo Báo Công giáo và Dân tộc https://cgvdt.vn/hanh-trinh-160-nam-xu-dao-bien-hoa_a15647
Đình Phước Lư được xếp hạng di tích theo Quyết định số 4236/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đồng Nai ngày 10-11-2020 Đình thờ thần Thành hoàng và phối tự: Tiên sư, Hậu hiền, Tiền hiền, Thần Nông, Chiến sĩ trận vong… Hằng năm, đình tổ chức lệ Kỳ yên vào ngày 16, 17-11 âm lịch với mục đích cầu hòa bình cho đất nước, bình an cho dân làng và mùa màng bội thu “Quốc thái dân an, Phong điều vũ thuận, Phong đăng hòa cốc”. Hoành phi, liễn đối, bao lam tiền đình Phước Lư Nội đình là công trình kiến trúc nghệ thuật khá độc đáo về chạm khắc gỗ của những nghệ nhân xứ Biên Hòa. Điều này phản ánh qua các hương án, bao lam, hoành phi, liễn đối bằng gỗ trong đình với kỹ thuật chạm lộng tạo hình khối, đề tài khá đa dạng: lưỡng long, tứ linh, chữ Hán, tượng người, tượng thú, hoa văn… Tính dung hợp khá rõ về tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện qua mảng trang trí như bao lam khắc họa 72 học trò tiêu biểu của Nho giáo (Thất thập nhị hiền), điển tích của Đạo giáo (Nhị thập bát tú, Tam thánh, Ngũ hiền, Bát tiên) nhắc nhở con người về sự hiếu học, tu dưỡng đạo đức, hướng đến chân, thiện, mỹ. Chánh điện đình với hoành phi, bao lam chạm khắc sắc sảo Đặc biệt, bốn mặt hương án chính được chạm khắc các mảng đề tài về các anh hùng dân tộc trong sự nghiệp chống ngoại xâm: Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống Hán, Lý Thường Kiệt chống Tống, Lê Lợi kháng chiến chống Minh… Hươu và cá heo trang trí trên bao lam Trên một số bao lam, hình ảnh của muông thú gắn liền với một số điển tích và phản ánh sinh động về thiên nhiên Đồng Nai xưa: nai, hươu, cá heo (cá nược), khỉ, chó, gà, chim sẻ, thỏ… Hiện nay, đình đã trải qua nhiều lần trùng tu, được bảo vệ tốt, duy trì các sinh hoạt trong đời sống tinh thần của người dân địa phương. Cán bộ nghiệp vụ bảo tàng tiến hành bảo quản trong chánh điện Theo Báo Đồng Nai https://baodongnai.com.vn/dong-nai-cuoi-tuan/202207/ngoi-dinh-doc-dao-o-bien-hoa-3124646/
Năm 1715, sau khi lập nên dinh Trấn Biên, nhằm có nơi để bảo tồn, phát huy và tôn vinh các giá trị văn hóa - giáo dục của dân tộc Việt trên vùng đất mới, Minh vương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) đã sai Trấn thủ Nguyễn Phan Long và Ký lục Phạm Khánh Đức xây dựng Văn Miếu Trấn Biên. Đây chính là Văn Miếu đầu tiên được xây dựng tại xứ Đàng Trong, có trước cả Văn Miếu Huế (1808). Sách Đại Nam nhất thống chí, bộ sách dư địa chí Việt nam viết bằng chữ Hán, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn vào thời vua Tự Đức, có viết: "Văn Miếu Trấn Biên được xây dựng trên thế đất đẹp, phía Nam trông ra sông Phước Giang, phía Bắc dựa vào núi Long Sơn, là một nơi cảnh đẹp thanh tú, cỏ cây tươi tốt. Bên trong rường cột chạm trổ, tinh xảo...". Cổng vào Văn Miếu Trấn Biên ở thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. Cổng Đại Thành Môn của Văn Miếu Trấn Biên. Toàn cảnh Văn Miếu Trấn Biên nhìn từ trên cao. Được xây dựng vào năm 1715, Văn Miếu Trấn Biên ở Biên Hòa - Đồng Nai đã trở thành trung tâm đào tạo nhân tài của xứ Đàng Trong. Khuê Văn Các trong Văn Miếu Trấn Biên. Kiến trúc nổi bật vớinhững vòm mái cong lợp ngói lưu ly màu xanh ngọc bằng gốm tráng men. Năm 1998, Văn Miếu Trấn Biên đã được khởi công khôi phục lại trên nền đất cũ và hoàn thiện vào năm 2002. Hình tượng rồng được trang trí trên mái ngói trong Văn Miếu Trấn Biên. Văn Miếu Trấn Biên là nơi thờ phụng các danh nhân văn hóa tiêu biểu của đất nước. Ánh thờ nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 - 1784). Tượng đức Khổng Tử. Văn Miếu Trấn Biên là biểu tượng cho truyền thống hiếu học của người dân đất phương Nam. Trong gian thờ chính của Văn Miếu Trấn Biên có trưng bày 18kg đất và 18 lít nước được mang về từ đền Hùng (Phú Thọ), biểu trưng cho 18 đời vua Hùng, cội nguồn của dân tộc Việt Nam Vào năm 1794, Văn Miếu Trấn Biên được trùng tu và mở rộng quy mô với nhiều hạng mục: Đại thành điện, Đại thành môn, Thần miếu, Dục Thánh từ, Khuê Văn các, Dụng lễ đường, Sùng văn đường... Trước khi lên ngôi năm 1802, hàng năm chúa Nguyễn Phúc Ánh đều đến Văn Miếu Trấn Biên để hành lễ hai lần vào mùa xuân và mùa thu. Nhưng thời gian sau đó, quan Tổng trấn thành Gia Định đã thay mặt vua, cùng với Trấn quan Biên Hòa và quan Đốc học đến hành lễ. Cùng với những biến động của lịch sử, Văn Miếu Trấn Biên phải trải qua nhiều lần trùng tu. Đến năm 1998, nhân kỷ niệm Biên Hòa 300 năm hình thành và phát triển, Văn Miếu Trấn Biên đã được khởi công khôi phục lại trên nền đất cũ. Sau khi xây dựng hoàn thiện vào năm 2002, Văn Miếu Trấn Biên trở thành một tổng thể kiến trúc – nghệ thuật uy nghi, đẹp đẽ thuộc phường Bửu Long, Tp. Biên Hòa (Đồng Nai). Đến Văn Miếu Trấn Biên, du khách sẽ được tham quan các hạng mục như: Nhà Bia, Khuê Văn Các, hồ Thiên Quang Tỉnh, cổng Đại Thành, nhà thờ Đức Khổng Tử và sau cùng là nhà thờ chính. Thông qua bài văn bia khắc trên hai mặt đá của Giáo sư - Anh hùng Lao động Vũ Khiêu biên soạn, du khách sẽ hiểu khái quát được truyền thống văn hóa, giáo dục của dân tộc và của vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. Văn Miếu Trấn Biên đặt gian trung tâm để thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1969), vị Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Danh nhân văn hóa Thế giới. Sau lưng tượng thờ Chủ tịch là hình ảnh Trống đồng Ngọc Lũ, biểu tượng cho nền văn hóa Việt Nam. Phía gian bên trái nhà là nơi thờ các danh nhân văn hóa Việt Nam như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn… Gian bên phải thờ danh nhân đất Nam Bộ như Võ Trường Toản, Đặng Đức Thuật, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu. Mỗi năm, Văn Miếu Trấn Biên đón gần 200.000 lượt khách tham quan. Tại đây, cũng diễn ra các hoạt động có ý nghĩa như: Lễ viếng các bậc tiền nhân, Lễ báo công, Tuyên dương tài năng trên các lĩnh vực, các hoạt động lễ hội, biểu diễn nghệ thuật, thả thuyền trên hồ.../.
Những ngày cuối tháng 3, chúng tôi có dịp về thăm quan Di tích Quốc gia đặc biệt Bộ Chỉ huy Miền (Bộ Chỉ huy quân giải phóng miền Nam Việt Nam), còn gọi là Căn cứ Tà Thiết (tại huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước). Nằm trong hệ thống các căn cứ địa của miền Đông Nam bộ, căn cứ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam với những đặc điểm riêng của mình đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Toàn bộ khu di tích được quy hoạch 3.200 ha, trong đó có các hạng mục di tích được quy hoạch với tổng diện tích 385 ha gồm: Đài tưởng niệm, phòng trưng bày, các khu nhà làm việc, nơi ở, hệ thống sân vườn, hệ thống đường bộ, đường vận hành xe điện thoáng đãng, sạch sẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa đón du khách tham quan. Khu di tích còn được đầu tư hệ thống khách sạn lưu trú, cùng hệ thống nhà hàng phục vụ nhu cầu ăn uống cho du khách... Ngày trước, người dân trong vùng thường gọi nơi đây là “Rừng Chính phủ” vì được Quân ủy và Bộ Tư lệnh các lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam và Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh chọn làm căn cứ. Ngày 7/4/1972, Lộc Ninh là huyện đầu tiên của miền Nam được giải phóng, do đó Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền quyết định dời căn cứ từ Chiến khu Dương Minh Châu - Tây Ninh về đóng tại Tà Thiết. Lộc Ninh là điểm cuối cùng của đường mòn Hồ Chí Minh nên có điều kiện để nắm bắt nhanh mọi diễn biến về chính trị, quân sự và rất thuận lợi cho sự lãnh đạo, chỉ đạo và tiếp nhận vũ khí, lương thực, thực phẩm phục vụ cho chiến trường miền Nam. Đầu tháng 3/1973, căn cứ Tà Thiết bắt đầu được xây dựng và được xác định là căn cứ cuối cùng của cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tại đây, dưới những tán cây lớn, rừng le đan xen chằng chịt là những công trình nhà làm việc của các đồng chí chỉ huy cao cấp trong Bộ Tư lệnh Miền thời bấy giờ như: Đại tướng Lê Đức Anh, Thượng tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Nguyễn Thị Định… Tất cả các công trình đều được xây dựng theo lối nhà bán âm (nửa chìm nửa nổi), có hệ thống hầm hào bí mật. Căn cứ Tà Thiết đã ghi dấu ấn nhiều sự kiện lịch sử trọng đại trong quá trình đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Đây là nơi tổ chức hội họp, tiếp đón các phái đoàn cao cấp của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tham mưu, Trung ương Cục miền Nam để bàn kế hoạch xây dựng lực lượng vũ trang, triển khai các phương án tác chiến, các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương. Ngày 3/4/1975, nơi đây đã đón đoàn cán bộ cao cấp của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam do Đại tướng Văn Tiến Dũng dẫn đầu về họp bàn xây dựng kế hoạch giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Ngày 8/4/1975, đồng chí Lê Đức Thọ thay mặt Bộ Chính trị phổ biến Nghị quyết của Đảng về việc thành lập Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định. 19 giờ ngày 14/4/1975, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận được bức điện mật của Tổng Bí thư Lê Duẩn về việc đồng ý đổi tên Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định thành tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Cũng tại nơi đây, ngày 30/4/1975, các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch đã cùng nhau ngồi nghe trên sóng phát thanh Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và dân ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà... Căn cứ Tà Thiết không chỉ ghi dấu những sự kiện lịch sử có ý nghĩa to lớn của dân tộc trong thế kỷ XX mà còn thể hiện tinh thần kiên cường, bất khuất của dân tộc, trí tuệ và tài năng của con người Việt Nam. Ngày 23/12/2015, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận Di tích căn cứ Bộ Chỉ huy quân giải phóng miền Nam Việt Nam là di tích quốc gia đặc biệt. Chiến tranh đã lùi xa, những con người từng sống và làm việc ở căn cứ Tà Thiết năm xưa, nay có người đã trở về với tổ tiên. Với những người đang sống, họ vẫn giữ được khí phách anh hùng, niềm lạc quan và tích cực đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Căn cứ Tà Thiết đã trở thành di tích lịch sử quý giá, nơi góp phần giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống lịch sử chiến đấu hào hùng của các thế hệ cha anh Mỗi năm, nơi đây đón trên 40.000 lượt khách đến tham quan, học tập, nghiên cứu và tổ chức các hoạt động về nguồn, các hoạt động ý nghĩa khác. Theo Quân Khu 7 https://baoquankhu7.vn/ve-loc-ninh-tham-di-tich-quoc-gia-dac-biet-bo-chi-huy-mien--853531976-0027635s34010gs