Theo Báo Lao Động https://laodong.vn/du-lich/media/7-lang-tam-do-so-cua-13-vi-vua-trieu-nguyen-o-hue-1416544.html
Điện Hòn Chén - điểm du lịch tâm linh gắn liền với nhiều giai thoại cổ ở Huế (Ảnh: Sưu tầm) Vốn được biết đến là không gian tâm linh có bề dày lịch sử, văn hóa độc đáo, điện Hòn Chén đã thu hút rất nhiều du khách lặn lội đến để cúng bái, cầu xin bình an, tiền tài, sức khỏe cho gia đình... và cũng trở thành điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích du lịch Huế vào mỗi dịp tháng 3, tháng 7 hằng năm. 1. Giới thiệu về điện Hòn Chén Huế Điện Hòn Chén nằm ở đâu? Điện Hòn Chén tọa lạc trên núi Ngọc Trản, thuộc địa phận làng Ngọc Hồ, TP Huế. Đây là ngôi điện có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân xứ Huế, và cũng là điện thờ duy nhất ở Huế có sự kết hợp ăn ý giữa nghi thức cung đình và tín ngưỡng văn hóa, dân gian. Với họa tiết rồng phượng tinh tế, điện Hòn Chén còn là nơi thể hiện trình độ trang trí mỹ thuật đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19 (Ảnh: Sưu tầm) 2. Lịch sử và kiến trúc điện Hòn Chén ở Huế 2.1. Lịch sử của Điện Hòn Chén Điện Hòn Chén được khởi công xây dựng từ thời vua Gia Long, chủ yếu thờ Đạo Giáo. Dưới thời vua Nguyễn, điện được ghi nhận trong các văn bằng cổ với tên chính thức là “Ngọc Trản Sơn Từ”, tức “điện thờ tại núi Ngọc Trản”. Đến thời Đồng Khánh (1886 - 1888), điện được đổi tên thành “Huệ Nam” với ý nghĩa “mang lại ân huệ cho người nước Nam”. Ngoài ra điện cũng gắn với nhiều giai thoại ly kỳ khác nữa. Điện Hòn Chén còn có tên là Huệ Nam, tức “mang lại ân huệ cho người nước Nam” (Ảnh: Sưu tầm) 2.2. Kiến trúc bên trong điện Hòn Chén tại Huế Điều khiến cho du khách thích thú khi đến với điện Hòn Chén đó chính là từng chi tiết bên trong công trình này đều có kiến trúc nghệ thuật trang trí bắt mắt, tinh tế. Theo các bậc cao nhân kể lại, kiến trúc của điện Hòn Chén có ý nghĩa lịch sử, đây là nghệ thuật bậc nhất ở giai đoạn cuối thể kỷ 19. Khi đặt chân đến điện Hòn Chén, bạn sẽ được tận mắt chiêm ngưỡng về 10 công trình lớn nhỏ được đặt ở lưng chừng núi Ngọc Trản. Các công trình này đều hướng mình ra dòng sông Hương, bao quanh là những hàng cây cao xanh mướt. Vì vậy, điện Hòn Chén không chỉ là điểm tham quan kiến trúc mà còn là nơi vãn cảnh, check in được nhiều du khách lựa chọn. Điện Hòn Chén ẩn mình trong không gian xanh mướt của núi Ngọc Trản ngay bên bờ sông Hương (Ảnh: Sưu tầm) Trong 10 công trình thì nổi bật nhất là điện Minh Kính Đài nằm ngay chính giữa. Bên trái có dinh Ngũ Hành, bàn thờ các quan, am Ngoại Cảnh và động thờ ông Hổ. Bên phải là nhà Quan Cư, chùa Thánh và Trinh Cát Viện. Ngay sát bên dòng sông Hương có am Thủy Phủ. Kiến trúc của điện áp dụng nhiều chi tiết khảm sành sứ đỉnh cao (Ảnh: Sưu tầm Một góc kiến trúc khác của điện cũng mang đậm nét truyền thống (Ảnh: Sưu tầm) Minh Kính Đài được chia làm 3 cung theo thứ tự từ cao đến thấp gồm có Đệ Nhất cung (Thượng cung), Đệ Nhị cung và Đệ Tam cung. Trong đó xếp theo lần lượt là khu thờ, khu để đồ cúng và khu dâng hương. Với bề dày lịch sử lớn lao, ngày nay trong điện vẫn còn lưu giữ hơn 600 món đồ tế thuộc 284 chủng loại có giá trị lịch sử vô cùng quý giá. Trên ban thờ nổi bật bởi những bức tượng làm từ hương mộc và kỳ nam - 2 loại gỗ đặc biệt quý hiếm (Ảnh: Sưu tầm) 3. Các hoạt động tham quan điện Hòn Chén 3.1. Tham quan và chụp ảnh lưu niệm ở các công trình nhỏ bên trong điện Hòn Chén Chụp ảnh với các công trình lăng tẩm vốn là trải nghiệm khó có thể bỏ qua khi du lịch Huế. Tại điện Hòn Chén, du khách không chỉ được hòa mình vào không gian kiến trúc, văn hóa, mà còn có thể thoải mái chụp ảnh, lưu giữ những bức hình có nét cổ điển, hoài niệm. Không gian bên trong điện rất rộng, nhiều cây xanh giúp bạn tận hưởng được sự bình yên, thư thái khi đến với điểm du lịch này. Cảnh quan “hoài cổ” tạo nên khung hình rất “nghệ” cho du khách thỏa sức tạo dáng (Ảnh: Sưu tầm) Ngoài việc tìm hiểu về danh lam, thắng cảnh nổi tiếng ở Huế thì việc chọn nơi lưu trú để thỏa sức “đắm mình” trong không gian văn hóa nơi đây cũng rất quan trọng. Du khách phương xa có thể ghé thăm Melia Vinpearl Hue để được hưởng những tiện nghi cao cấp nhất. 3.2. Lắng nghe sự tích điện Hòn Chén ở Huế Một trong những điểm hấp dẫn của điện Hòn Chén đó là những giai thoại bí ẩn gắn với nơi đây hàng trăm năm qua. Cụ thể có 3 giai thoại được người dân lưu truyền đã lâu như: Giai thoại về nữ thần Ponagar Nhiều du khách thắc mắc điện Hòn Chén thờ ai, thật ra nơi đây từ lâu đã là nơi thờ tự vị thần nữ quan trọng trong tín ngưỡng người Chăm: Nữ Thần Mẹ xứ sở Ponagar. Tương truyền, nữ thần là con gái Ngọc Hoàng được phái xuống để tạo ra đất mẹ, dạy loài người trồng trọt hoa màu, cây cối, đặc biệt là các loại cây gỗ trầm quý. Điện Hòn Chén là nơi thờ cúng Thánh Mẫu Thiên Y A Na nổi tiếng trong văn hóa người Chăm (Ảnh: Sưu tầm) Về sau, công chúa Liễu Hạnh cũng được đưa vào thờ tự bên trong điện. Sau đó là Quan Công, Phật và các vị thần linh khác. Ngày nay, điện Hòn Chén được coi là di tích tâm linh của người Chăm, được người Việt tiếp nhận và phát huy tạo thành nơi thờ Thánh mẫu. Đến đây, du khách có thể khám phá được nét tín ngưỡng độc đáo pha trộn của văn hóa dân tộc Chăm với bản sắc tinh thần của người Việt. Giai thoại vua Thiệu Trị Dân gian cũng tương truyền vua Thiệu Trị xây dựng làng ở gần điện Hòn Chén. Khi vua và cung phi cùng du ngoạn trên dòng sông Hương để đến thăm làng, một hoàng phi đã lỡ tay làm rơi chiếc ống nhỏ bằng vàng ngay vực nước sâu. Tiếc của nên bà đã xin vua khấn Thánh Mẫu Thiên Y A Na cho tìm lại đồ vật. Ban đầu vua ngờ vực không tin nhưng vẫn chiều ý làm theo, bất ngờ chiếc ống nổi lên mặt nước. Thấy linh thiêng, nhà vua liền ra lệnh sửa sang lại điện Hòn Chén nhưng chưa kịp hoàn thành tâm nguyện thì đã băng hà. Điện Hòn Chén gắn liền với những giai thoại dân gian rất ly kỳ (Ảnh: Sưu tầm) Truyền thuyết về chiếc chén ngọc của vua Minh Mạng Đây là giai thoại huyền bí được nhiều người biết nhất về điện Hòn Chén. Dân gian còn truyền tai nhau rằng điện Hòn Chén có tên gốc là “Hoàn Chén” với ý nghĩa “trả lại chén ngọc”. Bởi xưa kia vua Minh Mạng trong một lần lên đây đã đánh rơi một chén ngọc xuống dòng Hương, tưởng không có cách gì lấy lại được thì bỗng nhiên một con rùa to bằng chiếc chiếu nổi lên ngậm chén ngọc gửi trả lại cho nhà vua. Điện Hòn Chén liên quan tới những trải nghiệm tâm linh bí ẩn của nhiều vị Vua (Ảnh: Sưu tầm) 3.3. Tham gia lễ hội điện Hòn Chén Thêm một điều độc đáo nữa khi nhắc đến điện Hòn Chén chính là các nghi thức lễ hội. Đây là tập quán thể hiện tín ngưỡng thờ cúng, đời sống văn hóa - tâm linh của người dân địa phương. Chốn linh thiêng này là nơi kết hợp hài hòa giữa tín ngưỡng dân gian và nghi thức cung đình, đem lại những trải nghiệm văn hóa mãn nhãn cho khách thập phương. Lễ hội điện Hòn Chén ở Huế diễn ra vào tháng 3 và tháng 7 âm lịch hằng năm và là lễ hội dân gian lớn nhất của những người theo tín ngưỡng thờ Thánh mẫu (Ảnh: Sưu tầm) Lễ hội được chia làm 2 phần chính gồm lễ nghinh thần (rước các vị thần về đền) và lễ chánh tế: Lễ nghinh thần được tổ chức long trọng trên dòng sông Hương để rước nữ thần Thiên Y A Na từ điện Hòn Chén về đình làng Hải Cát. Xung quanh thuyền rước được trang trí cờ hoa đủ màu, không khí sôi động chìm trong tiếng hát ngân nga của các cô đồng, phường bát, hát văn. Lễ nghinh thần và chánh tế diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi thu hút sự chú ý của người dân địa phương lẫn du khách (Ảnh: Sưu tầm) Lễ chánh tế diễn ra ngay sau khi đón rước các vị thần và Thánh mẫu. Nghi lễ này được tổ chức với nhiều hoạt động như: cung nghinh Thánh mẫu, tế làng Hải Cát, phóng sanh, thả đèn hoa đăng... Tất cả đều mang đậm nét văn hóa dân gian truyền thống được du khách rất yêu thích hưởng ứng. Lễ rước bằng thuyền rồng được trang trí bằng cờ hoa bắt mắt trên dòng sông Hương (Ảnh: Sưu tầm) 4. Kinh nghiệm đi điện Hòn Chén Huế 4.1. Hướng dẫn đường đi điện Hòn Chén Cách đi điện Hòn Chén rất đơn giản, du khách có 2 lựa chọn di chuyển chính: Đi thuyền Rồng trên sông Hương từ trung tâm thành phố. Đi bằng đường bộ xuất phát theo tuyến đường Bùi Thị Xuân chạy thẳng, sau đó rẽ đường Huyền Trân Công Chúa đến bến Than rồi đi đò sang điện Hòn Chén. Điện Hòn Chén cách trung tâm thành phố Huế 8km về hướng Tây Nam và có thể di chuyển đến đây bằng thuyền (Ảnh: Sưu tầm) Theo VinPearl https://vinpearl.com/vi/dien-hon-chen-di-san-cham-linh-thieng-trong-long-thanh-pho-hue
Làng Phú xuân vốn là địa phận của làng Thụy Lôi xưa. Người dân xã Phú Xuân vốn là người Khoái Châu và Lý Nhân, thuộc trấn Sơn Nam Thượng di cư đến từ hơn 20 đời trước. Từ năm 1738, Phú Xuân đã được Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát chọn làm nơi dựng phủ và sau này trở thành kinh đô dưới thời Quang Trung và nhà Nguyễn. Sau này, dù dân làng Phú xuân đã rời đi nơi khác nhưng ngôi đình vẫn được lưu giữ. Vào ngày 6 tháng 6 âm lịch hằng năm, người dân có gốc thuộc làng Phú Xuân xưa kia vẫn trở về đình làm lễ tế thần. Đình Phú Xuân ngày nay Đình Phú Xuân được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XV, là di tích lịch sử kiến trúc gắn với địa danh lịch sử Phú Xuân, nơi chúa Nguyễn chọn đặt phủ chúa xứ Ðàng Trong, là kinh đô Phú Xuân dưới thời vua Quang Trung và nhà Nguyễn. Đình gồm có cổng Tam quan, bình phong, Đình họp và Đình tế. Đình Phú Xuân ngày xa xưa Cổng Tam quan có 4 trụ biểu hình vuông, hai cột giữa cao 4,10m, rộng 0,48m, hai cột bên cao 3,60m, rộng 0,48m. Trụ biểu được trang trí hình tượng búp sen, hoa lá, câu đối. Bình phong cao 2,90m, rộng 4m, dày 0,58m. Sau bình phong có lư hương cao 1,50m được xây bằng gạch và xi măng. Ðình họp là ngôi nhà rường ba gian, hai chái dài 17,80m, rộng 10,60m. Đình có 8 cột lớn, 12 cột nhỏ, các đường xuyên thổ, kèo quyết được trang trí họa tiết hoa lá cách điệu, tất cả đều được làm bằng gỗ lim và kiền kiền. Mái lợp ngói liệt. Ðình tế dài 10,50m, rộng 15,90m xây dựng theo kiểu "thượng song hạ bản", các đường xuyên thổ, liên ba làm bằng gỗ lim, được chạm trổ hoa lá cách điệu. Mái lợp ngói liệt. Gian giữa thờ các vị khai canh, gian tả thờ các vị có công với làng với họ, gian hữu thờ các vị Tiên tổ. Theo Lendang.vn https://lendang.vn/destination/dinh-phu-xuan.html
1 Tổng quan về Chùa Thiền Lâm tại Huế - Địa chỉ: Số 22/54 đường Lê Ngô Cát, Phường Thủy Xuân, Thành phố Huế, Tỉnh Thừa Thiên – Huế. - Giờ mở cửa: 05h30 – 19h00 - Số điện thoại: 090 241 22 21 Chùa Thiền Lâm Huế hay còn được biết đến với tên gọi là chùa Phật Đứng – Phật Nằm, tọa lạc trên ngọn đồi Quảng Tế, tại thông Thượng 2, Xuân Thủy, thành phố Huế. Đây là một trong những ngôi chùa kiến trúc Thái Lan hiếm hoi, là điểm đến cho những ai yêu thích thiền tịnh, mong muốn được tìm về chốn thanh tịnh, yên bình để thư thái cho tâm hồn. Chùa Thiền Lâm tại Huế mang nét thanh tịnh, yên bình trên ngọn đồi Quảng Tế yên ả Ngôi chùa đặc sắc này thuộc hệ phái Nam Tông, đã có từ cách đây hơn 60 năm do ngài Hộ Nhẫn sáng lập, là nơi để các tăng ni, Phật tử tu học Phật pháp. Chùa được xây dựng vào năm 1966 và đại trùng tu năm 2014. Ngoài những ngôi chùa nổi tiếng như: chùa Thiên Mụ, chùa Từ Đàm,… thì đây cũng là một điểm đến hấp dẫn dành cho khách du lịch để ngắm nét đẹp kiến trúc, tìm hiểu về văn hóa và những giá trị lịch sử giá trị giữa mảnh đất cố đô ngàn năm. Chùa Thiền Lâm đã phải trải qua nhiều giai đoạn lịch sử và biến cố như những ngôi chùa nổi tiếng khác tại Huế mới có được sự khang trang như ngày hôm nay. Ban đầu chùa chỉ xuất phát từ một cốc lá nhỏ, nơi được Hòa thượng Hộ Nhẫn chọn làm nơi tu thiền hàng ngày của mình. Nhờ trí tuệ cao thông tựa như Đức Bồ Tát của Ngài được nhiều người biết đến. Năm 1966 bà con nhân dân trong vùng cũng như Phật tử khắp mọi nơi đã cùng nhau quyên góp xây dựng chùa. Dưới thời trụ trì của Ngài đã phải tu sửa lại nhiều lần để ngày càng hoàn thiện hơn. Dần dà ngôi chùa Thiền Lâm không chỉ trở thành chốn tu thiền mà còn là nơi tham quan nổi tiếng đối với khách du lịch. Chùa Thiền Lâm Huế hiện nay đã là nơi thiền tu của tăng ni, Phật tử và còn thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan, viếng chùa Đến hiện tại, chùa Thiền Lâm đã trở thành một quần thể gồm nhiều công trình kiến trúc như tháp Phật, tháp mộ, nhà tăng chúng, tượng… Các kiến trúc đều được trang trí bằng phù điêu, hoa văn cực kỳ tinh xảo. 2 Cách di chuyển đến Chùa Thiền Lâm Chùa Thiền Lâm nằm cách trung tâm thành phố Huế chỉ 5km, đường đi khá dễ để tìm. Các bạn có thể đến bằng mọi loại phương tiện, xuất phát đi theo hướng về đường Hùng Vương rồi rẽ trái sang đường Nguyễn Huệ. Tiếp tục đi thẳng, đến cuối đường sẽ thấy đoạn rẽ giao với Điện Biên Phủ, đi tiếp. Rẽ phải vào đường Thanh Hải và chỉ cần đi thẳng khi nào thấy tượng Phật đứng lớn là đến nơi. 3 Đặc sản kiến trúc Chùa Thiền Lâm 3.1 Lối vào chùa ấn tượng Ngay từ cổng vào chùa, du khách đã ấn tượng với cổng vào mang phong cách Phật giáo Nam tông nhẹ nhàng, với những chi tiết ấn tượng, cùng với màu vàng chủ đạo, màu sắc tâm linh của chùa, nhưng bên cạnh đó, chất thiền vẫn thể hiện rõ trong các công trình kiến trúc, không gian của ngôi chùa. Có thể nói chùa Thiền Lâm Huế là ngôi cổ tự duy nhất theo phái Nam Tông được kế thừa từ kiến trúc truyền thống của các quốc gia Phật giáo trên thế giới, rất khác biệt so với những ngôi chùa ở Huế. Cổng chùa với màu sắc nổi bật nhưng vẫn mang nét tâm linh đặc trưng của Chùa Thiền Lâm Kế đến là con đường dẫn vào bên trong đi qua những bậc phân cấp đầy thư thái. Từ xa bạn đã có thể chiêm ngưỡng 2 bức tượng Phật ở tư thế đứng và nằm khác nhau, tọa trên đỉnh đồi Quảng Tế vô cùng nổi bật. Dáng vẻ tự tại luôn mang đến cảm giác bình yên, quên đi mọi nỗi buồn phiền. Lối vào Chùa Thiền Lâm được xây dựng tỉ mị và mang vẻ thư thái khi du khách bước đi trên các con đường đó Lối đi độc đáo được chạm khắc tinh xảo là vị trí chụp ảnh được nhiều du khách yêu thích. @Ảnh: khamphadisan.com.vn Điều đầu tiên gây ấn tượng với bạn khi đặt chân đến đây là hai tượng Phật với hai tư thế khác nhau nổi bật trên đỉnh đồi Quảng Tế. Tượng Phật đứng với dáng vẻ uy nghi, tượng Phật nằm mang một phong thái nhẹ nhàng, thanh thoát. Chiêm ngưỡng sự thong dong, tự tại của 2 pho tượng này thôi cũng khiến bạn cảm thấy nhẹ nhõm, xua tan đi bao mệt nhọc nơi trần thế. Với thiết kế chùa Thiền Lâm Huế khu vực cổng chào còn có pho Đức Thế Tôn khất thực cao 8m đầy trang nghiêm và tượng Thế Tôn niết bàn đều do Hòa thượng Hộ Nhẫn làm nên Tượng Phật nằm mang nét thư thái, tự tạo, vô ưu vô lo và rất yên bình 3.2 Khuôn viên thanh tịnh của Chùa Thiền Lâm Đi sâu vào bên trong chùa, bạn được vào thế giới của những pho tượng, tất cả đều tái hiện lại cuộc đời của Đức Phật. Phía bên trái khuôn viên là tượng Phật Thích Ca đang tọa thiền dưới sự bảo vệ của Xà Vương và Đức Thế Tôn. Phía bên phải là vườn Ngự Uyển (vườn Nai) xinh đẹp cùng hoàng hậu Ma Gia và các tỳ nữ. Bên cạnh đó, cảnh thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh cũng được tái hiện một cách sinh động ở khu vườn của chùa Thiền Lâm. Ngoài ra, trước khuôn viên chùa còn có tượng đức Phật Thích Ca tọa thiền trên tòa sen cao 5,2m (cả tượng và tòa sen) đặt trên bảo đài 3 tầng, cao 9m cùng những bức tượng mô phỏng “7 bước chân của Đức Phật” khi Đức Thích Ca sinh ra và tượng Đức Phật Thích Ca đang ngồi tọa thiền dưới sự bảo vệ của Xà vương, đặt bài trí trước khuôn viên chùa. Tượng Phật đứng trong vườn Ngự Uyển Tượng Phật Thích Ca tọa thiền dưới sự bảo hộ của Xà Vương Tượng rồng độc đáo của Chùa Thiền Lâm Xem kẽ là những bức tượng tạc theo phong cách xoắn ốc của Phật giáo xứ chùa Vàng Bức tượng Phật đặc biệt giữa khuôn viên Chùa Thiền Lâm 3.3 Tòa bảo tháp đặc trưng của Chùa Thiền Lâm Nhắc đến Chùa Thiền Lâm tại Huế thì chắc hẳn ấn tượng nhất phải kể đến toa bảo tháp cao 15m này. Phần thân dưới màu trắng, còn phần trên thì được sơn màu vàng như một quả chuông úp ngược. Phần đỉnh tháp nhọn cao vút, những chi tiết trang trí đều bằng phù điêu, hoa văn giản dị, tinh tế, lấy cảm hứng từ chùa Sirimagala của Myanmar và các ngôi chùa dát vàng Thái Lan. Bảo tháp chia thành 2 phần: bên dưới là chánh điện, bên trên là tôn thờ Xá Lợi Phật Thích Ca và chư Thánh Tăng. Không gian trong chánh điện trang nghiêm với các bức tranh về cuộc đời Đức Phật từ khi sinh ra đến lúc xuất gia và nhập niết bàn. Sau lưng là phòng khách và thiền thất. Tòa bảo tháp xây dựng theo cảm hứng chùa chiền xứ Chùa Vàng là biểu tượng của Chùa Thiền Lâm Phía dưới có bố cục hình tròn, phía trên là hình chuông có đỉnh nhọn. Xung quanh bảo tháp có 4 tượng sư tử nhìn về 4 hướng Đông - Tây - Nam - Bắc Đi vào chánh điện của bảo tháp bị choáng ngợp bởi nét trang nghiêm. Ở giữa có pho tượng Phật Thích Ca trên bảo tọa cao 2m. Kế 2 bên là tượng của Hòa thượng Hộ Nhẫn bằng sáp đang ngồi thiền trông y như thật và quả Đại hồng chung nặng đến 700kg. Chánh điện nghiêm treng bên trong bảo tháp 4 Những điều cần chú ý khi đến chùa Thiền Lâm Huế - Chùa Thiền Lâm là địa điểm du lịch tâm linh, vì vậy, bạn nên chọn trang phục lịch sự, kín đáo, hợp với thuần phong mỹ tục. - Luôn đi nhẹ, nói khẽ, giữ trật tự chung khi tham quan chùa. - Không đùa giỡn, ngắt cây hay ngắt hoa trong chùa. - Nếu muốn cúng dường, bạn có thể cầu nguyện và bỏ vào thùng phước sương bên trong chánh điện. - Nếu có may mắn, bạn sẽ có dịp ngồi trò chuyện, thiền trà và lắng nghe những lời pháp từ các sư thầy. - Chùa Thiền Lâm còn có khu vực nhà khách để bạn có thể nghỉ ngơi khi vừa đặt chân đến hoặc sau khi tham quan xong. Chùa Thiền Lâm là nơi thiền tịnh tâm linh có bầu không khí thật sự thanh bình Với không gian xanh mát với vô số cây xanh bao quanh cùng lối kiến trúc độc đáo, Chùa Thiền Lâm là nơi tâm linh phù hợp để Phật tử tu thiền, để mọi người khi đến đây có thể rũ bỏ mọi ưu phiền, bận rộn của cuộc sống tất tả ngoài kia. Vậy nên hãy sắp xếp thời gian ghé lại ngôi chùa tuyệt đẹp này trong hành trình tham quan Huế của các bạn nhé. Theo MIA.vn https://mia.vn/cam-nang-du-lich/lac-vao-chua-thien-lam-xu-chua-vang-giua-long-co-do-hue-2261
Đặc biệt, năm 2023 là dịp kỷ niệm 30 năm Quần thể Di tích Cố đô Huế (1993 - 2023) và 20 năm Nhã nhạc - Âm nhạc Cung đình Việt Nam (2003 - 2023) được UNESCO vinh danh là Di sản thế giới. Việc khai thác du lịch, dịch vụ dựa trên nền tảng phát huy giá trị từ di sản văn hóa, nhất là sau khi vinh danh đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế địa phương. Di sản Huế trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước. Ảnh: Tường Vi/TTXVN Phát huy giá trị di sản Cố đô và bản sắc văn hóa Huế Lịch sử đã đặt Huế vào vị trí trung tâm văn hóa - chính trị của mảnh đất xứ Đàng Trong thời chúa Nguyễn (1558 - 1777), triều Tây Sơn (1778 - 1802) rồi kinh đô của cả nước thời các vua Nguyễn (1802- 1945). Qua thời gian, với sự kế thừa những giá trị đặc sắc của văn hóa bản địa kết hợp với tinh hoa văn hóa các triều đại quân chủ đã kết tinh trong lòng Cố đô Huế một kho tàng di sản đồ sộ. Trong đó bao gồm cả di sản vật thể, phi vật thể và di sản tư liệu đã được UNESCO vinh danh: Quần thể Di tích Cố đô Huế (1993); Âm nhạc cung đình Việt Nam - Nhã nhạc (2003), Mộc bản triều Nguyễn (2009), Châu bản triều Nguyễn (2014), Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016), Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ (2016), Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ (2017). Ngoài ra, toàn tỉnh có gần 1.000 công trình, địa điểm được kiểm kê, trong đó có 3 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 89 di tích cấp quốc gia, 94 di tích cấp tỉnh và 3 di sản đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trong đó, Quần thể Di tích Cố đô Huế được UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản Văn hóa thế giới năm 1993. Sự kiện không chỉ nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới mà còn tôn vinh giá trị của di sản văn hóa nước ta lên tầm cao mới; mở ra triển vọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị tài nguyên đặc biệt này. Thừa Thiên - Huế luôn khẳng định giá trị di sản Cố đô và bản sắc văn hóa Huế là nền tảng để phát triển, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế - xã hội, để Cố đô Huế phát triển nhanh, bền vững từ thế mạnh và đặc trưng riêng có. Do đó, phần lớn các di tích chính trong Quần thể Di tích Cố đô Huế đã được đầu tư tu bổ, tôn tạo hệ thống sân vườn, cảnh quan và trồng cây bổ sung ở các khu vực đệm, nâng cấp cơ sở hạ tầng, trục đường thành phố Huế, trong kinh thành, đường đến một số điểm di tích. Bên cạnh đó, việc chỉnh trang, tôn tạo hai bên bờ sông Hương, nạo vét sông Ngự Hà và tu bổ kè Hộ Thành Hào… đã từng bước trả lại giá trị cảnh quan vốn có của Cố đô Huế. Việc sưu tầm cổ vật triều Nguyễn cũng được quan tâm. Từ năm 2002 đến nay, Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế đã tiếp nhận gần 350 hiện vật từ các cá nhân trong và ngoài nước, làm phong phú thêm cho bộ sưu tập của Bảo tàng và phục vụ công tác trưng bày, tăng sự hấp dẫn... Cho đến nay, công cuộc bảo tồn di tích Huế chuyển sang giai đoạn ổn định và phát triển bền vững. Huế được các cá nhân, tổ chức trong nước và ngoài nước, đặc biệt là UNESCO đánh giá là địa phương đi đầu về bảo tồn di sản, có khả năng xây dựng thành một trung tâm chuẩn mực về chuyển giao công nghệ bảo tồn tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Việc bảo tồn các giá trị di sản văn hóa đã luôn gắn chặt với quá trình khai thác, phát huy giá trị, làm đòn bẩy quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa Thiên - Huế và khu vực miền Trung. Ảnh: Tường Vi/TTXVN Tiến sỹ Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết: Trải qua 20 năm với 10 kỳ Festival Huế và 7 kỳ Festival Nghề truyền thống Huế, nay có thêm Festival bốn mùa, đã khẳng định mô hình Festival được định hình, trở thành một Festival được chú ý trong hệ thống Festival trên thế giới. Các kỳ Festival tổ chức thành công đã góp phần khẳng định vị trí về chính trị, văn hóa và du lịch, mở rộng quan hệ ngoại giao và hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế văn hóa Việt Nam, văn hóa Huế. Đồng thời, Huế cũng sở hữu nhiều danh hiệu như “Thành phố Festival đặc trưng của Việt Nam”, “Thành phố văn hóa ASEAN”, “Thành phố bền vững môi trường ASEAN”, “Thành phố Xanh quốc gia”... Số liệu thống kê từ năm 1990 đến năm 2019, du lịch liên tục tăng trưởng trên tất cả mọi chỉ tiêu. Số lượt khách đến Thừa Thiên - Huế từ 81.500 lượt (1990) đã đạt 4,817 triệu lượt (2019); doanh thu từ 154 tỷ đồng (1990) đã tăng lên 12,000 tỷ đồng (2019); đóng góp từ mức 7% trong GDP của tỉnh (1995) đã tăng lên trên 12% (2019) . Trong đó điểm đáng lưu ý là 85% du lịch Huế là du lịch văn hóa di sản. Điều này cho thấy, di sản văn hóa Huế có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể là đối với lĩnh vực du lịch, dịch vụ. Nhờ vậy, Cố đô Huế đã bảo tồn khá nguyên vẹn những giá trị di sản văn hóa của tổ tiên, di sản văn hóa Cố đô Huế đã trở thành nền tảng, động lực, hành trang để tỉnh phát triển bền vững. Nhiều năm liền, Thừa Thiên -Huế luôn được bình chọn là điểm đến an toàn thân thiện. Trong tháng 3/2023, báo The Travel của Canada vừa bình chọn Huế là một trong 10 thành phố đẹp nhất Việt Nam mà du khách cần đến khám phá và trải nghiệm. Nhã nhạc - vốn quý, tài sản của dân tộc Theo Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Ngày 7/11/2003, Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO ghi tên vào Danh mục Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, cùng với 27 kiệt tác khác. Đây là di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được công nhận vào danh mục này, ghi nhận thành quả của hành trình 10 năm phấn đấu, chuẩn bị hồ sơ. Năm 2004, Nhà hát Nghệ thuật Cung đình Huế đã đi biểu diễn Nhã nhạc cung đình tại các thành phố thuộc Cộng hòa Pháp và thủ đô Bruxelles (Bỉ). Trong đợt lưu diễn này, tại văn phòng UNESCO (Pháp), bằng chứng nhận Di sản Nhã nhạc Việt Nam là Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại đã được UNESCO trao cho Huế. Sau khi Nhã nhạc được UNESCO vinh danh, hoạt động sưu tầm, nghiên cứu và lưu trữ các tài liệu liên quan đã được thực hiện và triển khai một cách bài bản. Công tác sưu tầm, lưu trữ các hồ sơ khoa học, các tài liệu liên quan đến Nhã nhạc được thực hiện nghiêm túc, xây dựng thành hồ sơ khoa học. Công tác đào tạo nhạc công Nhã nhạc trẻ và tập huấn nâng cao kỹ năng biểu diễn được chú trọng. Các nghệ nhân có tên tuổi đã được mời để truyền dạy kỹ năng trình diễn và trao truyền các bí kíp nghề nghiệp. Với mục đích nâng cao nhận thức trong công chúng về các giá trị của di sản văn hóa phi vật thể, công tác biểu diễn và quảng bá nhằm phát huy giá trị di sản Nhã nhạc cung đình Huế cũng được chú trọng. Bên cạnh đó, nhiều đợt biểu diễn Nhã nhạc đã diễn ra tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước nhân dịp các sự kiện lớn; tham gia các Festival và chương trình giao lưu nghệ thuật tại một số quốc gia, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế. Đặc biệt, các tiết mục Nhã nhạc cũng góp phần làm nên thành công của các kỳ Festival Huế. Các hoạt động nâng cao nhận thức của học sinh cũng được quan tâm nhằm tạo điều kiện cho học sinh trực tiếp tham gia các buổi tập huấn về Nhã nhạc và các loại hình diễn xướng cung đình khác. Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị Nhã nhạc được tích cực tuyên truyền, quảng bá rộng rãi đến công chúng trong và ngoài nước; trong đó có xây dựng các phim tài liệu, phim phóng sự ngắn để phát trên sóng truyền hình. Năm 2008, Bộ Thông tin và Truyền thông đã phát hành Bộ tem Nhã nhạc cung đình Huế, gồm 3 mẫu và một tem khối giới thiệu tổng quan về Nhã nhạc cung đình. Hiện tại, việc trình diễn Nhã nhạc Huế cho khách du lịch đã được triển khai khá đa dạng ở ngoài trời, trong cung điện, đền miếu và Nhà hát hoàng cung Duyệt Thị Đường. Như vậy, du khách có thể tiếp cận với Nhã nhạc ở những cấp độ khác nhau. Trong quá trình tham quan hoàng cung, khách có thể dừng lại vài ba phút ở Ngọ Môn hay Thế Miếu để xem cho biết Nhã nhạc là gì. Còn nếu muốn biết sâu hơn, du khách có thể vào xem phần biểu diễn kéo dài khoảng 30 phút trong Nhà hát hoàng cung Duyệt Thị Đường... Nhã nhạc cung đình Huế là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến, được biểu diễn vào các dịp lễ hội (vua đăng quang, băng hà, các lễ hội tôn nghiêm khác) trong năm của các triều đại nhà Nguyễn của Việt Nam. Nhã nhạc cung đình Huế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào năm 2003. Ảnh: Minh Đức/TTXVN Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế nêu rõ: Có thể thấy, sau 20 năm, việc bảo tồn, phát huy Nhã nhạc tại Thừa Thiên - Huế đã thu được thành quả rất đáng tự hào. Không chỉ là vốn quý, tài sản của dân tộc, đây còn là minh chứng điển hình, đại diện cho khu vực Đông Nam Á về loại hình âm nhạc cổ xưa còn sót lại. Bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa của dân tộc, trong đó có Quần thể Di tích Cố đô Huế và Nhã nhạc - Âm nhạc cung đình cùng với phát huy giá trị văn hóa Huế đang thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực đột phá cho sự phát triển bền vững của Thừa Thiên - Huế. Qua đó, Thừa Thiên - Huế góp phần cùng cả nước xây dựng nền văn hóa Việt Nam thống nhất và đa dạng, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; đa dạng hóa các loại hình sản phẩm du lịch, nhất là sản phẩm chủ lực, mang tính đại diện và thương hiệu cao. Theo Báo Tin tức và Dân tộc https://baotintuc.vn/van-hoa/phat-huy-gia-tri-di-san-van-hoa-co-do-hue-de-phat-trien-ben-vung-20230618114304660.htm
Nguồn ảnh: Hue, Trully Vietnam Đây là điều khác biệt so với Trung Hoa. Tại Cố Cung Bắc Kinh, người Trung Hoa chỉ xây dựng các miếu thờ Trời, Đất, Mặt trăng... nhưng các miếu thờ ấy nằm ngoài Hoàng Thành của họ. Tại Đại Nội Huế thì có đến năm khu miếu thờ. Triệu Tổ Miếu (thờ Triệu Tổ Tĩnh hoàng đế Nguyễn Kim và vợ của ông), Thái Tổ Miếu (thờ chín vị chúa Nguyễn, từ Thái Tổ Gia Dũ hoàng đế Nguyễn Hoàng đến Hiếu Định Vương Nguyễn Phúc Thuần và các bà vợ của họ). Hai miếu thờ này nằm ở phía tả Thái Hòa Điện, trong những khu vực biệt lập có các vòng tường bao kín. Trong đó, ngoài các miếu chính còn có các miếu nhỏ thờ các vị công thần thời các chúa Nguyễn. Đối xứng với hai miếu thờ này qua đường thần đạo của Hoàng Thành còn có Hưng Tổ Miếu (thờ Hưng Tổ Hiếu Khương hoàng đế Nguyễn Phúc Luân (còn có tên là Gọ) và hoàng hậu, bố và mẹ của vua Gia Long), Thế Tổ Miếu (thờ các vị vua Nguyễn và các hoàng hậu). Ngôi miếu thứ năm có tên là Phụng Tiên Từ nằm trong một khuôn viên phía sau Hưng Tổ Miếu, ngay trước cung Diên Thọ (nơi ở của Hoàng Thái Hậu) thờ bốn vị vua thời Nguyễn sơ (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) dành riêng cho các bà đến phúng viếng vì họ không được đặt chân đến các ngôi miếu thờ kia, vốn chỉ dành riêng cho nam giới. Trong các miếu thờ trên, Thế Tổ Miếu là nơi quan trọng bậc nhất. Đây là khu miếu thờ lớn nhất, ngoài miếu chính còn có nhiều công trình phụ thuộc có giá trị nghệ thuật và giàu tính lịch sử như Cửu đỉnh; Hiển Lâm Các (nơi suy tôn công lao các vị thần linh, vua và công thần triều Nguyễn; Tả, Hữu Tùng Tự (nơi thờ các công thần); Canh Biểu Điện (thờ Khổng Tử, nay đã bị triệt hạ); đền thờ Thổ Công. Đây cũng là nơi bảo lưu tương đối trọn vẹn nhất dấu tích xưa so với các khu miếu thờ khác trong Đại Nội Huế. Nguồn ảnh: Hue, Trully Vietnam Thế Tổ Miếu (thường được gọi tắt là Thế Miếu) được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ 2 (1821) theo kiến trúc “trùng thiềm điệp ốc”, tiền doanh 11 gian, hai chái; chính doanh chín gian, hai chái kép. Trong miếu thiết án thờ các vua nhà Nguyễn. Mỗi vị vua được thờ ở mỗi gian. Về kết cấu thiết trí án thờ trong Thế Tổ Miếu tuân theo mô thức chung về cách thiết trí án thờ vua chúa dưới triều Nguyễn. Ngoài cùng là một án thờ dùng làm nơi thờ vọng và thiết trí tam bảo, thường được chạm lộng tứ linh, mây, lá cúc, sơn son thếp vàng. Giữa là kỷ thờ và sập thờ để bát nhang, chân đèn và các đồ tự khí hoặc các cổ vật từng gắn bó với các vị đế hậu lúc sinh thời. Trong cùng là khám thờ. Đây là những tác phẩm nghệ thuật thực sự với lối chạm trổ cực kỳ tinh xảo và nghệ thuật trang trí sơn son thếp vàng truyền thống. Bên trong khám đặt bài vị của vua và hoàng hậu. Bài vị của nhà vua luôn ở phía tả, bài vị của hoàng hậu ở về phía hữu theo nguyên tắc tả nam hữu nữ. Nếu vua lập hai hoàng hậu (như vua Minh Mạng và vua Đồng Khánh) thì bài vị của vua đặt ở chính giữa khám. Bên trái là của hoàng hậu thứ nhất, bên phải là của hoàng hậu thứ hai. Trong nội thất Thế Tổ Miếu trước đây thiết bảy án thờ bảy vị vua nhà Nguyễn theo trật tự ở Sơ đồ 1. Triều đại nhà Nguyễn trải 143 năm với 13 triều vua nhưng dưới triều Nguyễn chỉ có bảy vị vua được thờ trong Thế Tổ Miếu. Có năm vị vua không được triều Nguyễn thờ phụng trong miếu này. Đó là các vua: Dục Đức, Hiệp Hòa, Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân. Vua Dục Đức và vua Hiệp Hòa làm vua trong bối cảnh đất nước rối ren, yên vị chưa được bao lâu thì bị phế truất, sử sách gọi là “phế đế” nên không được thờ. Ba vị vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân là những ông vua yêu nước, có tinh thần kháng Pháp nên bị thực dân Pháp bắt đi đày. Vua Hàm Nghi bị đày ở Algérie. Vua Thành Thái và vua Duy Tân bị đày ở đảo Réunion (Madagasca). Họ bị coi là “xuất đế” nên cũng không được thờ trong Thế Tổ Miếu. Vua Bảo Đại mới mất ở Pháp vào năm 1997, nên cũng không được đưa vào thờ trong Thế Tổ Miếu. Sau năm 1954, Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc đã đưa thêm các vị vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân vào thờ nơi đây. Vì Thế Tổ Miếu chỉ có chín gian, nên người ta đã phải mở rộng một gian bằng cách phá hệ thống đố bản ở chái phía tả để đặt án thờ, khám thờ và kỷ thờ của vua Thành Thái. Hai vị vua Duy Tân và Hàm Nghi được đưa vào thờ ở hai gian hữu tứ (ngoài cùng bên phải) và tả tứ (ngoài cùng bên trái). Hiện trạng nội thất Thế Miếu cho đến hôm nay được bố trí theo trật tự ở Sơ đồ 2. Nguồn ảnh: Hue, Trully Vietnam Như vậy là sau một thời gian dài không được thờ phụng trong mái ấm dành cho các bậc đế vương triều Nguyễn, ba vị vua yêu nước đã được trở về với mái ấm của dòng họ mình ở trong Thế Tổ Miếu. Trật tự thiết trí các án thờ cũng là một vấn đề rất phức tạp. Theo nguyên tắc của chế độ phong kiến, tại các miếu thờ, trong đó có Thế Tổ Miếu, thì án chánh trung (chính giữa) thờ vị vua (chúa) đầu tiên. Càng tiến về hai đầu thì thứ bậc người được thờ càng nhỏ dần và người được thờ ở bên trái luôn có vị trí hoặc thứ bậc lớn hơn người được thờ ở phía phải cùng gian. Tại Thế Tổ Miếu, các án thờ vua Gia Long, vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị và vua Tự Đức được tuân thủ trật tự trên một cách chặt chẽ, nhưng từ vua Kiến Phước trở đi, trật tự đó đã bị phá vỡ. Đây là hậu quả của những vấn nạn lịch sử do việc các vị “phế đế” và “xuất đế” không được thờ phụng nơi này. Về quan hệ thân tộc, vua Kiến Phúc là em ruột vua Đồng Khánh và là anh ruột vua Hàm Nghi; vua Đồng Khánh là thân phụ vua Khải Định; vua Thành Thái là thân phụ vua Duy Tân, cũng là anh họ vua Khải Định. Quan hệ thân tộc của sáu vị vua này theo ngôi bậc trong dòng họ theo thứ tự: Đồng Khánh → Kiến Phúc → Hàm Nghi → Thành Thái → Khải Định → Duy Tân. Song do những éo le của lịch sử, thế thứ vương quyền của họ lại theo một trật tự khác (trong giai đoạn 1883 - 1925): Kiến Phúc → Hàm Nghi → Đồng Khánh → Thành Thái → Duy Tân → Khải Định. Trong lúc đó, trật tự xếp đặt án thờ theo vị thế từ trước tới sau hiện tại trong Thế Tổ Miếu lại là: Kiến Phúc → Đồng Khánh → Khải Định → Hàm Nghi → Duy Tân → Thành Thái. Với cách thiết trí như hiện nay đã dẫn đến tình trạng: Vua Hàm Nghi làm vua trước vua Đồng Khánh và vua Khải Định thì lại được thờ ở vị trí sau hai vua này. Vua Khải Định là cháu gọi vua Hàm Nghi bằng chú, gọi vua Thành Thái là anh họ, thì được thờ ở vị trí lớn hơn hai vua này. Hay như vua Duy Tân là con vua Thành Thái, làm vua sau, thì được thờ ở vị trí thứ 9, trong khi vua Thành Thái lại được thờ ở vị trí thứ 10. Vấn đề trên đã gây thắc mắc cho bao người trong suốt mấy chục năm qua. Theo hiện trạng này, trật tự về thế thứ và trật tự về dòng họ đều không ổn. Phía trước Thế Tổ Miếu có Cửu đỉnh, là chín đỉnh đồng được đúc dưới triều Minh Mạng (trong hai năm 1835 - 1837). Trên mỗi đỉnh có khắc tên: Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dụ, Huyền. Triều Nguyễn đã dùng bảy tên đỉnh đầu tiên làm thụy hiệu cho bảy vị vua: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định và đã bố trí án thờ của từng vị vua theo vị trí của từng chiếc đỉnh có tên được dùng làm thụy hiệu cho vị vua đó. Riêng Huyền đỉnh và Dụ đỉnh thì chưa được chọn làm thụy hiệu của vị vua nào, dù trong Thế Tổ Miếu hiện đã có 10 án thờ. Nguyên nhân là do triều Nguyễn đã cáo chung vào tháng 8 năm 1945, nên những gì lịch sử để lại thì vẫn được thế hệ đương đại tôn trọng và giữ nguyên. Vì thế, khi rước thêm ba án thờ của các vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân vào thờ trong Thế Tổ Miếu, Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc và cơ quan hữu trách vẫn giữ nguyên thiết trí cũ, chỉ sắp xếp các án thờ mới ở hai gian còn lại và một chái mở rộng trong Thế Tổ Miếu mà thôi. Ngày nay, Thế Tổ Miếu vẫn luôn giữ được vẻ tôn nghiêm trang kính vốn có, đồng thời là một điểm du lịch hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách khi họ đến tham quan Hoàng Thành Huế. Theo Sở Du lịch thành phố Huế https://huetourism.gov.vn/The-To-Mieu.html/?pid=MjAzMDd8Y3NkbGRs0