Hưng Yên - Hưng Yên

Hưng Yên

Hưng Yên
Bài viết nổi bật
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI DI TÍCH CHÙA CHUÔNG - HƯNG YÊN
DI TÍCH - DI SẢN 05/01/2026 Tour 3D
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI DI TÍCH CHÙA CHUÔNG - HƯNG YÊN

Chùa Chuông (Kim Chung Tự), mệnh danh là “Phố Hiến đệ nhất danh lam”, là ngôi cổ tự linh thiêng có niên đại khoảng 1700 năm, lưu giữ hồn cốt văn hóa của vùng đất thương cảng Phố Hiến sầm uất một thời. Được xếp hạng Di tích Kiến trúc - Nghệ thuật cấp Quốc gia, chùa mang đậm dấu ấn kiến trúc thời Hậu Lê với bố cục cân xứng, hài hòa giữa mái ngói rêu phong và thiên nhiên thanh tịnh. Tên gọi của chùa gắn liền với huyền thoại về quả chuông vàng trôi sông được người dân rước về và sau đó giấu xuống giếng cổ để bảo vệ khỏi ngoại xâm. Ngày nay, Chùa Chuông không chỉ là chứng nhân lịch sử vàng son mà còn là điểm đến tâm linh yên bình, thu hút đông đảo du khách yêu thích kiến trúc cổ và tìm kiếm sự tĩnh tại giữa dòng đời hối hả. Tiếp theo, kính mời quý khách đi vào thăm quan chi tiết chùa Chuông

05/01/2026 Tour 3D
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI DI TÍCH ĐỀN AN LẠC - HƯNG YÊN
DI TÍCH - DI SẢN 14/03/2026 Tour 3D
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI DI TÍCH ĐỀN AN LẠC - HƯNG YÊN

Ngôi đền mang kiến trúc truyền thống của đình – đền Bắc Bộ với mái ngói cong cổ kính, không gian sân rộng và nhiều cây xanh bao quanh, tạo nên cảnh quan trang nghiêm và thanh bình. Đây là nơi sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh của nhân dân địa phương, nơi thờ Đức Thánh Đỗ Anh Vũ - vị đại thần triều Lý có công phò tá vua Lý Anh Tông và được nhân dân tôn kính làm vị thần bảo hộ cho vùng đất này.

14/03/2026 Tour 3D
Chùa Nễ Châu – Nơi lưu giữ những pho tượng cổ đặc sắc
DI TÍCH - DI SẢN 26/09/2026
Chùa Nễ Châu – Nơi lưu giữ những pho tượng cổ đặc sắc

Tương truyền: Khi Lê Hoàn về đóng quân trấn ải ở đây chống quân xâm lược nhà Tống, thấy bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh xinh đẹp đã lấy bà làm vợ và cho xây “Ngọc Dinh Thự” ở chợ Nễ Châu. Bà đã có công lao rất lớn trong việc động viên chăm lo hậu cần, cung cấp lương thảo nuôi quân. Giặc tan, Lê Hoàn lên ngôi vua, do bà không có con, bà xin ở lại phụng dưỡng cha mẹ và đi tu tại chùa làng. Lê Hoàn cử Giới Quốc công về xây dựng chùa cho bà làm nơi tu hành và cử người con thứ 9 là Lê Long Kính (hiệu Trung Quốc Đại vương) thay mình trấn giữ vùng này và cũng là để chăm nom bà. Khi bà mất, nhà vua cho lập đền thờ ngay phía trước cổng chùa và sắc phong làm “Ngọc Thanh Hoàng hậu”. Tam quan chùa Nễ Châu . Ảnh: Sưu tầm Chùa được khởi dựng từ thế kỷ X, đây không chỉ là di tích lịch sử, văn hóa mà còn là công trình nghệ thuật điêu khắc có nhiều giá trị. Trải qua các triều đại, chùa Nễ Châu đều được trùng tu rất nhiều lần. Bố cục chùa được thiết kế theo kiểu “nội công ngoại quốc”, bao gồm các hạng mục như: Tam quan, gác chuông, gác trống, Tiền đường, Thượng điện và 2 dãy hành lang. Nhà Tiền đường 7 gian được kiến trúc theo kiểu vì kèo đơn giản. Phía trên, ở chính giữa mái nhà có đắp nổi 3 chữ Hán “Thụy Ứng Tự”. Thượng điện 4 gian được nối trực tiếp và có kiến trúc giống nhà Tiền Đường. Gác chuông chùa Nễ Châu. Ảnh : Sưu tầm Tòa Tiền Đường chạm hình mây với các đao hỏa, ba bức ván lá gió ở giữa chạm lộng hình lưỡng long chầu nhật, hình rồng với các râu tóc hình đao hỏa, thân uốn mềm mại. Những nét hoa văn chạm khắc này cùng những bức  tượng ở chùa đều được đánh giá cao về nghệ thuật điêu khắc. Bên trong Thượng điện đặt các pho tượng thờ rất đẹp, có dấu ấn rõ nét như: Tượng Tam thế, Di đà tam tôn, Thích Ca sơ sinh, tượng Tuyết Sơn,.... Đặt nổi bật tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn cùng tứ vị Bồ tát là nét đặc trưng khác biệt đối với việc bài trí tượng Phật ở những ngôi chùa khác. Tượng Tuyết Sơn, một hiện vật có giá trị từ thời Lê được thờ tại Chùa Nễ Châu Nổi bật về giá trị nghệ thuật điêu khắc hơn cả là bộ tượng Tam Thế và tượng Tuyết Sơn. Bộ tượng Tam Thế được tạc bằng gỗ, trong tư thế ngồi thiền trên tòa sen, khuôn mặt mỉm cười đôn hậu, mắt nhìn xuống như đang suy tư, sống mũi cao thẳng. Tượng mặc áo cà sa với những nếp gấp rất đều, tạo ra các làn sóng mỏng trải ra cân đối hai bên thân mình. Tượng được miêu tả trong tư thế tọa thiền, ngồi xếp bằng hai chân, hai bàn tay đặt giữa lòng đùi, bàn tay trái đặt lên giữ bàn tay phải. Các mặt của toà sen đều được khắc hình hoa lá và một số tích truyện của nhà Phật. Khác với bộ tượng Tam Thế, tượng Tuyết Sơn được tạc trong tư thế ngồi, chân phải co vuông góc với bệ, chân trái co đặt vuông góc với thân, hai tay chồng lên nhau đặt lên đầu gối. Khuôn mặt suy tư, trên trán hằn lên những nếp nhăn, cằm tì lên hai tay. Thân tượng lộ rõ cả xương sườn. Đây là pho tượng cổ , hiện thân của Đức phật Thích Ca giai đoạn tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn. Tượng Tuyết Sơn là một tác phẩm nghệ thuật rất quý, mang đậm nét phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII. Hai dãy hành lang của chùa nằm đối xứng, đặt hàng trăm pho tượng với các tư thế, vẻ mặt khác nhau, phác họa đầy đủ các tích truyện của nhà Phật. Năm 1992, chùa Nễ Châu đã được Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia, là một trong 16 di tích tthuộc ” Khu di tích Quốc gia đặc biệt Phố Hiến”. Hằng năm, chùa Nễ Châu thường tổ chức tế lễ vào các ngày 13-15 tháng Giêng và ngày 15.8 âm lịch, ngày 10.9 (âm lịch). Đến với chùa Nễ Châu bạn không chỉ được chiêm ngưỡng những giá trị kiến trúc, điêu khắc độc đáo, hơn hết khung cảnh nơi đây đem lại cho bạn một sự tĩnh tâm và yên bình đến khó tả. TTXTDL

26/09/2026
Đầm Dạ Trạch, nơi lâu đài, cung điện của Chử Đồng Tử-Tiên Dung bay về trời, nay là xã nào ở Hưng Yên?
DI TÍCH - DI SẢN 02/02/2026
Đầm Dạ Trạch, nơi lâu đài, cung điện của Chử Đồng Tử-Tiên Dung bay về trời, nay là xã nào ở Hưng Yên?

Vùng đầm Nhất Dạ Trạch, nay thuộc địa phận xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Và gọi là đền Hóa vì tương truyền đây chính là nền lâu đài, cung điện của vợ chồng Chử Đồng Tử - công chúa Tiên Dung để lại sau khi tất cả đã bay về trời.  Đền Hóa, đền Dạ Trạch, Dạ Trạch Hóa từ, nay thuộc xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.    Nếu đúng như trong sách Lĩnh Nam Trích Quái viết (nửa đêm trời bỗng nhiên sáng rực, lâu đài, thành quách của Chử Đồng Tử - Tiên Dung bay cả lên trời, để lại đầm nước mênh mông.  Quan quân thấy sự lạ sợ quá về tâu, Vua Hùng Duệ Vương liền đến tận nơi xem và truyền lập đền thờ, nhân dân bốn mùa cúng tế... ) thì đền Hóa có từ rất lâu rồi. Những truyện thế kỷ thứ V, Triệu Quang Phục cầu đảo ở đây; thế kỷ XV Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đến đây cầu mộng; thế kỷ XVI các nhà thơ hội Tao Đàn đã làm thơ vịnh Chử Đồng Tử, có câu "Anh linh miếu dõi từng hương khói " vậy từ khi ấy đã có miếu thờ, đền thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung tại nơi này. Nhưng lúc bấy giờ, đền, miếu thờ Chử Đồng Tử-Tiên Dung quy mô nhỏ, vật liệu xây cất thế nào và có đúng nơi đây là nền miếu cũ hay không thì rất khó xác định.   Đền Dạ Trạch, nơi thờ vợ chồng Chử Đồng Tử-Tiên Dung tại xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Đền Dạ Trạch khi ấy nằm trên gò đất cao, người dân muốn vào đền phải đi thuyền. Những năm đền mở hội, phải bắc một cầu tre cho người qua lại. Bước lên gò, các cụ phụ lão còn phải leo 19 bậc mới tới sân đền.  Đền Hóa Dạ Trạch hiện nay mới được trùng tu cách đây khoảng 100 năm. Ao, đầm nước chung quanh được lấp kín, trước đền chỉ còn lại cái hồ bán nguyệt nhỏ. Bước lên đền hôm nay chỉ phải leo 4 bậc.  Đền Hóa Dạ Trạch nhìn thẳng hướng chính Đông, xây theo kiểu chữ I (công) có ba tòa lộng lẫy. Đẹp nhất tòa thứ ba, tức hậu cung, mái vòm cuốn tam cấp, gợi cảm giác như đứng trong khoang thuyền.  Gian chính diện, ở giữa là ba pho tượng lớn, tượng Chử Đồng Tử ngồi giữa, mặc hoàng bào. Bên trái là Tiên Dung, bên phải là Nội Trạch Tây Cung.     Gian thờ bên trong Đền Hóa-đền Dạ Trạch thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung. Cũng ở gian chính diện, bên phải là bàn thờ Cha và Mẹ của Chử Đồng Tử. Bên trái là bàn thờ Long Ngai, long vị Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục. Triệu Quang Phục trước đây được thờ ở một đền riêng. Do đền này đổ nát, dân làng phối tự về đây. Đền Dạ Trạch là một đền lớn và đẹp, nhiều cột lim to, nhiều hoành phi, câu đối ca ngợi sự tích, tôn vinh thánh Chử và Đạo của Ngài: - Uất thông giai khí (khí tụ lại, phát dần lên). - Âm dương hợp củng (Âm dương cùng hòa hợp) - Sở quá giả hóa (Tự làm quá đi, vậy hóa thành cái khác) - Nam thiên tứ vị (bốn vị thần trời Nam, ý câu này nhắc tới Chử Đồng Tử là một trong 4 vị "Tứ bất tử"). - Hải thượng tam thần (Ban vị thần ở trên biển. Câu này ca ngợi Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân hiển thánh bay về trời tại biển này )  Cũng ở đền Hóa Dạ Trạch, gian giữa bên trái có tượng thần cá. Đó là "Bế Ngư thần quan". Tượng bằng gỗ, sơn son thiếp vàng, đầu rồng, thân và đuôi hình cá chép, nhân dân quen gọi là "ông Bế". Trong Đền Hóa-Đền Dạ Trạch ngoài phối thờ Triệu Quang Phục thì còn thờ thần cá, gọi là "Bế ngư quan" hay là "Ông Bế". Cùng bàn thờ và tượng ông Bế là hai con ngựa một đỏ, một trắng. Tương truyền Chử Đồng Tử - Tiên Dung thường cưỡi ngựa đi các nơi chữa bệnh cho nhân dân. Cả tượng cá, tượng ngựa đều có bánh xe, ngày hội dân làng đưa ra rước, người đi hai bên cầm lọng che. Đối diện với ngai thờ ông Bế, là một ngai thờ, bên bát hương có chiếc gậy, đầu gậy úp cái nón. Nón và gậy thần là biểu hiện phép tiên Chử Đồng Tử chữa bệnh cải tử hoàn sinh cho nhân dân. Đền Hóa Dạ Trạch nhìn thẳng ra một cái hồ, trước hồ có lầu chuông. Chuông này được đúc năm Thành Thái thứ 14 (năm 1902) mang tên Dạ Trạch từ chung (chuông đền Dạ Trạch). Ở đây còn dựng hai bia đá, có niên đại năm Gia Long thứ 17 (năm 1819).   Trước đền Dạ Trạch là một hồ nước, trước hồ có một lầu chuông. Đền Hóa ở sâu trong vùng đầm Dạ Trạch, nổi tiếng thâm nghiêm và linh thiêng. Trên gò đất phía sau đền ngày nay vẫn còn giữ được một ít cây cổ thụ, tạo cho đền Hóa một vẻ đẹp thâm u, huyền bí, thoát tục. Không khí linh thiêng trong đền quyện mùi nhang trầm, hương hoa, giữa mùa hè mà ở đây yên tĩnh dịu mát.  Sau màn che, cửa võng là ánh đèn nến lung linh đưa con người về với tổ tiên, cội nguồn dân tộc nơi xa xưa, con người yêu nhau, hòa hợp với thiên nhiên, đánh giặc và xây dựng quê hương đất nước. Vườn cây cổ thụ phía sau Đền Hóa-đền Dạ Trạch, xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Cách đây trên dưới 4000 năm lịch sử như trong thần phả của đền hóa đã ghi. Sau khi Chử Đồng Tử kết duyên cùng Tiên Dung công chúa tại bãi Tự Nhiên thuộc Màn Chầu (cuộc tình duyên do thiên định), không được vua cha (tức là vua Hùng Duệ Vương) thuận ý cho nên duyên vợ chồng. Công chúa Tiên Dung không dám hồi cung bèn cùng chồng là anh đánh cá Chử Đồng Tử ở lại khu vực huyện Chu Diên để kiếm kế sinh nhai.      Một hôm Chử Đồng Tử theo thuyền ra khơi đi buôn bán, dạt vào một hòn đảo, gặp được Tiên Ông tên là Ngưỡng Quy Tiên, ông thấy Đồng Tử diện mạo khác thường bèn giữ lại dạy cho một số bài thuốc chữa bệnh bằng lá rừng để cứu dân độ thế nhân và dạy cho phép thuật.  Sau 3 ngày ở động tiên, Chử Đồng Tử đã biết được việc chữa bệnh, Tiên Ông cho phép Đồng Tử về, ban cho Đồng Tử chiếc gậy và nón và dặn: " Phép thần thông ở cả trong này, có việc gì nhà ngươi cần kíp nhà ngươi cứ cắm trượng xuống đất, úp nón trên đầu trượng, đọc câu thần chú mọi việc sẽ được như ý muốn ". Cây gậy, chiếc nón mà Tiên Ông ban tặng cho Chử Đồng Tử ở động tiên được thờ tại đền Hóa Dạ Trạch   Một ngày kia, trong làng bỗng có bệnh dịch tả, Đồng Tử cùng Tiên Dung đi chữa bệnh cho nhiều người. Một hôm, vì mải chữa bệnh nên khi trời tối, nhớ lại câu thần chú của Tiên Ông dạy, Chử Đồng Tử liền chống cây gậy và úp nón để tạm nghỉ.  Nửa đêm thức giấc thì thấy mình ở trong một tòa lâu đài với cung điện nguy nga, tráng lệ. Vua Duệ Vương thấy vậy thì tưởng rằng con rể định cướp ngôi, vua liền đem quân ra đánh bắt về trị tội.  Khi quân nhà vua đến, thì cả tòa lâu đài bỗng chốc biến đâu mất, để lại nơi đấy một cái Trầm, gọi là Trầm Nhất Dạ, đó là đêm 17/11 âm lịch. Do đó có sự tích " Đầm Dạ Trạch " mà chúng ta biết ngày nay. Rước kiệu ra sông lấy nước tại lễ hội Đền Hóa Dạ Trạch, xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Lễ hội diễn ra vào ngày 10/2 đến ngày 12/2 âm lịch. Hành trình của đám rước: Bắt đầu đi từ cửa đền Hóa Dạ Trạch đến bờ sông bến Vĩnh, lấy nước giữa dòng , xong quay lại đền.   Trong lễ hội còn có rất nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: Chọi gà, đấu vật, đu bay, bịt mắt bắt dê, cầu kiều, đập liêu...   Cùng với các loại hình nghệ thuật cổ truyền như: Ca trù, Ả đào, Hát giao duyên/ Hát đối, Hát văn, Quan họ, đội múa rồng, múa lân... Múa rồng, múa lân Biểu diễn dân ca, ca trù, hát ả đào, hát giao duyên/hát đối, hát văn, hát quan họ tại Lễ hội Đền Hóa-Đền Dạ Trạch. Theo Báo Dân Việt https://danviet.vn/dam-da-trach-noi-cung-dien-cua-chu-dong-tu-tien-dung-bay-ve-troi-nay-la-xa-nao-o-hung-yen-20230223082404214-d1076805.html

02/02/2026
Đền Cửu Thiên Huyền Nữ
DI TÍCH - DI SẢN 26/09/2026
Đền Cửu Thiên Huyền Nữ

Đền Cửu Thiên Huyền Nữ thờ Đức Thánh Cửu Thiên Huyền Nữ Chân Quân, là vị thánh có công giúp đỡ Nhân dân trong lúc hoạn nạn, nguy nan, được Nhân dân tôn làm Thành hoàng. Phối thờ cùng bà là thần long mạch Thổ Địa và Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, người có công cùng với quân dân nhà Trần đánh đuổi quân Nguyên Mông xâm lược vào thế kỷ thứ XIII. Toàn cảnh ngôi đền  Đền được khởi dựng từ sớm và trải qua nhiều lần trùng tu, tu sửa. Do xây dựng đã lâu, nhiều hạng mục của đền xuống cấp. Đầu năm 2023, ngôi đền được trùng tu, tôn tạo. Hiện nay, đền có kiến trúc kiểu chữ Công gồm 03 gian Tiền tế, 01 gian Ống muống và 03 gian Hậu cung. Các hạng mục kết cấu tương đối đồng bộ, vững chắc và các quá giang được kê trực tiếp lên tường dưới hình thức trốn cột để mở rộng không gian cho nơi thờ tự. Hằng năm, lễ hội tại đền diễn ra vào các ngày mồng 03 tháng 03, ngày 20 tháng 08 và ngày mồng 09 tháng 09 âm lịch để tưởng nhớ đến công lao của các vị thần được thờ tại đền. Trong lễ hội có nhiều hoạt động như tế lễ, dâng hương và diễn ra một số trò chơi dân gian truyền thống mang đặc trưng vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Đền Cửu Thiên Huyền Nữ được UBND tỉnh xếp hạng ngày 31/8/2010 theo Quyết định số 1766/QĐ-UBND, thuộc loại hình di tích “Lịch sử”. Theo Báo Du Lịch Hưng Yên  hungyentourism.com.vn/den-cuu-thien-huyen-nu-c2149.html

26/09/2026
Đền Mẫu - chốn thiêng Phố Hiến
DI TÍCH - DI SẢN 26/01/2026
Đền Mẫu - chốn thiêng Phố Hiến

Nghi môn với cửa xây vòm cuốn, bên trên có dòng chữ triện ghi “Dương Thiên Hậu - Tống Triều” và dòng chữ Hán được ghép bằng các mảnh gốm lam ghi “Thiên Hạ mẫu nghi”. Ảnh TITC Theo “Đại Nam nhất thống chí” đền Mẫu xây dựng vào thời Trần Nhân Tông (1279). Trải qua các triều đại, đền đều được trùng tu; năm Thành Thái thứ 8 (1896), Đền Mẫu được trùng tu lớn có quy mô như ngày nay. Đến năm 1990, đền Mẫu được Bộ Văn hóa - thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật. Đền Mẫu là một di tích độc đáo trong quần thể di tích quốc gia đặc biệt phố Hiến, là một trong những nơi thờ cúng linh thiêng của tỉnh Hưng Yên, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách thập phương. Sự linh thiêng đã được thần thánh hóa thành những câu chuyện truyền đời về sau. Trong đó có chuyện vua Trần Anh Tông đi đánh Chiêm Thành năm 1294, qua vùng phố Hiến nằm mộng thấy thần nữ đến xin âm phù giết giặc. Sau khi thắng trận trở về, nhớ tới công lao đó, một mặt nhà vua cho tôn tạo lại đền, miếu, một mặt cho các bến bãi thu thuế thuyền buôn trích ra một phần cung cấp cho việc phụng thờ. Người dân đi biển, thương nhân đến đây lễ bái cầu xin đều được như ý, thuận buồm xuôi gió... Lễ hội đền Mẫu. Ảnh sưu tầm Dù trải qua nhiều lần trùng tu, kiến trúc đền vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn, cổ kính. Nghi môn của đền được xây dựng khá đẹp, kiến trúc kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, cửa xây vòm cuốn, có một cửa chính và hai cửa phụ. Trên vòm cuốn có dòng chữ triện ghi “Dương Thiên Hậu - Tống Triều”, bên trên có dòng chữ  Hán được ghép bằng các mảnh gốm lam, nét điển hình của kiến trúc thời Nguyễn ghi “Thiên Hạ mẫu nghi”. Qua cổng đền là khoảng sân rộng với cảnh sắc thanh bình. Sân đền có cây đa cổ thụ, tuổi đời hơn 700 năm; gốc cây tạo thành thế ba chân vững chắc, tán lá rủ bóng um tùm quanh đền tăng thêm vẻ trang nghiêm chốn tâm linh. Không gian khu Đại bái. Ảnh TITC Kiến trúc đền được xây kiểu chữ Quốc gồm Đại bái, Trung từ, Hậu cung và hai dãy giải vũ. Toà đại bái với 3 gian, kiến trúc kiểu chồng diêm hai tầng tám mái; các đao mái uốn cong mềm mại kiểu rồng chầu, phượng mớm, lợp ngói vảy rồng, chính diện đắp lưỡng long chầu nguyệt. Hai bên đại bái là điện Lưu Ly và cung Quảng Hàn. Bên trong Đại bái được chạm trổ, trang trí tinh xảo; bên trên khu vực trung tâm có bức châm bằng chữ vàng của Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh viết năm 1896, nội dung bức châm ca ngợi cảnh đẹp của ngôi đền và tấm lòng trinh tiết của Quý phi. Trung từ gồm 3 gian, được trang trí lộng lẫy với hệ thống câu đối, hoành phi, đồ tế tự, kiệu long đình, kiệu bát cống… sơn son thiếp vàng rực rỡ, ca ngợi sự trinh tiết và lòng trung thành của Quý phi. Hậu cung gồm 5 gian, đặt tượng thờ Quý phi họ Dương cùng 2 người hầu là Kim Thị và Liễu Thị được sơn son thiếp vàng, có niên đại từ thế kỷ XVII-XVIII. Ngoài ra đền còn lưu giữ 15 đạo sắc phong quý giá từ triều Lê đến triều Nguyễn. Du khách thập phương truyền tai nhau đền Mẫu rất thiêng, xin duyên được duyên, xin điều lành thì ai nấy đều bình an, sức khỏe, công việc làm ăn đều thuận lợi. Cũng không biết từ bao giờ, du khách viếng đền thường truyền tai nhau việc sờ đầu rồng ở cỗ kiệu bát cống lấy may, nam tay trái, nữ tay phải, xem như một chút tâm linh khi về viếng đền. Du khách tham quan đền Mẫu. Ảnh TITC Lễ hội Đền Mẫu tổ chức từ ngày 10-15 tháng 3 âm lịch hàng năm, thu hút đông đảo nhân dân trong vùng và du khách thập phương về tham dự, chiêm bái, cầu mong những điều tốt lành, hạnh phúc. Phần lễ diễn ra long trọng với phần rước kiệu và lễ tế; phần hội có các trò chơi dân gian, hát chầu văn. Ngoài ra, ngày 14-7 âm lịch cũng là ngày trọng đại của Đền; là ngày mộc dục, tức là ngày thay áo cho Mẫu. Tương truyền, đền Mẫu Hưng Yên rất linh thiêng. Ảnh TITC Theo Trung tâm Thông tin du lịch https://vietnamtourism.gov.vn/post/60477

26/01/2026
Đền Thiên Hậu – Công trình mang đậm kiến trúc Trung Hoa
DI TÍCH - DI SẢN 26/09/2026
Đền Thiên Hậu – Công trình mang đậm kiến trúc Trung Hoa

Ngôi đền thờ bà Lâm Tức Mặc, là vị thần hàng hải người Trung Quốc, được nhân dân tôn làm Thiên Hậu. Theo “Đại Thanh nhất thống chí” bà là người Phúc Kiến (Trung Quốc), với huyền thoại khi bà được sinh ra có hương thơm ngào ngạt, hào quang rực rỡ, lớn lên có phép màu cưỡi chiếu bay trên biển. Bà phát hiện ra một thứ rong biển dùng nấu thạch làm thức ăn cứu đói cho dân và tìm ra một thứ dầu ăn gọi là ma mộc rút từ cây vừng giúp dân nghèo vượt qua những trận đói nghèo. Bà tinh thông y thuật nên thường trị bệnh cứu người, dậy dân cách phòng bệnh dịch, được mọi người vô cùng mến phục. Ngày 9/9 âm lịch, bà không bệnh mà hoá. Sau khi hóa, bà thường mặc áo đỏ bay lượn trên biển cứu hộ tàu bè đi lại. Người Phúc Kiến tôn bà là Thần hàng hải nên di cư đến đâu mang thần tích lập đền thờ đến đó. Đền được xây dựng vào thế kỷ XVI – XVII, do 14 dòng họ người Trung Quốc ở Quảng Đông, Quảng Tây và Phúc Kiến sinh sống tại Phố Hiến quyên góp vật liệu chuyển sang bằng đường biển, đồng thời kết hợp với các nghệ nhân người Việt cất dựng. Tổng thể đền Thiên Hậu gồm nhiều hạng mục như: Tam quan, Thiêu hương, Hậu cung, hai dãy Giải vũ. Tam quan của đền cao và rộng, tường bao hai bên trang trí các ô vuông bằng gạch men hoa màu xanh lam rất đẹp, phía trên cửa chính đắp nổi bức đại tự “ Thiên Hậu Cung”. Trước Tam quan có hai con nghê chầu làm bằng chất liệu đá hoa cương được tạo tác khá sinh động, vẻ đẹp của đôi nghê đã đi vào câu ca: “Ai về tỉnh lỵ Hưng Yên Thăm đền Thiên Hậu đôi bên nghê chầu Con Dương ngậm ngọc Bích Châu Con Âm sữa ngọt một bầu nuôi con” Hình ảnh hai con nghê đã nói lên quan niệm sống của người Trung Hoa, được của và được con là hạnh phúc lớn nhất của con người. Tiếp đến là toà Thiêu hương làm kiểu chồng diêm với khoảng cách cổ diêm rất ngắn, thân cột đỡ mái làm hình lục giác, trên các vì, cánh cửa đều chạm khắc đề tài trong các tích truyện của Trung Hoa như Tam Quốc, Tây Du Ký, Điêu Thuyền, Khổng Minh… Ở bốn đầu đao phía dưới các xà trang trí hình bông sen úp xuống mềm mại làm cho toà Thiêu hương thêm phần rực rỡ, tráng lệ đã được các nghệ nhân xưa thể hiện rõ phong cách kiến trúc Phúc Kiến, Trung Quốc. Hai bên toà Thiêu hương, bên tả là Thanh Long, bên hữu là Bạch Hổ được xây theo kiểu truyền thống, bốn đầu đao cong. Trên tường trang trí hoa đang nở với chủ đề: Xuân, Hạ, Thu, Đông, chim muông,… Lối kiến trúc độc đáo thể hiện ở toà Hậu cung, các bộ vì được kết cấu kiểu chồng rường cánh. Mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch Bát Tràng. Bộ vì ở gian trung tâm được tạo dáng khá đặc biệt mang rõ phong cách kiến trúc Trung Hoa, các con rường được tạo tác uốn lượn mang hình dáng vai bừa chạy dài nối nhau từ trên đỉnh nóc xuống được kê lên các đấu có vân xoắn hình sóng nước nhô ra và các đấu tròn được tạo tác giống bông hoa úp ngược. Các mảng chạm khắc được kết hợp nhiều chủ đề như sư tử hý, phượng hàm thư, rùa, dơi,… mang phong cách nghệ thuật Trung Hoa. Tại gian trung tâm Hậu cung đặt một khám thờ lớn, đây là cỗ khám cổ được các nghệ nhân xưa chạm khắc rất cầu kỳ và tinh xảo, cửa khám trang trí nhiều hoa lá cách điệu,…Trong khám đặt ngai và bài trí các pho tượng Thiên Thượng Thánh Mẫu. Đây là các pho tượng của một số tỉnh Phúc Kiến xưa  cung tiến. Các pho tượng đều được tạc trong tư thế ngồi thiền, đầu đội mũ, choàng khăn phủ dài trông phúc hậu. Ngoài gian thờ chính, hai bên còn có ban thờ cha mẹ và anh ruột của bà cùng ban thờ các dòng họ người Hoa đã có công xây dựng và tôn tạo đền. Ngôi đền còn lưu giữ được nhiều đồ thờ tự, cổ vật có giá trị liên quan đến việc đi sông biển và ngợi ca tài danh của vị nữ thần như: sắc phong, bia đá, hoành phi, câu đối, kiệu Mẫu có niên đại thế kỷ XVII và nhiều đồ tế tự được mang từ Trung Quốc sang. Hàng năm, đền Thiên Hậu mở hội vào ngày 23 tháng 3 âm lịch là ngày sinh và ngày 9 tháng 9 âm lịch là ngày hóa của bà. Vào những ngày này, nhân dân người Hoa, người Việt đến dự tế lễ, rước kiệu rất đông vui và trang trọng. Lễ vật được dâng lên là những món ăn truyền thống của người Hoa như bánh Rong Câu, kẹo Sìu, bánh Rùa, bánh Tô Châu. Đền Thiên Hậu đã được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1992 và là một trong 16 di tích tiêu biểu thuộc Di tích quốc gia đặc biệt “Khu di tích Phố Hiến”. Đây là một di tích đẹp không chỉ có giá trị về mặt văn hoá, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc mà còn là một di tích tiêu biểu mang đậm phong cách kiến trúc Trung Hoa còn tồn tại ở Phố Hiến - Hưng Yên nói riêng và của đất nước nói chung. Nơi đây sẽ luôn là những điểm tham quan du lịch hấp dẫn, độc đáo với mọi du khách trong và ngoài nước mỗi khi về Phố Hiến. TTXTDL

26/09/2026
Đình Thượng
DI TÍCH - DI SẢN 22/01/2026
Đình Thượng

 Đình là nơi tôn thờ Linh Lang Đại vương, sống vào thời Lý. Ngài là một vị Hoàng tử con vua Lý Thánh Tông, có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc, bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.   Đình Thượng được khởi dựng từ sớm với quy mô kiến trúc tương đối lớn nhưng đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1953), đình đã bị phá hủy. Sau này, đình được chính quyền và nhân dân phục dựng trên nền cũ với kiến trúc chính kiểu chữ Đinh gồm: 05 gian Đại bái và 03 gian Hậu cung, các hạng mục được làm theo lối giả cổ với bộ vì tạo tác kiểu chồng rường, mang phong cách kiến trúc truyền thống.   Tại đình còn lưu giữ được một số hiện vật tiêu biểu như: cuốn thần tích, ngai thờ, hoành phi, câu đối,… rất có giá trị.   Đình Thượng thường tổ chức lễ hội vào ba dịp trong năm là ngày 15 tháng 8 (ngày sinh); ngày mồng 10 tháng Giêng (ngày hóa) và ngày mồng 01 tháng 4 âm lịch là ngày lễ cầu mát. Ngoài phần lễ, nhân dân còn tổ chức hội làng. Xung quanh khu vực đình diễn ra các trò chơi dân gian truyền thống mang đặc trưng của vùng châu thổ Bắc Bộ như: tổ tôm điếm, chọi gà, đánh cờ, hát chèo ngoài nghi môn,...   Đình Thượng được UBND tỉnh xếp hạng là di tích “Lịch sử” theo Quyết định số 1726/ QĐ-UBND ngày 17/10/2014. Theo Ban quản lý di tích tỉnh https://banquanlyditichhy.vn/dinh-thuong.html

22/01/2026
Làng Nôm - Ngôi làng cổ độc đáo và hấp dẫn ở tỉnh Hưng Yên
DI TÍCH - DI SẢN 31/01/2026
Làng Nôm - Ngôi làng cổ độc đáo và hấp dẫn ở tỉnh Hưng Yên

  Cổng làng Nôm là một trong những nhân chứng lịch sử đi qua 2 cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam. (Ảnh: Vietnam+) Xuôi theo Quốc lộ 5 từ Hà Nội đi Hải Phòng khoảng 30km là đến làng Nôm, thuộc địa phận xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Một ngôi làng cổ trù phú với quần thể di tích lịch sử văn hóa độc đáo vẫn còn giữ nguyên những nét cổ kính của làng quê Việt Nam. Trước đây, người dân trong làng có nghề buôn đồng nát. Bà con ở đây đi mua đồng nát về bán lại cho các lò đúc đồng ở địa phương và các vùng lân cận. Nhờ chịu thương, chịu khó, sáng tạo trong làm ăn buôn bán, nên làng Nôm nhờ đó mà ngày càng hưng thịnh, tạo điều kiện cho các hoạt động văn hóa phát triển.” Đến làng Nôm, du khách sẽ được chiêm ngưỡng Cổng làng. Đây là một trong những chứng tích lịch sử đi qua 2 cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Các cụ cao niên trong làng cho biết cổng làng có tuổi đời lên đến hơn 200 năm do sự tàn phá của chiến tranh nên giờ đây cổng làng đã bị xuống cấp nhưng vẫn giữ được nhiều họa tiết tinh xảo. Vòm cổng có dòng chữ: Đồng Cầu Nôm. Ao chung lớn của làng Nôm. (Ảnh: Vietnam+) Bước qua cánh cổng làng uy nghi, một bức tranh thủy mặc, hoài cổ ngay lập tức hiện lên khiến du khách phương xa không khỏi ngỡ ngàng. Vẻ đẹp của làng Nôm là cái đẹp mộc mạc, yên bình và có phần hơi trầm buồn. Ao chung lớn chạy giữa làng là nơi tập trung từ người già đến trẻ con trong những ngày Hè. Nước trong ao lúc nào cũng trong xanh, tĩnh lặng như chiếc gương khổng lồ. Ở làng Nôm hiện còn lưu giữ được 3 giếng cổ có tuổi đời hàng ngàn năm và được coi là tài sản quý của dân làng. Giếng nằm rải rác ở trong làng, có một cái nằm ngay gần cổng đình Đại Đồng, có cái nằm ven đường ngay cạnh cầu đá và một cái nằm ẩn mình dưới tán cây cổ thụ ở trong chùa Nôm. Bên trong giếng là những hàng gạch xếp chồng lên nhau dưới phần cổ giếng, thành giếng cũng là những phiến đá cổ nguyên khối và miệng giếng đều có nắp đậy. Thành giếng cũng là những phiến đá cổ nguyên miếng. Ở làng Nôm, không gian và thời gian đều như đang lắng lại. Những ngôi nhà với lối kiến trúc xưa cũ, những tán cây cổ thụ và hàng cau cao vút khẽ ngả bóng xuống mặt ao làng xanh trong. Nhịp sống của người dân cũng yên bình, chậm rãi như dòng nước khẽ xao động. Cấu trúc của làng cũng vô cùng ấn tượng bởi toàn bộ được liên kết với nhau bằng hệ thống đường ngang ngõ tắt như xương cá nên dù đi đến đâu, vào nhà ai thì chỉ cần mở cửa ra là gặp ngõ, qua ngõ là đường làng. Nhà cổ bên ao. (Ảnh: Vietnam+) Hiện ở làng Nôm vẫn còn những ngôi nhà cổ. Những ngôi nhà này được xây dựng theo kiến trúc độc đáo - nhà 5 gian truyền thống với vườn tược, sân nhà, nhà chính, nhà phụ, khu bếp, hàng rào bao quanh. Bênh cạnh những ngôi nhà cổ này, trong làng giờ cũng có nhiều cao tầng nhưng nhìn chung vẫn giữ được nét đẹp xưa. Ở làng Nôm còn có ngôi chùa Nôm đầy linh thiêng với lối kiến trúc mang đậm nét truyền thống. Theo truyền thuyết xưa, chùa Nôm được xây giữa rừng thông cổ thụ. Có lẽ vì vậy mà chùa còn có tên gọi khác là Linh thông cổ tự. Chùa Nôm, tên hiệu là “Linh Thông cổ tự.” (Ảnh: Vietnam+) Chùa Nôm, rất nổi tiếng; nằm giáp với chợ Nôm. Chùa có các công trình như tam quan, gác chuông, gác trống, tam bảo, nhà thờ Mẫu, nhà thờ Tổ và sân chùa rộng mênh mông. Chùa Nôm còn là nơi lưu giữ hơn 100 bức tượng cổ bằng đất nung. Trải qua bao thời kỳ bể dâu của lịch sử cùng sự tàn phá khắc nghiệt của thiên nhiên, nhưng những pho tượng này vẫn trường tồn cùng thời gian và giữ nguyên vẻ đẹp ban đầu. Di vật tiêu biểu tại chùa và Đình còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý giá như tượng phật, cây hương đá, tháp đá, chuông đồng, nhang án gỗ, câu đối, đại tự, sắp phong, thần tích, sập thờ, ngai thờ, kiệu…. Qua nhiều biến cố lịch sử, đình làng Nôm vẫn còn giữ được nguyên vẹn những nét cổ xưa với thiết kế hình chữ tam, quay mặt ra ao làng, phía trước gồm năm gian đại bái, tiếp sau đó là ba gian chính đường, hai bên có tả vu-hữu vu thông nhau, cuối cùng là phần hậu cung-nơi thờ bài vị của Ngài đức thánh Tam Giang-thành hoàng làng với những thiết kế nội thất đặc trưng. Đình làng Nôm. (Ảnh: Vietnam+) Hậu cung của đình chỉ mở cửa vào dịp lễ hội làng (được tổ chức từ ngày 10-12 tháng Giêng, kết thúc vào trưa ngày 12) hoặc lễ Tết. Phía sau đình làng là một gò đất, kết hợp với gò đất ngoài cổng làng (người làng tương truyền đó là gò Con Bống, độ cao thấp hơn gò sau đình), tạo thành thế “tiền án hậu chẩm” ( tức là được che phía trước, có chỗ dựa phía sau) với “minh đường” chính là chiếc ao làng. Khi bước vào sân đình, bất cứ ai cũng bị ấn tượng bởi hình ảnh hai con rồng đá nằm chầu bên ngoài cửa đình, các nét chạm khắc vô cùng tinh tế và điêu luyện: đầu rồng mọc sừng, thân uốn lượn tựa đang bay trên không trung, mình có vây, chân bốn móng. Kế sau đó hai con rồng đá là hai Ông Voi chầu có kích thước tương đối với voi thật, phía trước tường và cột trụ bậc lên xuống đều được xây bằng đá xanh rất chắc chắn. Cầu bằng đá mang tên Cầu Nôm. (Ảnh: Vietnam+) Gần chùa Nôm có một cây cầu bằng đá mang tên Cầu Nôm, vô cùng đặc biệt và quý giá. Cầu có 9 nhịp bằng đá, rộng hơn 1m nhưng vẫn là nơi bà con trong làng đi lại hàng ngày. Hai bên thành cầu trạm khắc hình đầu rồng, được đỡ bằng các trụ đá chỉ xếp vào nhau không có vôi vữa gì gắn kết.                            Ai về cầu đá làng Nôm                 Mà xem phong cảnh nước non hữu tình Cầu đá làng Nôm như một biểu tượng của người dân làng Nôm vậy, gần như các câu ca dao tục ngữ về làng Nôm xưa đều được thông qua biểu tượng chính là cây cầu này. Không chỉ mang giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc độc đáo, chiếc cầu đá cổ hơn 200 năm này được các nhà nghiên cứu đánh giá là một công trình độc đáo còn nguyên vẹn chưa từng thấy ở bất cứ làng cổ nào của Đồng bằng sông Hồng. Cầu Nôm là cây cầu đá bắc ngang dòng sông Nguyệt Đức, là điểm nhấn độc đáo mang lại sức hút đặc biệt cho không gian văn hóa thuần Việt của làng. Bước qua 9 nhịp cầu đá là con đường dẫn vào chợ Nôm. Hiện không còn cảnh chợ như xưa nhưng mái ngói âm dương, gian chợ dưới bức tường gạch đỏ siêu vẹo vẫn khiến những người dân nơi đây và khách thập phương ngỡ như đang được đi ngược trở về chợ xưa. Khung cảnh chợ Nôm. (Ảnh: Vietnam+) Chợ Nôm họp 12 phiên trong một tháng vào các ngày có số cuối là 1,4,6 và 9. Ngày xưa chợ Nôm là một trong những nơi điều tiết nhịp sống của cả làng với nghề đồng nổi tiếng. Khác với chợ ở thành phố, chợ Nôm họp bên trong những gian nhà xây gạch không trát vữa. Màu gạch đỏ au, lở vỡ theo thời gian như một nét gì đó rất hoài cổ, xưa cũ. Giờ chợ vẫn họp thường niên theo đúng quy định, người dân nơi đây vẫn tấp nập ghé đến khiến cả khu chợ nhộn nhịp hơn bao giờ vào những ngày phiên chợ. Với những giá trị trên, ngày 07/01/2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có Quyết định số 50/QĐ-BVHTTDL xếp hạng Quần thể di tích làng Nôm, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên là Di tích lịch sử-kiến trúc nghệ thuật Quốc gia./. Theo Báo Vietnam+ https://www.vietnamplus.vn/lang-nom-ngoi-lang-co-doc-dao-va-hap-dan-o-tinh-hung-yen-post827254.vnp

31/01/2026
Quét mã QR để “bước vào” Đền An Lạc: Khi di sản được sống lại bằng công nghệ VR360
DI TÍCH - DI SẢN 06/04/2026
Quét mã QR để “bước vào” Đền An Lạc: Khi di sản được sống lại bằng công nghệ VR360

Đó là trải nghiệm mới mà du khách có thể cảm nhận sau khi dự án không gian số VR360 tại Đền An Lạc (Xã Việt Tiến - Tỉnh Hưng Yên) được Tập đoàn Globaltech bàn giao trong những ngày đầu tháng 4/2026. Đền có đặt trụ bồ đề có gắn mã QR Ngay tại khuôn viên đền, một trụ nhôm nguyên khối được đặt trang trọng. Không phải là một công trình kiến trúc truyền thống, nhưng lại trở thành “cánh cửa” dẫn vào một thế giới khác - thế giới số. Khi quét mã QR trên trụ, người dùng có thể xoay góc nhìn 360 độ, khám phá từng chi tiết kiến trúc, từng không gian thờ tự, từng hiện vật… như thể đang trực tiếp hiện diện tại đó. Khách du lịch tham quan di tích trải nghiệm quét mã QR sản phẩm số hóa VR360 tại Đền An Lạc Đền An Lạc không chỉ là một công trình kiến trúc, mà còn là nơi lưu giữ câu chuyện về Thái úy Đỗ Anh Vũ - Nhân vật lịch sử thời Lý. Trước đây, việc tìm hiểu những câu chuyện này thường thông qua sách vở hoặc bảng thông tin tại di tích. Nhưng với VR360, lịch sử được “kể lại” bằng hình ảnh, âm thanh và trải nghiệm tương tác. Điều này giúp người trẻ - những người quen với môi trường số dễ dàng tiếp cận và hiểu hơn về quá khứ. Một trong những điểm mạnh lớn nhất của VR360 là khả năng xóa bỏ rào cản địa lý. Người dùng có thể trải nghiệm Đền An Lạc từ bất kỳ đâu - tại nhà, tại trường học hay trên đường di chuyển. Ngược lại, những người đến tham quan trực tiếp cũng có thể hiểu sâu hơn về di tích thông qua các nội dung số hóa được tích hợp. Dự án không chỉ dừng lại ở một sản phẩm công nghệ đơn lẻ, mà là một phần trong dự án quy mô quốc gia tập trung việc số hóa di sản, di tích trên phạm vi toàn quốc nhằm thu thập và số hóa dữ liệu di tích để xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý và nghiên cứu cũng như việc ứng dụng công nghệ để nâng cao trải nghiệm du lịch Mục tiêu cuối cùng là tạo ra một hệ sinh thái số cho di sản văn hóa Việt Nam. Khi công nghệ trở thành “cầu nối” văn hóa Đại diện Trung tâm thuộc Viện KHGD&MT, Đại diện Tập đoàn Globaltech, bà Hà Thị Thu Hương – Trưởng ban Số hóa di tích cùng các thành viên trong Ban dự án và Ông Nguyễn Văn Đạt – Phó Chủ tịch UBND xã Việt Tiến cùng đại diện Ban quản lý di tích Đền An Lạc tại lễ bàn giao Phát biểu tại sự kiện, bà Hà Thị Thu Hương – Trưởng ban số hóa di sảm và di tích của Tập đoàn Globaltech cho rằng: “Công nghệ không thay thế di sản, mà giúp di sản được lan tỏa mạnh mẽ hơn.” Quan điểm này phản ánh một xu hướng rõ ràng: công nghệ không làm mất đi giá trị truyền thống, mà giúp những giá trị ấy thích nghi với thời đại mới. Đối với địa phương, việc có thêm một không gian số không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn, mà còn là cơ hội phát triển. Du khách có thể tìm hiểu trước về di tích thông qua nền tảng số, từ đó tăng nhu cầu trải nghiệm thực tế. Đồng thời, các hoạt động truyền thông, quảng bá cũng trở nên dễ dàng hơn. Sử dụng công nghệ VR360, quét 3D để tái hiện Đền An Lạc trên không gian mạng Từ một di tích mang giá trị truyền thống, Đền An Lạc giờ đây có thêm một “phiên bản số” - nơi quá khứ và hiện tại giao thoa. Và trong hành trình đó, công nghệ không chỉ là công cụ, mà còn là cách để di sản tiếp tục được gìn giữ và lan tỏa trong tương lai. Kính mời quý độc giả cùng chiêm bái và khám phá và trải nghiệm vẻ đẹp cổ kính của Đền An Lạc qua góc nhìn 360 độ sống động do nền tảng số quốc gia VIVINA thực hiện qua Link: https://vivina.net/tour/chao-mung-den-voi-di-tich-den-an-lac-hung-yen/tour.html

06/04/2026
Số hóa di sản văn hóa: Từ chủ trương đến thực tiễn tại Chùa Chuông - Phố Hiến
DI TÍCH - DI SẢN 06/04/2026
Số hóa di sản văn hóa: Từ chủ trương đến thực tiễn tại Chùa Chuông - Phố Hiến

Đại diện Trung tâm thuộc Viện KHGD&MT, Đại diện Tập đoàn Globaltech, bà Hà Thị Thu Hương – Trưởng ban Số hóa di tích cùng các thành viên trong Ban dự án cùng thầy trụ trì - Thượng tọa Thích Thanh Khuê tại lễ bàn giao. Lễ khánh thành và bàn giao không gian số VR360 tại Chùa Chuông vừa qua không chỉ mang ý nghĩa ứng dụng công nghệ, mà còn là bước đi cụ thể trong việc triển khai các chủ trương lớn về chuyển đổi số và phát triển văn hóa bền vững tại Việt Nam. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, lĩnh vực văn hóa được xác định là một trong những trụ cột quan trọng. Việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn di sản không chỉ giúp lưu giữ giá trị lịch sử, mà còn tạo ra các sản phẩm văn hóa mới, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Dự án số hóa Chùa Chuông là một trong những bước đi cụ thể, góp phần đưa các chủ trương này vào thực tiễn. Mô hình bảo tồn di sản trong kỷ nguyên số Sử dụng công nghệ VR360, quét 3D để tái hiện Chùa Chuông trên không gian mạng Thông qua công nghệ VR360, toàn bộ không gian di tích được số hóa với độ chính xác cao, kết hợp giữa hình ảnh, âm thanh và dữ liệu lịch sử. Đây là mô hình bảo tồn mới, chuyển từ phương thức truyền thống sang số hóa, giúp di sản được lưu giữ một cách toàn diện và bền vững. Xây dựng cơ sở dữ liệu – nền tảng quản lý hiện đại Một trong những nội dung cốt lõi của dự án là xây dựng cơ sở dữ liệu số cho di tích. Việc số hóa toàn diện từ kiến trúc, hiện vật đến các yếu tố văn hóa phi vật thể giúp tạo nền tảng phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu và giáo dục. Đây cũng là cơ sở để kết nối dữ liệu di sản trên phạm vi quốc gia. Việc bàn giao trụ QR tích hợp không gian số VR360 mang ý nghĩa biểu tượng cho sự kết nối giữa truyền thống và công nghệ. Thông qua giải pháp này, di sản không chỉ được bảo tồn mà còn được “kích hoạt” để tiếp tục phát huy giá trị trong đời sống hiện đại. Số hóa di tích góp phần mở rộng khả năng tiếp cận của du khách, từ đó thúc đẩy phát triển du lịch. Đây là hướng đi phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế dựa trên giá trị văn hóa, đồng thời góp phần nâng cao đời sống người dân. Dự án cũng cho thấy vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong việc triển khai chuyển đổi số. Sự tham gia của các đơn vị như VIVINA giúp huy động nguồn lực xã hội, bổ sung cho nguồn lực nhà nước trong công tác bảo tồn di sản. Trụ Bồ đề có tích hợp mã QR được đặt tại chùa. Theo định hướng, chương trình số hóa di sản sẽ tiếp tục được triển khai rộng rãi, với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái số cho di sản văn hóa Việt Nam. Việc kết nối dữ liệu, chuẩn hóa thông tin và phát triển các ứng dụng số sẽ tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Phát biểu tại buổi bàn giao, Ông Đoàn Xuân Huy khẳng định: “Di sản chỉ thực sự sống khi được kết nối với đời sống hiện đại.” Thượng tọa Thích Thanh Khuê - Trụ trì Chùa Chuông cũng gửi lời cảm ơn tới tất cả các bên liên quan và đánh giá cao ý nghĩa của dự án, cho rằng đây là giải pháp thiết thực giúp bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Kính mời quý độc giả cùng chiêm bái và khám phá và trải nghiệm vẻ đẹp cổ kính của Chùa Chuông qua góc nhìn 360 độ sống động do nền tảng số quốc gia VIVINA thực hiện tại link: https://vivina.net/tour/chao-mung-den-voi-di-tich-chua-chuong-hung-yen/tour.html

06/04/2026
Văn miếu Xích Đằng - biểu tượng của tinh thần hiếu học và nền văn hiến Hưng Yên
DI TÍCH - DI SẢN 27/01/2026
Văn miếu Xích Đằng - biểu tượng của tinh thần hiếu học và nền văn hiến Hưng Yên

Nằm cạnh con sông Hồng quanh năm đỏ nặng phù sa, văn miếu Xích Đằng được biết đến là một di tích quan trọng nằm trong quần thể di tích Phố Hiến, thuộc phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Sở dĩ Văn miếu có tên như vậy là do được khỏi dựng trên đất làng Xích Đằng từ thế kỷ 17 (thời Hậu Lê) với qui mô ban đầu nhỏ, đến năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), triều Nguyễn, được xây dựng lại có quy mô như hiện nay trên nền của chùa Nguyệt Đường( chùa Xích Đằng). Với hơn 400 năm tồn tại, ghi danh 161 vị đại khoa, văn miếu Xích Đằng đã thể hiện tinh thần hiếu học của con người trên mảnh đất "Nhất Kinh kỳ, Nhì Phố Hiến". Theo từ điển Địa danh văn hóa và thắng cảnh Việt Nam của Nguyễn Như Ý và Nguyễn Thành Chương ghi rõ văn miếu Xích Đằng là một trong sáu văn miếu còn tồn tại cho đến ngày nay của đất nước và văn miếu Hưng Yên cũng là một trong hai văn miếu lâu đời nhất (đứng sau văn miếu Quốc Tử Giám). Thế kỷ 17 dưới thời vua Lê Thánh Tông, để chấn hưng lại đạo Nho, triều đình đã cho thành lập nhiều trường học bên ngoài trường Quốc Tử Giám ở các trấn. Ở trấn Sơn Nam (gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và một phần đất của Hà Nội và Hưng Yên) có văn miếu Xích Đằng ( hay còn có tên là văn miếu Sơn Nam) được xây dựng vừa làm nơi để thờ tự các bậc hiền nho, vừa là nơi tổ chức các kỳ thi của trấn. Sau nhiều biến chuyển trong việc chia tách lại địa lý các trấn dưới các triều Hậu Lê, Tây Sơn, nhà Nguyễn, văn miếu Xích Đằng trở thành văn miếu của trấn Sơn Nam thượng và sau này là của tỉnh Hưng Yên. Dù nằm trong khu dân cư, nhưng đi ngay trên cầu Yên Lệnh, thuộc quốc lộ 38 nối Hà Nam với Hưng Yên có thể quan sát được văn miếu Xích Đằng từ hai cây gạo đã có hàng trăm năm tuổi được trồng trước cổng. Nằm trên đường dẫn vào còn có tượng hai con nghê đá lớn được tạc từ thế kỷ 18. Tam quan (hay còn gọi là cổng Nghi môn) của văn miếu Xích Đằng là một trong những công trình còn giữ được những nét kiến trúc độc đáo trong các văn miếu còn lại ở Việt Nam. Được dựng theo lối kiến trúc chồng diêm, hai tầng tám mái có lầu gác. Hai bên Tam quan có hai bục loa, dùng để xướng danh sĩ tử và thông báo những quy định trong các kỳ thi hương. Thay vì lầu trống như ở các văn miếu Quốc tử giám, văn miếu Mao Điền, ở văn miếu Xích Đằng lầu trống được thay vào bằng lầu chuông. Tiếng chuông và tiếng khánh vang lên chính là lúc báo hiệu giờ thi đã bắt đầu và kết thúc, đồng thời nó cũng là tiếng cầu thỉnh tỏ lòng biết ơn, tri ân với những bậc hiền nho trong mỗi dịp lễ hội. Hai chiếc chuông và khánh của văn miếu cũng là những di vật cổ được đúc và tạo dựng từ thế kỷ 18. Khu nội tự kết cấu theo kiểu chữ Tam: gồm Tiền tế, Trung từ và Hậu cung. Hệ thống mái được kết cấu theo kiểu “trùng thiềm địa ốc”. Mặt chính quay về hướng nam. Bên trong khu nội tự tỏa sáng với hệ thống các đại tự, cấu đối, cửa võng và một hệ thống các trụ, kèo được sơn son thếp vàng phủ kim hoàn toàn. Hiện vật quý giá nhất trong văn miếu còn lưu giữ được đến ngày nay đó chính là 9 tấm bia đá khắc tên tuổi, quê quán, chức vụ của 161 vị đỗ đại khoa ở trấn Sơn Nam thượng xưa. Trong đó có 138 vị ở Hưng Yên và 23 vị ở Thái Bình. Từ các khoa thi đầu tiên dưới thời nhà Trần đến khoa thi cuối cùng vào cuối thời nhà Nguyễn, tỉnh Hưng Yên đều có người đỗ đạt cao. Thời nào cũng có người tài của đất Hưng Yên đỗ đạt ra giúp việc nước, việc dân. Học vị cao nhất được ghi danh ở các bia đá còn lưu lại là trạng nguyên Tống Trân, thời nhà Trần; trạng nguyên Nguyễn Kỳ, triều nhà Mạc; trạng nguyên Dương Phúc Tư, triều nhà Lê. Chức vụ cao nhất được biết đến là tiến sĩ Lê Như Hổ, quận công triều nhà Mạc… Ở văn miếu Xích Đằng hiện tại đang thờ hai pho tượng của Đức Khổng Tử và các bậc chư hiền nho gia. Cùng với đó là pho tượng của người thầy giáo lỗi lạc, người hiệu trưởng đầu tiên của văn miếu Quốc Tử Giám Chu Văn An. Năm 1992, Văn miếu Xích Đằng được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá quốc gia. Văn miếu xưa có hai mùa lễ hội. Trọng hội là ngày 10/2 và 10/8. Cứ vào các ngày trọng hội, những vị nho học và quan đầu tỉnh phải đến Văn miếu tế lễ để thể hiện nề nếp nho phong, tôn sư trọng đạo làm gương cho con cháu, cầu mong sự nghiệp giáo dục ngày càng tiến bộ. Ngày nay, hàng năm, vào dịp mùng 4-5 Tết, Văn miếu lại tổ chức lễ hội với các hoạt động như cho chữ đầu xuân, tổ chức tế lễ, dâng hương, triển lãm thư pháp, hát ca trù, từng bước khôi phục lại lễ hội xưa. Ngoài ra vào mùa thi, thanh thiếu niên, học sinh về văn miếu tìm hiểu truyền thống hiếu học của cha ông và thắp nhang cầu mong cho sự học hành ngày càng phát triển. Văn miếu Xích Đằng cũng như quần thể di tích Phố Hiến trở thành địa chỉ quen thuộc của du khách gần xa khi đến thăm Phố Hiến. Đó cũng là niềm tự hào của mỗi người con xứ nhãn khi được sinh ra, lớn lên trên quê hương văn hiến, cách mạng anh hùng. Theo TRUNG TÂM THÔNG TIN DU LỊCH https://vietnamtourism.gov.vn/post/18054

27/01/2026