Hà Tĩnh - Hà Tĩnh

Hà Tĩnh

Hà Tĩnh
Bài viết nổi bật
Chùa Hương Tích Hà Tĩnh – Ngôi chùa cổ linh thiêng lâu đời
DI TÍCH - DI SẢN 26/01/2026
Chùa Hương Tích Hà Tĩnh – Ngôi chùa cổ linh thiêng lâu đời

Bạn đang ở Hà Tĩnh hay đến du lịch Hà Tĩnh, cần tìm một nơi thanh tịnh, yên bình để thư giãn thì chùa Hương Tích chắc chắn là điểm đến không thể tuyệt vời hơn. Hà Tĩnh là vùng đất có nhiều ngôi chùa nổi tiếng. Chùa Hương Tích Hà Tĩnh ở đâu? Chùa Hương Tích hay Hương Tích Cổ Tự, dân gian gọi là chùa Thơm. Giống như tên gọi, ngôi chùa này được xây dựng trên đỉnh Hương Tích của dãy núi Hồng Lĩnh. Thuộc địa phận xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Chùa Hương Tích nằm trên đỉnh Hương Tích của dãy núi Hồng Lĩnh. Chùa Hương Tích cao bao nhiêu mét? Theo như vị trí, chùa nằm ở độ cao 650m so với mực nước biển. Nhờ vậy nên cảnh quan và khí hậu ở đây cũng có phần ưu ái hơn so với những ngôi chùa khác ở trung tâm. Chùa Hương Tích Hà Tĩnh thờ ai? Chùa Hương Tích ở Hà Tĩnh là quần thể di tích văn hóa có quy mô lớn và theo phái Phật Giáo Bắc Tông nên chùa hiện đang thờ Phật Quan Âm Bồ Tát. Kết hợp các đền thờ Thần với tín ngưỡng thờ mẫu và tín ngưỡng nông nghiệp. Ngôi chùa này thờ Phật Quan Âm Bồ Tát kết hợp các đền thờ Thần. Lịch sử chùa Hương Tích Hà Tĩnh Theo các tài liệu thuyết minh chùa Hương Tích Hà Tĩnh, ngôi chùa này được vào khoảng thế kỷ 13 (thời nhà Trần) nhưng một trận cháy khiến chùa không còn nguyên vẹn (vào năm 1885). Năm 1901, chùa Hương Tích được trùng tu lại. Đến năm 1936, hình ảnh chùa được vua Bảo Đại cho chạm khắc vào Anh Đỉnh tại Đại Nội Huế. Đến 1990 thì chính thức được công nhận là Di tích văn hóa và thẳng cảnh cấp Quốc gia. Chùa Hương Tích từ khi xây dựng đến nay đã qua nhiều lần tu sửa. Sau này, chùa Hương Tích Hà Tĩnh trải qua thêm hai lần trùng tu nữa vào năm 2003 và 2006 rồi giữ đến tận bây giờ. Sự tích chùa Hương Tích Hà Tĩnh Chùa Hương Tích gắn liền với sự tích công chúa Diệu Thiện. Đây là con gái của vua Sở Trang Vương. Ông có 3 người con, Diệu Thiện là con gái út. Khi con gái đến tuổi trưởng thành, vì muốn con gái có chỗ dựa vững chắc về sau, vua muốn các con lấy các quan thần trong Triều. Nhưng công chúa Diệu Thiện lại kiên quyết phản đối tư tưởng này. Vì quá đau lòng, nàng đã bỏ đi, sau đó đến dựng am và nương nhờ nơi cửa Phật trên đỉnh núi Hồng Lĩnh (là chùa Hương Tĩnh Hà Tĩnh bây giờ). Sự tích về chùa Hương Tích gắn liền với công chúa Diệu Thiện. Sau này khi hay tin cha bị bệnh, nàng đã nguyện hiến dâng cả tròng mắt và bàn tay để cứu cha. Đức Phật cảm động trước tình cảm này đã hóa phép cho mắt nàng sáng tại, tay cũng mọc lại. Từ đó nàng tu hành đắc đạo và hóa thành Phật Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Tại nơi công chúa Diệu Thiện tu hành, người dân địa phương đã xây dựng một ngôi chùa và lấy tên là Hương Tích. Cách đi chùa Hương Tích Hà Tĩnh như thế nào? Từ trung tâm thành phố Hà Tĩnh, đi theo hướng quốc lộ 1A là đến thị trấn Nghèn – Hương Lộc. Sau đó đi thêm 7km nữa tới núi Hồng Lĩnh. Khi đến chân núi sẽ có 3 lựa chọn để di chuyển lên chùa. Đi bộ theo triền núi lên chùa Đường đi chùa Hương Tích Hà Tĩnh dài khoảng 3km. Từ chân núi bạn đi bôn theo triền núi để đến miếu Linh Sơn. Từ đây đi tiếp để đến chùa chính, vừa đi có thể dừng ngắm cảnh. Nếu có đủ sức khỏe bạn có thể đi bộ lên chùa. Tuy nhiên, lưu ý là cần có thể lực tốt nhé. Bạn có thể thắp hương ở miếu trước khi đi để trình báo, cầu chư vị Thần linh che chở giúp cho hành trình được an toàn, suôn sẻ. Đi cáp treo chùa Hương Tích Hà Tĩnh Nếu không đủ thể lực hoặc đơn giản muốn nhanh hơn thì hãy đi cáp treo. Bạn vẫn đi chuyển tới miếu Cô rồi mua vé cáp treo và đi từ ga miếu Cô lên đền Thượng. Chỉ mất tầm 4 phút là tới, tiết kiệm thời gian, sức lực. Đi cáp treo chỉ mất tầm 4 phút. Tất nhiên nếu muốn đi cáp, bạn phải mua giá vé đi cáp treo chùa Hương Tích Hà Tĩnh nhé. Giá vé mua ở dưới chân núi. Di chuyển bằng thuyền Thêm một cách đi chùa Hương Tích Hà Tĩnh nữa là đi thuyền. Lộ trình này sẽ xuất phát từ miếu Linh Sơn dọc theo hồ Nhà Đường, tầm 1,5km là tới miếu Cô. Đi thuyền cũng là trải nghiệm khác lạ. Sau khi đã tới được miếu Cô, bạn chọn cách đi bộ hoặc mua vé cáp treo chùa Hương Tích Hà Tĩnh để có mặt tại chùa. Cách này sẽ có thêm nhiều trải nghiệm non nước mây trời thú vị nhưng phải di chuyển tới 2 chặng hơi vất vả một chút. Đến chùa, bạn có thể thuê xe điện chùa Hương Tích Hà Tĩnh để tiện cho việc tham quan quần thể chùa. Giờ mở cửa và giá vé chùa Hương Tích Hà Tĩnh Trước khi khám phá ngôi chùa này, đừng quên tìm hiểu về giờ mở cửa cũng như giá vé để có sự chuẩn bị chu đáo. Chùa Hương Tích Hà Tĩnh có mở cửa không? Chùa Hương Tích mở cửa cả ngày và cho phép du khách đến tham quan quanh năm. Do đó, bạn có thể đến đây bất cứ giờ nào trong ngày.  Giờ mở cửa chùa: 6h – 21h Giờ hoạt động cáp treo: 7h – 17h Chùa Hương Tích mở cửa cho khách tham quan cả ngày. Vé đi chùa Hương Tích Hà Tĩnh bao nhiêu? Khác với các ngôi chùa khác, muốn vào chùa Hương Tích bạn phải mua vé vào cổng. Bên cạnh đó còn có một số dịch vụ có phí khác. Bạn tham khảo bảng giá dưới đây: Loại vé Giá vé (VNĐ) Vé tham quan Người lớn: 20.000, trẻ em: 10.000 Vé thuyền 10.000/lượt Vé xe điện 35.000/chiều, 70.000/khứ hồi Giá vé cáp treo chùa Hương Tích Hà Tĩnh Người lớn: 150.000/chiều, 200.000/khứ hồi Trẻ em: 100.000/chiều, 15.000/khứ hồi Vé gửi xe Từ 10.000 – 15.000 (tùy loại xe) Bạn có thể đăng ký tour du lịch chùa Hương Tích Hà Tĩnh trọn gói tại trung tâm điều hành và Công ty Lữ hành quốc tế Thành Sen nằm ở phía bên trái chùa. Nếu đi tour, bạn sẽ được sử dụng các dịch vụ ưu tiên. Trong suốt hành trình cũng có hướng dẫn viên đồng hành. Ngoài tự túc bạn có thể đi tour để tham quan chùa. Tùy vào lựa chọn và gói dịch vụ bạn sử dụng mà giá vé sẽ khác nhau. Dao động từ 320.000 – 370.000vnđ/người. Du lịch chùa Hương Tích Hà Tĩnh thời gian nào phù hợp? Với kiểu không khí trong lành, mát mẻ quanh năm, do đó bạn có thể đến đây vào bất cứ thời điểm nào. Tuy nhiên, Hà Tĩnh cũng có một mùa mưa rét nên tốt nhất bạn vẫn nên đi vào mùa khô (tháng 3 – tháng 8).  Mùa khô hoặc dịp đầu năm phù hợp để viếng thăm chùa. Thời gian này trời nắng ráo, thuận tiện để di chuyển, leo núi và vui chơi, vãn cảnh. Hoặc mùa lễ hội chùa Hương Tích Hà Tĩnh hay Tết cũng là lựa chọn lý tưởng vì có nhiều hoạt động.  Đi chùa Hương Tích Hà Tĩnh cầu gì, có gì thú vị? Là một tín đồ du lịch tâm linh, khi đến Hà Tĩnh chắc chắn bạn sẽ không thể bỏ qua chùa Hương Tích. Không chỉ mãn nhãn với cảnh quan, bạn còn được khám phá nhiều điều khác. Hòa mình vào cảnh núi non hùng vĩ Tọa lạc ở độ cao 650m so với mực nước biển, bao bọc xung quanh là núi non hùng vĩ, khiến chùa Hương Tích Hà Tĩnh trở thành nơi lý tưởng để thư giãn.  Cung đường từ chân núi dẫn đến chùa dốc thoải, được thiết kế những bậc thang. Đi theo lối này lên cao, bạn sẽ bao quát được khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, xanh ngắt. Hoặc bạn cũng có thể đi cáp treo để bắt trọn cảnh này. Khung cảnh núi non hùng vĩ khiến ai cũng thích thú. Đứng giữa không gian rộng lớn, linh thiêng của chùa Hương Tích Hà Tĩnh, trong bầu không khí trong lành, mát mẻ. Bạn sẽ thấy tâm hồn thật thư thái, bình yên, quên đi những mệt mỏi thường ngày. Khám phá kiến trúc độc đáo của ngôi chùa Chùa Hương Tích Thiên Lộc Can Hà Tĩnh là một quần thể kiến trúc tôn giáo. Ngoài chùa thờ Phật là công trình chính thì còn nhiều công trình khác thờ các vị Tần khác. Review chùa Hương Tích Hà Tĩnh gồm có 3 khu chính: Am Thánh Mẫu, Thượng Điền và Đền Thiên Vương. Nổi bật trong số này là Điện Tam Bảo. Kiến trúc ngôi chùa mang đậm nét cổ kính. Các bậc đá, nền đá mang đậm vẻ rêu phong với kết cấu gần như còn nguyên vẹn như cũ. Cùng với các cây cổ thụ lâu năm với bộ rễ lớn, cành lá sum suê,… tất cả in hằn, tạo nên vẻ đẹp cổ kính vượt thời gian. Chiêm ngưỡng các pho tượng chùa Hương Tích Hà Tĩnh Điện Tam bảo luôn thu hút du khách đến tham quan, dâng hương nhiều nhất. Bên trong đặt 54 pho tượng Phật bằng gỗ có lịch sử hàng nghìn năm. Pho tượng bằng đồng độc đáo trong điện Tam Bảo. Đặc biệt. ngôi chùa này hiện đang lưu giữ một tòa Cửu Long bằng đồng đen cực kỳ quý hiếm. Cùng 2 pho tượng Phật và chuông cổ. Nếu tới đây bạn hãy ghé qua để trực tiếp tận mắt chiêm ngưỡng nhé! Chiêm bái cầu bình an cho bản thân, gia đình Chùa Hương Tích Hà Tĩnh là điểm đến tâm linh nổi tiếng. Hàng năm, nhất là vào dịp Tết, lễ hội, du khách và các tín đồ Phật tử lại tìm về đây để vãn cảnh, để chiêm bái cầu bình an, may mắn cho bản thân và những người thân yêu. Ai đến đây cũng đều muốn cầu sự bình an. Nếu bạn tin vào tâm linh, đi theo Phật giáo thì nhớ chuẩn bị lễ ngọt hoặc đồ chay, nến, hương,… Có thể thêm một ít tiền mặt để bỏ hòm công đức, thành tâm xin khấn nhé! Tham gia lễ hội chùa Hương Tích Hà Tĩnh  Lễ hội chùa Hương Tích ở Hà Tĩnh sẽ được tổ chức sau Tết Nguyên Đán (bắt đầu từ đầu tháng Giêng đến hết tháng 3 Âm lịch). Trong đó, ngày 18/2 là ngày chính của lễ hội tại chùa (ngày công chúa Diện Thiện hóa thân thành Phật). Tham gia lễ hội là điều không nên bỏ lỡ. Đây là một nét đẹp văn hóa tín ngưỡng truyền thống của người dân địa phương. Dịp để du khách thập phương đến trải nghiệm các hoạt động văn hóa dân gian xưa và tham gia vào nhiều hoạt động đặc sắc. Tìm hiểu về chùa Hương Tích Hà Tĩnh và lưu ý cần biết Cũng như bao ngôi chùa khác, khi viếng thăm chùa Hương Tích Thiên Lộc Can lộc Hà Tĩnh bạn cần lưu ý một vài điều quan trọng sau: Ăn mặc lịch sự, kín đáo như áo quần dài tay, váy đầm dài,… để không ảnh hưởng đến không khí trang nghiêm ngôi chùa. Đường lên chùa Hương Tích không quá xa nhưng dốc, nên nếu muốn đi bộ bạn cần đảm bảo đủ sức khỏe và mang giày thể thao tiện di chuyển. Khi tham quan chùa, chú ý giữ gìn vệ sinh chung và trật tự, không chạy nhảy, bỏ rác bừa bãi. Chùa Hương Tích Hà Tĩnh có bao nhiêu bậc thang? với 500 bậc cấp, bạn hãy giữ tinh thần và sức khỏe để leo nhé. Nếu sợ mệt hãy chọn cáp treo.  Khu vực này khá xa trung, nếu không ở lại bạn nên sắp xếp thời gian vui chơi phù hợp.   Ăn mặc lịch sự và nói năng nhỏ nhẹ nhé! Nếu có bất cứ sự cố hay điều gì cần phản ánh, bạn có thể liên hệ với ban quản lý chùa Hương Tích Hà Tĩnh để được giúp đỡ. Chuẩn bị nước uống, đồ ăn nhẹ phòng khi đói khát như: nước đóng chai, bánh ngọt, bánh mì, trái cây,… không nên đem đồ ăn mặn. Với vị trí tuyệt đẹp trên giữa núi rừng rộng lớn, cảnh quan tuyệt đẹp và không gian yên bình, chùa Hương Tích Hà Tĩnh luôn là điểm đến yêu thích của du khách. Nếu bạn đang cần tìm một nơi an yên để thư giãn, gạt bỏ những muộn phiền trong lòng? Hãy ghé ngôi chùa này ngay nhé! Theo Du Lịch Hà Tĩnh https://dulichhatinh.com.vn/tin-tuc/chua-huong-tich-ha-tinh/

26/01/2026
ĐỀN CHỢ CỦI – CHỐN LINH THIÊNG GIỮA LÒNG HÀ TĨNH
DI TÍCH - DI SẢN 22/01/2026
ĐỀN CHỢ CỦI – CHỐN LINH THIÊNG GIỮA LÒNG HÀ TĨNH

Đền Củi Nghi Xuân Hà Tĩnh ở đâu? Đền Củi hay còn được gọi là đền Chợ Củi, là địa điểm tâm linh nổi tiếng ở Hà Tĩnh. Nơi đây có vị trí đắc địa, lưng tựa núi Hồng Lĩnh, bên cạnh là dòng sông Lam thơ mộng. Đền Chợ Củi (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) Đền Củi thờ Quan Hoàng Mười Mặc dù đền Chợ Củi Hà Tĩnh khá nổi tiếng, tuy nhiên, nhiều người không biết đền Củi thờ ai? Trên thực tế, đền Củi Nghi Xuân Hà Tĩnh là nơi thờ ông Hoàng Mười. Do đó, du khách thường gọi địa điểm này là đền Củi ông Hoàng Mười hay đền Chợ Củi Hoàng Mười. Cung thờ quan Hoàng Mười trong đền Củi Theo lịch sử đền Chợ Củi, ông Hoàng Mười là con của Long Thần Bát Hải Đại Vương. Ông vốn là quan trên Đế Đình, thần tiên chốn Đào Nguyên. Sau đó, ông giáng trần theo lệnh để giúp dân chúng và thân thế của ông sau khi hạ phàm có rất nhiều dị bản. Tuy nhiên, đối với người dân Hà Tĩnh thì ông Hoàng Mười là hiện thân của vị tướng Lê Khôi, gọi Lê Lợi bằng chú. Ông theo Lê Lợi và có nhiều chiến công lớn trong cuộc chiến chống giặc Minh xâm lược. Ông làm quan qua 3 triều đại nhà Lê và được phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục, Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân. Tương truyền rằng, ông là người yêu nước thương dân. Khi một trận cuồng phong ập đến khiến nhà cửa đổ nát, ông đã cùng binh sĩ lên ngàn chặt tre, mở kho lương cứu tế giúp dân. Tuy nhiên, khi đến chân núi Hồng Lĩnh Hà Tĩnh, thuyền của ông đã bị nhấn chìm. Dân làng thương tiếc cử hành tang lễ thì bỗng trời nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã và thi thể ông nổi lên mặt nước nhẹ tựa như không. Khi vào đến bờ thì đột nhiên mối đã đùn đất lên, che lấy di quan của ông. Cảm phục và biết ơn, người dân nơi đây đã lập đền và suy tôn ông là Đức ông Hoàng Mười. Các ngày lễ hội của Đền Củi thờ Ông Hoàng Mười linh thiêng Từ ngàn năm qua, đền Củi có tiếng linh thiêng, dân gian truyền rằng người thành tâm thì cầu gì được nấy. Vì vậy, không chỉ người dân Hà Tĩnh mà du khách thập phương cũng về đền Củi vãn cảnh, hành lễ cầu bình an, công danh, tài lộc… Nhất là trong những ngày lễ hội đền chợ Củi thì người dân càng đổ về đây nhiều hơn. Hằng năm, đền Củi có 3 ngày đại lễ, bao gồm: Ngày 3/3 Âm lịch: Giỗ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh Ngày 20/8 Âm lịch: Giỗ Hưng Đạo Đại Vương Ngày 10/10 Âm lịch: Giỗ Đức Quan Hoàng Mười Mỗi dịp Tết đến xuân về, du khách lại đến đây để cầu bình an, may mắn, tài lộc Theo Văn Minh Group https://vanminh76.vn/cung-van-minh-kham-pha-den-cho-cui-chon-linh-thieng-ngan-doi-giua-long-ha-tinh/

22/01/2026
Đình Hội Thống - ngôi đình cổ xưa ở Hà Tĩnh
DI TÍCH - DI SẢN 02/02/2026
Đình Hội Thống - ngôi đình cổ xưa ở Hà Tĩnh

Mặt trước đình Hội Thống nhìn ra cầu Cửa Hội. Cách TP Hà Tĩnh 61 km về phía Đông - Bắc, đình Hội Thống ngoảnh mặt hướng Tây, kiến trúc theo kiểu chữ Nhị (chữ Hán) gồm 2 tòa chính là nội tẩm và bái đường. Hai đầu là lầu chuông, gác trống. Tại tòa nội tẩm đặt bài vị thần Thành Hoàng, chính giữa có bức hoành phi ghi 4 chữ Hán: “Xuân - Đài - Thọ - Vực”. Đình Hội Thống nằm trên khuôn viên rộng 2.500 m2, tại làng Hội Thống (nay là xã Xuân Hội, Nghi Xuân, Hà Tĩnh).   Bái đường có 7 gian, 32 chân cột (mỗi cột lớn chu vi đến 1,7m). Gian chính đặt hương án, 2 gian tả - hữu đắp nổi làm nơi ngồi cho quan viên theo thứ bậc. Sân đình Hội Thống rộng, bên trái là nhà bia, bên phải là miếu thờ thổ thần. Ngoài cổng phía trước đình là khoảng ruộng rộng, hằng năm diễn ra lễ Hạ Điền, sau khi tế thần Thành Hoàng. Đình được làm bằng gỗ lim nên sau hàng trăm năm vẫn không bị mối mọt. Đời nhà Lê, người dân có công phò vua nên được vua ban cho tấm biển khắc 3 chữ vàng: “Kiên Nghĩa xã”, do dân đã dựng đình làng vào thời đó, nên cũng được gọi là “Đình Kiên Nghĩa”. Trên biển khắc 4 chữ “Thánh trạch quan ân” và đôi liễn “Vạn cổ du quang viễn. Thiên thu huệ trạch trường”. Theo các tài liệu thì đình Hội Thống còn thờ Tô Hiến Thành, một ông quan thanh liêm đời Lý; ngoài ra thờ thêm bà Nguyễn Thị Khuê và ông Vũ Ninh Tiến, là những người giúp tiền của xây dựng đình, sửa chữa đê điều và trang trải sưu thuế. Phía bên trái đình là tấm bia ghi công đức những người tham gia đóng góp tiền của xây đình. Năm 1995, đình Hội Thống được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ VH-TT&DL) xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Đây là 1 trong 8 di tích cấp quốc gia được xếp hạng của huyện Nghi Xuân. Đình là nơi tổ chức các lễ trọng, họp làng và gắn với một lễ hội lớn “Rước đồ mã”. Lễ hội được tổ chức vào ngày 24, 25 tháng Chạp hằng năm. Đám rước thường có 2 kiệu lớn: đi trước là kiệu đặt bài vị của Thành Hoàng có lọng che; tiếp theo là kiệu đặt toàn bộ đồ mã: mũ, áo, đai, hia, có lọng che. Ngày 24 rước vào đình để thờ tế; ngày 25, số đồ mã trên được phân chia cho mọi nơi thờ cúng công cộng và một số nhà thờ của các vị khoa cử từ tú tài trở lên. Trong ngày lễ, thủ chỉ đọc bài văn “Thúc ước” của xã để mọi người luôn ghi nhớ. Đình Hội Thống vẫn giữ được nét đặc trưng của làng cổ Bắc bộ với cây đa - giếng nước - sân đình. Đình Hội Thống là niềm tự hào của người dân xã Xuân Hội, khi “hữu sự”, người dân lại khấn “7 vị thần Hội Thống” giúp đỡ, Thành Hoàng ở đình là một trong 7 vị thần đó. Cho đến nay, không gian, kiến trúc đình vẫn giữ được vẻ tĩnh lặng, trang trọng, gần gũi. Trong khuôn viên của đình vẫn còn những hình ảnh quen thuộc của các ngôi làng cổ như: cây đa, giếng nước, sân đình. Trải qua những thăng trầm của lịch sử và sự tàn phá của thiên tai nên hiện nay, nhiều hạng mục của đình đã bị xuống cấp, hư hỏng. Tháng 8/2021, xã Xuân Hội đã tiến hành trùng tu, sửa chữa một số hạng mục. Những người thợ sửa chữa phần mái ngói phía sau đình. Theo ông Trịnh Quang Luật - Chủ tịch UBND xã Xuân Hội, toàn bộ kinh phí nâng cấp sửa chữa đình Hội Thống gần 100 triệu đồng do địa phương huy động từ nguồn xã hội hóa và hỗ trợ của huyện Nghi Xuân. Tới đây, xã tiếp tục kêu gọi sự ủng hộ của con em xa quê để sửa chữa, nâng cấp một số hạng mục khác như nhà bia cố Hậu (ghi công người bỏ tiền của trùng tu lại đình trước năm 1945) và các cột trụ nhà tiếp văn, tiếp võ. Theo Báo Hà Tĩnh https://baohatinh.vn/dinh-hoi-thong-ngoi-dinh-co-xua-o-ha-tinh-post217938.html

02/02/2026
Khám phá những di sản văn hóa Hà Tĩnh tiêu biểu qua các thời kỳ
DI TÍCH - DI SẢN 30/01/2026
Khám phá những di sản văn hóa Hà Tĩnh tiêu biểu qua các thời kỳ

 Một trong những di sản minh chứng cho sự xuất hiện của con người ở Hà Tĩnh 4.000 - 5.000 năm trước là Di chỉ khảo cổ Thạch Lạc (Thạch Hà). Được khai quật lần đầu tiên vào năm 1963, Di chỉ Thạch Lạc phát hiện nhiều hiện vật liên quan đến cuộc sống của người Việt cổ. Song song với Di chỉ Thạch Lạc, di tích khảo cổ học Phôi Phối - Bãi Cọi (Xuân Viên, Nghi Xuân) là nơi lưu giữ nhiều hiện vật của người Việt cổ từ hậu thời đá mới, đồng thau, văn hóa Sa Huỳnh đến thời Lý, Trần... Được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1974, năm 2014, Phôi Phối - Bãi Cọi được Bộ VH-TT&DL công nhận là di tích khảo cổ cấp quốc gia. (Trong ảnh: Toàn cảnh di tích khảo cổ học Phôi Phối - Bãi Cọi. Ảnh tư liệu của Đậu Hà). Nói về kiến trúc quân sự cổ xưa, công trình Thành lũy đá cổ ở Kỳ Lạc (Kỳ Anh) là một di tích tiêu biểu. Nằm dưới chân đèo Ngang, lũy đá cổ Kỳ Lạc là một đoạn còn lại trong hệ thống lũy cổ Lâm Ấp (thời kỳ Đại Việt - Chăm Pa) do chúa Lâm Ấp là Phạm Văn (345-375) khởi công xây dựng để bảo vệ biên giới. Trong hệ thống di sản Hà Tĩnh, chùa Hương Tích nằm trên núi Hồng Lĩnh (thuộc địa phận xã Thiên Lộc, Can Lộc) được xác định xây dựng từ thế kỷ XIII, đời nhà Trần, là di sản chứng minh Phật giáo đã xuất hiện và hưng thịnh từ rất sớm ở Hà Tĩnh. (Trong ảnh: Phần chùa Thượng mới được phục dựng. Ảnh Đình Nhất) Là vùng đất có nhiều cảng biển phát triển từ rất sớm, Hà Tĩnh có Đình Hội Thống (Xuân Hội, Nghi Xuân) xây dựng vào năm 1660, gắn liền với thương cảng Hội Thống. Di tích này cho thấy từ thế kỷ XVII, cư dân Hà Tĩnh đã giao thương với người Nhật Bản, Trung Quốc... Về lĩnh vực y học, Hà Tĩnh có Đại danh y Lê Hữu Trác (1720 - 1791). Ông là đại danh y có đóng góp lớn cho nền y học dân tộc Việt Nam, để lại nhiều công trình, tác phẩm lớn mang giá trị tinh hoa y học cổ truyền và văn học, lịch sử như: Y tông tâm lĩnh, Lĩnh Nam bản thảo, Thượng kinh ký sự... (Trong ảnh: Khu mộ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác ở Hương Sơn. Ảnh tư liệu của Thanh Hải) Trong tiến trình lịch sử, Hà Tĩnh đã sớm xuất hiện các dòng họ khoa bảng, các làng khoa bảng, trong đó có dòng họ Nguyễn Huy (xã Kim Song Trường, Can Lộc) với những tên tuổi sáng chói như Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự (thế kỷ XVIII) đã để lại nhiều di sản có giá trị văn hóa, lịch sử... Trong đó, Hoàng Hoa sứ trình đồ và Mộc bản Trường học Phúc Giang đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Mộc bản trường học Phúc Giang được xem là bộ sách giáo khoa kinh điển được sử dụng liên tục cho việc dạy và học của hàng ngàn thầy giáo và học sinh qua gần 3 thế kỷ (XVIII - XX). (Trong ảnh: Một phần của Mộc bản được trưng bày ở Bảo tàng Hà Tĩnh) Tại làng Trường Lưu, hiện còn lưu giữ được 7 căn nhà cổ có tuổi đời từ 100 - 300 năm. Các cấu kiện của những ngôi nhà này được làm bằng gỗ lim, khắc chạm hoa văn tinh xảo. Nhờ dày công chăm sóc, bảo quản, nhà cổ Trường Lưu vẫn giữ được vẻ kiến trúc cổ xưa. (Ảnh nhỏ: phía trong ngôi nhà). Trong tiến trình lịch sử, vào thế kỷ XVIII - XIX, Hà Tĩnh tự hào có Đại thi hào Nguyễn Du với kiệt tác Truyện Kiều. Khu di tích Nguyễn Du (thị trấn Tiên Điền, Nghi Xuân) là nơi lưu giữ những giá trị di sản văn hóa về Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du, Truyện Kiều và dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Ảnh tư liệu của Đậu Bình. Trong những di sản vật thể thời kỳ trung đại trở về trước, Hà Tĩnh hiện đang giữ 3 khẩu súng thần công “Bảo Quốc an dân Đại tướng quân” năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) được phát hiện tại các vùng biển Nghi Xuân năm 2003; Bia Sùng chỉ bi ký tại đền thờ Hà Tông Mục (Can Lộc) và Chuông chùa Rối (Cẩm Xuyên) hiện đang đề nghị Bộ VH-TT&DL công nhận bảo vật quốc gia. (Trong ảnh: 1 trong 3 khẩu súng thần công được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh). Đất Hà Tĩnh "nắng lửa mưa chan" nhưng không vì thế mà tâm hồn con người ở đây căn cỗi, từ thế kỷ XVII, hát ca trù đã du nhập vào đời sống người dân núi Hồng, sông La. Năm 2009, UNESCO công nhận ca trù là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, đến nay, Nhân dân Hà Tĩnh vẫn tiếp tục duy trì phát huy di sản quý báu này. (Trong ảnh: Tiết mục biểu diễn của đoàn Hà Tĩnh tại Liên hoan Ca trù toàn quốc năm 2018). Cùng với ca trù, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là “viên ngọc quý” lưu giữ đời sống, văn hóa, ngôn ngữ... đặc trưng của con người Nghệ Tĩnh nói chung và vùng đất núi Hồng, sông La nói riêng qua các thời kỳ hình thành và phát triển. Sau khi được UNESSCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (tháng 11/2014), dân ca ví, giặm đang được Nhân dân Hà Tĩnh ra sức bảo tồn và phát huy. Trong hành trình 190 năm thành lập tỉnh, Hà Tĩnh còn ghi dấu nhiều di sản văn hóa cách mạng. Trong đó, đầu tiên phải nhắc đến là Khu mộ cố Tổng Bí thư Trần Phú. Đồng chí Trần Phú (1904-1931), nguyên quán tại làng Đông Thái, xã Tùng Ảnh (Đức Thọ, Hà Tĩnh). Ông là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lãnh đạo Đảng ở thời kỳ còn non trẻ, đồng chí Trần Phú có vai trò to lớn khi dẫn dắt và tiếp lửa cho phong trào cách mạng những ngày đầu tiên. Ông nổi tiếng với câu nói trước lúc hy sinh: “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu”. Hà Tĩnh vinh dự khi có hai người con ưu tú là những lãnh đạo cao nhất của Đảng những năm tháng mới thành lập. Ngoài đồng chí Trần Phú, đồng chí Hà Huy Tập (1906-1941) quê ở Cẩm Hưng (Cẩm Xuyên) là Tổng Bí thư thứ 3 của Đảng Cộng sản Việt Nam. (Trong ảnh: Quần thể Khu di tích cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập. Ảnh Đình Nhất). Đồng chí Hà Huy Tập có công lao to lớn trong việc xây dựng và phát triển phong trào cách mạng của Đảng thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936 - 1939), tạo tiền đề quan trọng để dẫn tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Quần thể khu di tích là nơi lưu giữ di sản quý báu về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của ông. (Ảnh: Thu Hà) Nhắc tới lịch sử Hà Tĩnh đương đại, người dân cả nước không thể quên một ngã ba huyền thoại đã ghi tên mình vào trang vàng lịch sử dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngã ba Đồng Lộc (Can Lộc) là di tích chứng minh sự khốc liệt của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ảnh: Huy Tùng Đặc biệt, Ngã ba Đồng Lộc ghi nhận sự hy sinh anh dũng của 10 nữ thanh niên xung phong, Tiểu đội 4, Đại đội 552 vào ngày 24/7/1968. Sự hy sinh của các chị đã trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. (Trong ảnh: Khu mộ của 10 nữ TNXP, Tiểu đội 4, Đại đội 552. Ảnh Nguyễn Thanh Hải) Theo Báo Hà Tĩnh https://baohatinh.vn/kham-pha-nhung-di-san-van-hoa-ha-tinh-tieu-bieu-qua-cac-thoi-ky-post218725.html

30/01/2026
Ngã ba Đồng Lộc – Huyền thoại của hùng thiêng sông núi
DI TÍCH - DI SẢN 29/01/2026
Ngã ba Đồng Lộc – Huyền thoại của hùng thiêng sông núi

Nơi “Tọa độ chết” hình thành nên những “đóa hoa bất tử” Vào những ngày tiết xuân tươi đẹp, muôn hoa khoe sắc, đặc biệt dịp kỷ niệm 115 năm ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và 1985 Khởi nghĩa Hai Bà Trưng, vùng đất thiêng Ngã Ba Đồng Lộc đã có hàng chục ngàn khách hành hương về với Khu di tích để kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ 10 liệt nữ anh hùng cùng những người con ưu tú đã ngã xuống vì độc lập tự do và hoà bình của dân tộc. Nơi đây trong chiến tranh được mệnh danh là “tọa độ chết”, nơi mà 1m2 đất phải hứng chịu 3 quả bom cày xới, thấm đẫm máu xương của những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi. Cùng với Đài tưởng niệm Thanh niên xung phong là khu Tượng đài Tổ quốc ghi công Tiểu đội 10 nữ thanh niên xung phong Ngã ba Đồng Lộc, phía trước là hố bom nơi các cô hi sinh, đằng sau là mười ngôi mộ trắng nghi ngút khói nhang được bao bọc bởi rừng cây xanh mát. Những hố bom chằng chịt trong chiến tranh tại Ngã ba Đồng Lộc. Ngã ba Đồng Lộc nằm trên đường Trường Sơn, thuộc địa phận Đồng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh; khu vực này nằm gọn trong một thung lũng hình tam giác, hai bên đồi núi trọc, giữa là con đường độc đạo, mặt đường giống như một lòng máng, bom địch thả xuống bên nào đất đá cũng lǎn xuống đường làm cản trở giao thông. Tất cả mọi con đường từ Bắc vào Nam đều phải đi qua ngã ba Đồng Lộc, chính vì vậy đây chính là huyết mạch quan trọng, là “Yết hầu” giao thông chi viện sức người, sức của từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Các đoàn xe vượt qua được sẽ phân tán toả ra nhiều tuyến đường khác nhau đi vào miền Nam. Đoàn công tác Quân uỷ Trung ương – Bộ Quốc phòng, dâng hương tại Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc. Chính vì sự hiểm yếu và quan trọng đó mà con đường độc đạo này đã trở thành vị trí chiến lược, nơi đấu trí, đấu lực giữa ta và địch. Với dã tâm muốn biến Ngã ba Đồng Lộc thành “tọa độ chết”, hòng cắt đứt sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam, từ tháng 4 đến tháng 10 năm 1968, đế quốc Mỹ đã điên cuồng đánh phá Ngã ba Đồng Lộc 1.863 lần, với gần 50.000 quả bom các loại; ước tính, mỗi mét vuông diện tích ở đây phải gánh chịu ít nhất 3 quả bom tấn.  Máy bay quần thảo suốt ngày đêm, bom trút xuống như mưa, mặt đất biến dạng, những hố bom chồng lấn khắp nơi. Những tưởng 1 nhành cây, một ngọn cỏ cũng khó có thể sống được ở vùng đất này, vậy mà hàng ngàn chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và người dân địa phương đã không quản hiểm nguy luôn bám trụ làm nhiệm vụ để đảm bảo thông tuyến cho xe đi qua, tất cả vì tiền tuyến thân yêu, vì miền Nam ruột thịt. Với khẩu hiệu: “Xe chưa qua nhà không tiếc”, “Tim có thể ngừng đập nhưng đường phải thông”, “Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường dũng cảm”, “Đường chưa thông không tiếc xương, tiếc máu” đã trở thành kim chỉ Nam, ngọn lửa soi sáng cho lý tưởng, phương châm sống và chiến đấu của các lực lượng lúc bấy giờ. Trong cuộc chiến này, chúng ta đã giành được thắng lợi một cách oanh liệt, tuy nhiên cũng phải phải đánh đổi biết bao xương, máu, tuổi xuân và biết bao nước mắt, đau thương của người mẹ mất con, vợ mất chồng, con cái mất cha, mẹ… Trên chiến trường khốc liệt này, đã có hàng trăm người con ưu tú của dân tộc mãi mãi nằm lại trong lòng đất mẹ, linh hồn của họ đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi. Tiêu biểu là 10 nữ Thanh niên xung phong tuổi đời còn rất trẻ thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552 đã anh dũng hi sinh trong lúc đang làm nhiệm vụ thông đường cho xe ra tiền tuyến. Máu đào của các chị đã góp phần tô thắm lá cờ đỏ Tổ quốc và truyền thống yêu nước của dân tộc ta, mãi mãi là tấm gương cho các thế hệ hôm nay và mai sau noi theo. Sự hy sinh anh dũng của họ đã góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta tại chiến trường Đồng Lộc và thắng lợi chung của cả dân tộc trong công cuộc giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước. Hà Tĩnh được công nhận là lá cờ đầu miền Bắc về bảo đảm giao thông vận tải và vinh dự được nhận phần thưởng cao quý Huân chương Độc lập hạng Nhì của Quốc hội, Chính phủ và Hồ Chủ tịch trao tặng. 10 liệt sỹ Thanh niên xung phong hy sinh tại chiến trường Ngã ba Đồng Lộc được Nhà nước truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lao động”. Sự lạc quan trong chiến tranh cho hòa bình, tự do và độc lập Nhân kỷ niệm kỷ niệm 115 năm ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và 1985 Khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chúng ta cùng tưởng nhớ, tri ân và noi gương tinh thần lạc quan cách mạng của các chị, 10 nữ thanh niên xung phong hi sinh khi mới mười tám đôi mươi. Tinh thần ấy được thể hiện rất rõ trong bức thư gửi mẹ đầy xúc động của chị Võ Thị Tần: “Mẹ ơi, ở đây vui lắm mẹ ạ, ban đêm chúng nó thắp đèn để chúng con làm đường, còn ban ngày chúng mang bom giết cá để chúng con cải thiện. Bom đạn của chúng có thể làm rung chuyển cả núi rừng nhưng không thể làm rung chuyển những trái tim của chúng con. Mẹ ơi, thời gian này mặc dù địch đánh phá ác liệt nhưng bọn con vẫn tập được nhiều bài hát mới. Cuốn sổ tay mẹ mới gửi cho con dạo nọ đã gần hết giấy rồi, mẹ gửi thêm cho con ít giấy. Mới về thăm mẹ mà sao con thấy nhớ mẹ quá, mẹ nhớ giữ gìn sức khỏe và đừng lo cho con nhiều”.  Nhân dịp 115 Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và 1985 Khởi nghĩa Hai Bà Trưng đông đảo chị em phụ nữ các cơ quan, địa phương về Khu di tích để dâng hương tưởng niệm. Lịch sử không bao giờ có thể quên buổi trưa định mệnh ấy, buổi trưa của ngày 24/7/1968, Tiểu đội 4 được lệnh san lấp hố bom sau khi máy bay Mỹ liên tục ném bom phá nát tuyến đường vận tải để nhanh chóng thông đường cho xe qua. Nhận nhiệm vụ xong, các cô đến hiện trường gấp rút triển khai công việc. Họ làm việc không ngơi tay, vừa cười, vừa nói và đã 3 lần các cô bị vùi lấp nhưng đều rũ đất đá đứng dậy tiếp tục làm việc. 16h30 phút, trận bom thứ 15 trong ngày dội xuống Đồng Lộc. Một quả bom rơi xuống ngay sát miệng hầm - nơi 10 cô gái của tiểu đội 4, Đại đội 552 đang tránh bom. Tất cả các chị đã hy sinh khi đang ở độ tuổi mười tám, đôi mươi và vẫn chưa có ai lập gia đình. Càng khâm phục hơn khi đến ngày thứ 3 đồng đội mới tìm thấy thi thể của chị Hồ Thị Cúc trên đồi Trọ Voi trong tư thế ngồi, đầu đội nón, bên cạnh là cái cuốc, 10 đầu ngón tay bị ứa máu vì đang bới đất để tìm đường ra. Trong lúc đau thương, xót xa tìm thi thể người em, người đồng đội, nhà thơ Yến Thanh nghẹn ngào viết bài thơ: “Cúc ơi” trong lúc đồng đội tìm thi thể cô:  “Tiểu đội đã về xếp một hàng ngang Cúc ơi! Em ở đâu không về tập hợp Chín bạn đã quây quần đủ hết Nhỏ, Xuân, Hà, Hường, Hợi, Rạng, Xuân, Xanh A trưởng Võ Thị Tần đã điểm danh Chỉ thiếu mình em Chín bỏ làm mười răng được Bọn anh đã bới tìm vẹt cuốc Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng Cúc ơi! Em ở đâu?... …Gọi em, Gào em Khản cổ cả rồi Cúc ơi!” 10 cô gái Đồng Lộc kiên cường, dũng cảm đó là: Võ Thị Tần (24 tuổi, Tiểu đội trưởng), Hồ Thị Cúc (24 tuổi, Tiểu đội phó), Nguyễn Thị Nhỏ (24 tuổi), Dương Thị Xuân (21 tuổi), Võ Thị Hợi (20 tuổi), Nguyễn Thị Xuân (20 tuổi), Hà Thị Xanh (19 tuổi), Trần Thị Hường (19 tuổi), Trần Thị Rạng (18 tuổi), Võ Thị Hà (17 tuổi), họ đã ngã xuống khi tuổi còn quá trẻ.  Các chị đã vĩnh viễn nằm lại ngã ba huyết mạch Bắc - Nam này như họ đã chung một chiến hào lúc còn sống. Các cô đã hóa thành “những bông hoa bất tử” để lớp lớp con cháu mai sau luôn tưởng nhớ tri ân. Ngã ba Đồng Lộc đã trở thành địa chỉ đỏ nơi giáo dục truyền thống yêu nước cho học sinh và các thế hệ mai sau. Ông Đào Anh Tuân, Phó giám đốc Ban Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc và Khu tưởng niệm Lý Tự Trọng cho biết: “Những năm tháng chiến tranh ác liệt, tại địa danh lịch sử Ngã ba Đồng Lộc đã có hàng ngàn con người của nhiều lực lượng không quản hiểm nguy luôn bám trụ làm nhiệm vụ để đảm bảo thông tuyến cho xe đi qua. Tất cả đều dồn mọi tiềm lực, sức lực kể cả sự hy sinh cho chiến trường với một quyết tâm sắt đá “Vì miền Nam thân yêu - vì miền Nam ruột thịt”. Tại Ngã ba Đồng Lộc, sự hy sinh của 10 cô gái là biểu tượng về sự kiên cường, bất khuất”.  Sau hòa bình lập lại, Ngã ba Đồng Lộc trở thành một khu di tích lịch sử đóng vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục truyền thống cách mạng, là nơi tri ân những con người đã ngã xuống vì độc lập, tự do và hoà bình của dân tộc. Từ đầu năm 2025 lại nay, cụm Di tích trung bình mỗi ngày đón gần 200 đoàn khách với hàng nghìn lượt người ở khắp nơi về dâng nhang. Mỗi năm nơi đây đón hàng trăm nghìn lượt khách tham quan, dâng hương, họ là những cựu chiến binh, thanh niên, thiếu nhi, công nhân viên chức, học sinh, sinh viên... về tri ân các anh hùng liệt sĩ. Theo Quân Khu Bốn https://baoquankhu4.com.vn/chinh-tri/nga-ba-dong-loc-huyen-thoai-cua-hung-thieng-song-nui.html  

29/01/2026
Thăm khu di tích Hải Thượng Lãn Ông tại Hà Tĩnh
DI TÍCH - DI SẢN 27/01/2026
Thăm khu di tích Hải Thượng Lãn Ông tại Hà Tĩnh

Quần thể Khu di tích Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác bao gồm khu mộ và tượng đài tại thôn Hải Thượng (xã Sơn Trung); nhà thờ và khu tưởng niệm tại thôn Bảo Thượng (xã Quang Diệm). Khu mộ và tượng đài có diện tích 45.000m2 với 48 hạng mục, gồm: mộ đá Hải Thượng Lãn Ông; nhà phương đình; nhà đón tiếp; vườn cây; đường lát đá lên tượng đài dài 629m với 231 bậc tam cấp, 51 hệ thống chiếu nghỉ; tượng đài Lê Hữu Trác bằng đá cẩm thạch; bình phong đá cẩm thạch nguyên khối nặng 17 tấn; nhà khách; sân lễ hội...   Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, thời trẻ ông còn có tên thường gọi “cậu chiêu Bảy”. Ông sinh ngày 12/11 năm Giáp Thìn (1724) tại quê cha là thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Ông mất vào ngày rằm tháng Giêng năm Tân Hợi (1791) tại quê mẹ là xứ Bàu Thượng, xã Tình Diệm, tổng Hữu Bằng (nay là xã Quang Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh). Khu mộ là nơi yên nghỉ của Đại danh y Lê Hữu Trác nằm dưới chân núi Minh Tự (xã Sơn Trung) từ khi mất đến nay. Tuy đã có một số lần trùng tu, tôn tạo nhưng vị trí mộ, hướng mộ, hình thức mộ không thay đổi. Nếu nhìn từ trên cao xuống, mộ giống như một cánh diều nằm giữa núi rừng bao la, thanh bình, yên tĩnh. Dân gian kể rằng, sinh thời Lê Hữu Trác có thú chơi diều sáo. Đến cuối đời, khi thấy mình khó lòng qua khỏi, ông đã căn dặn con cháu hãy thả một con diều, diều rơi ở khu vực nào thì mai táng ông ở đó. Vị trí diều rơi chính là mộ ông bây giờ. Mộ nằm ở vùng đất gần chân núi có độ dốc 30 độ, đầu hướng lên đỉnh cao nhất của dãy núi Minh Tự, chân chiếu thẳng vào dãy núi Trường Sơn. Nơi đây trước mặt có dòng sông Ngàn Phố, phong cảnh sơn thủy hữu tình, bốn mùa “thông reo, gió hát”. Cách chân mộ 0,6m về phía Tây Nam có trồng một khóm trúc nhỏ vừa để người thăm viếng hay con cháu dễ tìm, vừa thể hiện khí chất ngay thẳng, thanh cao của Lê Hữu Trác. Các hoạt động tế lễ Đại danh y Lê Hữu Trác mỗi năm thường diễn ra vào hai dịp: Lễ Phật đản và ngày kỵ Lê Hữu Trác. Các hoạt động này được diễn ra ngay tại mộ, nhà thờ Lê Hữu Trác và chùa Tượng Sơn (xã Sơn Giang, Hương Sơn). Nằm trong khuôn viên khu mộ còn có tượng đài Lê Hữu Trác. Tượng được làm bằng đá cẩm thạch cao 16,91m, nặng 350 tấn. Vị trí xây dựng tượng đài nằm trên ngọn núi Minh Tự, nơi gắn liền với cuộc đời làm thuốc, vui thú cảnh núi rừng Hương Sơn của Hải Thượng Lãn Ông. Cách khu mộ về hướng Tây 7km là nhà thờ và khu tưởng niệm Lê Hữu Trác thuộc thôn Bảo Thượng, xã Quang Diệm, nằm sát bên bờ sông Ngàn Phố. Xưa kia, đây là chốn thâm sơn cùng cốc nhưng lại có phong cảnh hữu tình, người dân sống hoà thuận cùng nhau bên nếp nhà tranh. Khu vực này có diện tích xây dựng 13.500m2 với 18 hạng mục công trình gồm: nhà thờ Hải Thượng Lãn Ông; nhà đón tiếp; sân hành lễ; nhà bia; vườn đào, vườn cây ăn quả... Nhà thờ Lê Hữu Trác (thượng điện trong khu tưởng niệm) là nơi gắn bó gần như cả cuộc đời của Lê Hữu Trác. Đây cũng chính là nơi ông đã sinh sống, nghỉ ngơi, bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Trong khuôn viên nhà thờ và khu tưởng niệm còn có núi Giả và hồ Sen. Núi Giả được đắp cao khoảng 10 thước, rộng khoảng 240 thước, hồ Sen hình bán nguyệt ôm lấy chân núi ở phía Tây Bắc. Núi Giả, hồ Sen là nơi Lê Hữu Trác dùng để quan sát hướng gió, để bắt mạch chữa bệnh và là nơi lưu giữ, bảo quản các loại thuốc quý khi có thiên tai, lũ lụt. Cũng trên đỉnh núi Giả, Hải Thượng Lãn Ông đã cho con cháu thả diều và dặn dò diều rơi ở đâu thì an táng ông ở đó. Nhà thờ và khu tưởng niệm Hải Thượng Lãn Ông đang lưu giữ một số tư liệu, hiện vật được phục dựng như: dụng cụ bào chế thuốc, diều sáo, bản sách thuốc Hải Thượng Lãn Ông toàn thư, sách Y gia tâm lĩnh, Hải Thượng Y tông tâm lĩnh... Nhà bia khắc ghi tiểu sử, sự nghiệp và y đức của vị Đại danh y Lê Hữu Trác nằm trong khuôn viên nhà thờ. Quần thể di tích Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1990. Năm 2003, Bộ Y tế đã phê duyệt dự án tu bổ, tôn tạo quần thể di tích và giao cho Viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác làm chủ đầu tư. Dự án khởi công tháng 10/2004 đến tháng 2/2013 hoàn thành và bàn giao cho UBND huyện Hương Sơn quản lý, khai thác. Chùa Tượng Sơn ở thôn 1, xã Sơn Giang (Hương Sơn) cũng là địa điểm gắn liền với Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Chùa được xây dựng vào đời Hậu Lê, đời Lê Dụ Tông (đầu thế kỷ XVIII), do bà ngoại của đại danh y là bà Đặng Phùng Hầu - vợ của Tả hiệu điểm Tham đốc Quận công Bùi Tướng Công lập ra. Chùa được xây dựng dưới sự trực tiếp chỉ đạo của hai anh em Lê Hữu Trác và Lê Hữu Tán với mục đích dưỡng tâm thờ Phật và thờ phụng tổ hai họ Bùi và Lê Hữu. Trong những năm 1760 - 1786, Hải Thượng Lãn Ông đã dành phần lớn thời gian lưu lại chùa, mở phòng mạch chữa bệnh cho người dân và hoàn thành các tác phẩm như: Hải Thượng Y tông tâm lĩnh (gồm 28 tập, 66 quyển), Y trung quan kiện, Y hải cầu nguyên, Thượng kinh ký sự, Vận khí bí điển và nhiều tác phẩm khác. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật, năm 1994, chùa Tượng Sơn đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia. Năm 2010, Viện bỏng quốc gia Lê Hữu Trác đầu tư tôn tạo chùa Tượng Sơn, đến năm 2013 hoàn thành. Theo Báo Hà Tĩnh https://baohatinh.vn/tham-khu-di-tich-hai-thuong-lan-ong-tai-ha-tinh-post250333.html

27/01/2026