Được bàn tay khéo léo và trí tuệ sáng tạo của đồng bào Mông kiến tạo qua nhiều thế hệ, ruộng bậc thang nơi đây không chỉ là công trình sản xuất mà còn là một kiệt tác nghệ thuật của thiên nhiên và con người. Vào mùa lúa chín, sắc vàng rực rỡ trải dài bất tận của Ruộng bậc thang Mù Cang Chải như một bức tranh sống động, làm say lòng bất cứ ai có dịp ghé thăm. Ngày 31/12/2021,Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1954/QĐ-TTG về việc xếp hạng Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái (tên gọi cũ trước sáp nhập tỉnh) nay thuộc tỉnh Lào Cai là di tích Quốc gia đặc biệt. Di tích Quốc gia đặc biệt Ruộng bậc thang Mù Cang Chải – tỉnh Lào Cai 1. Tên gọi di tích: - Danh lam thắng cảnh Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai - Tên gọi khác của di tích và nguồn gốc tên gọi: Không 2. Loại hình di tích: Di tích quốc gia đặc biệt Ruộng bậc thang Mù Cang Chải – tỉnh Lào Cai 3. Quyết định công nhận di tích: Quyết định số 1954/QĐ-TTg ngày 31/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Lễ công bố quyết định công nhận Di tích Ruộng bậc thang Mù Cang Chải là di tích cấp Quốc gia đặc biệt 4. Địa điểm di tích Di tích quốc gia đặc biệt Ruộng bậc thang Mù Cang Chải được phân bố tại ba xã vùng cao thuộc tỉnh Lào Cai đó là xã Mù Cang Chải, xã Púng Luông và xã Lao Chải (trước khi sáp nhập tỉnh di tích thuộc 06 xã La Pán Tẩn, Dế Xu Phình, Lao Chải, Mồ Dề, Chế Cu Nha, Kim Nọi của huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái cũ). Di tích có diện tích được khoanh vùng bảo vệ là gần 853 ha. 5. Đường đi đến di tích Di tích Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai cách Hà Nội chừng 300 km về phía Tây Bắc, cách Trung tâm hành chính tỉnh Lào Cai 180km (theo quốc lộ 37 và quốc lộ 32), được trải dài tại ba xã Mù Cang Chải, Púng Luông và Lao Chải. Đến di tích Ruộng bậc thang Mù Cang Chải du khách có thể qua Quốc lộ 32 bằng hai hướng: Nếu từ Hà Nội, du khách lên Lào Cai qua Trung tâm hành chính tỉnh, qua Phường Nghĩa Lộ, phường Trung tâm tỉnh Lào Cai với chặng đường đèo dốc quanh co, khi thấy sương mây mù mịt là sắp đến địa danh xã Mù Cang Chải, xã Púng Luông và xã Lao Chải. Hướng thứ hai, từ Phường Sa Pa xuống cũng là đường đèo, nhưng dốc xuống thoai thoải dễ đi hơn. Đoạn này đi qua Than Uyên – Lai Châu khoảng 40 km là tới được di tích Ruộng bậc thang Mù Cang Chải. Di tích Ruộng bậc thang Mù Cang Chải phân bổ tại ba xã như sau Xã Mù Cang Chải: Di tích danh lam thắng cảnh Ruộng bậc thang Mù Cang Chải của xã Mù Cang Chải được phân bổ chủ yếu ở các thôn Sáng Nhù, Tà Chơ, Thào Chua Chải, Trống Tông, Chế Cu Nha, Háng Phù Loa, Háng Đăng Dê với tổng diện tích khoanh vùng là 217,2 ha (trong đó: Khu vực I 142 ha, Khu vực II là 75,2ha). Xã Púng Luông: Di tích danh lam thắng cảnh Ruộng bậc thang Mù Cang Chải của xã Púng Luông được phân bổ tại các thôn La Pán Tẩn, Tà Chí Lừ, Pú Nhu Háng Sung với tổng diện tích khoanh vùng là 465,6 ha (trong đó: Khu vực I 374,8 ha, Khu vực II là 90,8ha). Xã Lao Chải: Di tích danh lam thắng cảnh Ruộng bậc thang Mù Cang Chải của xã Lao Chải được phân bổ tại bản Lao Chải, Dào Xa và Tà Ghênh với tổng diện tích 169,9 ha. Trong đó, khu vực I: 143,5 ha, khu vực II: 26,4 ha. 6. Sơ lược lịch sử Di tích Di tích Ruộng bậc thang Mù Cang Chải được phân bố tại ba xã vùng cao thuộc tỉnh Lào Cai đó là xã Mù Cang Chải, xã Púng Luông và xã Lao Chải với diện tích được khoanh vùng bảo vệ là gần 853 ha. Người Mông vào Mù Cang Chải cách ngày nay khoảng gần 300 năm và di cư làm nhiều đợt. Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, người Mông ở Quý Châu (Trung Quốc) nổi dậy chống sự cai trị của nhà Thanh nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa đều bị dìm trong bể máu. Người Mông phải di cư xuống Vân Nam và Việt Nam vào Bắc Hà, Sa Pa (Lào Cai), từ đó di cư sang Mù Cang Chải (thuộc địa danh tỉnh Yên Bái cũ). Từ những năm 1840 - 1869, người Mông ở Quý Châu, Quảng Tây (Trung Quốc) kiên cường nổi dậy tham gia phong trào nông dân "Thái Bình Thiên Quốc" chống Mãn Thanh. Cuộc khởi nghĩa bị thất bại, người Mông ồ ạt di cư sang Việt Nam cũng tới Lào Cai và Bắc Hà, xuống Phố Lu lên Sa Pa đi sang Than Uyên tới Mù Cang Chải. Nhóm người Mông đầu tiên đến đây thuộc các họ Vàng, Thào, Giàng, Sùng, Cứ, Hồ, Hảng, Mùa, Lý, Phàng, Lầu, … Trong đó họ Giàng là đông nhất. Người dân sinh sống nơi đây trong đó có tới 91% là đồng bào dân tộc Mông, còn lại là dân tộc Thái (4%), Kinh (4%) và các dân tộc khác (Theo số liệu thống kê dân số và nhà ở ngày 01/4/2019). Đối với người Mông ở dẻo vùng cao nới đây, ruộng bậc thang trở thành cơ sở sản xuất ổn định và là loại hình tư liệu sản xuất đặc biệt. Khi đến mảnh đất này, họ tập trung thành các bản với phương thức canh tác đa dạng trên đất dốc, chủ yếu là canh tác nương rẫy và ruộng bậc thang. Tuy nhiên, ruộng bậc thang có ưu thế hơn do tính thâm canh và năng suất ổn định. Từ những mảnh đất phủ trên đó là thảm thực vật khá dày, các loài cây bụi, cỏ rậm rạp, sau khi tiến hành phát đốt sẽ tạo nên những mảnh nương rẫy có độ phì nhiêu cao, đảm bảo năng suất cây trồng. Cũng từ những mảnh đất này, sau khi tiến hành cải tạo, san lấp để tạo mặt bằng cùng với điều kiện thủy lợi thuận tiện là người ta có thể canh tác lúa nước trên các sườn đồi. Cứ thế, ruộng bậc thang được hình thành từ sức lao động bền bỉ, từ tư duy sáng tạo, từ óc chinh phục thiên nhiên và từ nhu cầu đảm bảo đời sống của tộc người Mông. Khai khẩn ruộng bậc thang là quá trình công phu, tốn nhiều công sức, trong đó đã thể hiện rõ nét kinh nghiệm trồng lúa nước lâu đời của đồng bào Mông. Khi đặt chân tới mảnh đất này, người Mông với những nông cụ tự tạo đơn sơ nhất (cuốc bướm, cuốc chim, dao, xà beng, dao phát, cày, bừa, ...) cùng với sự sáng tạo và tinh thần đoàn kết của nhiều thế hệ tiếp nối nhau đã tạo nên những thửa ruộng bậc thang kỳ vĩ. Họ đã giải quyết vấn đề thủy lợi rất tốt từ những khe suối, tích nước từ những cơn mưa, dẫn theo mương máng quanh co chảy về để biến những sườn núi đất dốc cheo leo thành những triền ruộng bậc thang canh tác lúa nước. Với những gì mà tộc người tạo nên thì họ đã được ví như những người nghệ sĩ, những nhà thiết kế tài tình, những vị kiến trúc sư nổi tiếng vì cùng một lúc họ đã giải quyết được các vấn đề về nguồn nước, về khai khẩn đất đồi thành nơi canh tác để đưa được lúa nước lên đồi, canh tác ổn định và bền vững. Đối với người Mông ruộng bậc thang trở thành cơ sở sản xuất ổn định và là loại hình tư liệu sản xuất đặc biệt. Về thời gian xuất hiện ruộng bậc thang từ bao giờ thì chưa thể rõ. Song với đồng bào thì chắc hẳn nó phải gắn liền với lịch sử cư trú của tộc người ở vùng đất này, ruộng được hình thành từ khi cộng đồng đến và khai phá vùng đất này, gắn với nhu cầu lương thực của tộc người (khoảng thế kỷ XVIII). Theo quan sát, ruộng bậc thang thường xuất hiện ở các quả đồi thấp, có diện tích rộng, độ dốc vừa phải và những nơi như thế ruộng chạy khắp mặt đồi. Đồng bào Mông nơi đây canh tác ruộng bậc thang chủ yếu chờ vào mùa mưa, họ lợi dụng nước suối dẫn vào ruộng ở cấp cao nhất, từ đó dẫn nước tràn vào các ruộng thấp hơn. Ruộng bậc thang thường không rộng (có khi chỉ từ 1 đến 2 đường bừa) song rất dài. Ruộng đất với tất cả các cộng đồng tộc người nói chung và người Mông nói riêng đều được coi là tư liệu sản xuất quan trọng để sinh tồn và phát triển. Nó giải quyết vấn đề lương thực cho con người, không chỉ tại chỗ mà đến nay nó còn là sản phẩm hàng hóa có giá trị. Với tộc người Mông ở các xã Mù Cang Chải, Púng Luông và Lao Chải nó là cơ sở để sản xuất lúa gạo ổn định nhất, là nguồn sống quan trọng nhất, thậm chí đây còn là sức mạnh của mỗi gia đình, dòng họ. Với họ, đây là tài sản quý báu truyền từ đời này qua đời khác, chia cho con cháu mỗi khi họ tách ra ở riêng, do đó ở đây rất hiếm thấy hiện tượng mua bán, trao đổi đất ruộng bậc thang. Quá trình khai khẩn ruộng bậc thang là quá trình công phu, tốn nhiều công sức, trong đó đã thể hiện rõ nét kinh nghiệm trồng lúa nước lâu đời của đồng bào Mông. Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng: quan sát, quá trình khai khẩn ruộng bậc thang còn cho ta thấy phần nào hình bóng của những mảnh ruộng đầu tiên khi con người bắt đầu biết khai khẩn các vùng đất hoang hoá thành các cánh đồng lúa nước. Ruộng bậc thang là sáng tạo của những cư dân địa phương dựa vào địa hình đồi núi để tạo ra các thửa ruộng dưới dạng phân cấp các bậc thang, sự kết tinh những sáng tạo của người dân miền núi với tập quán canh tác lúa nước cộng đồng các dân tộc vùng núi cao. Chỉ với đôi bàn tay và cái cuốc, không bản vẽ hay thước đo người dân đã làm nên những thửa ruộng bậc thang ở mọi độ cao, mọi ngóc ngách của các hẻm núi. Bất kể nơi nào có nước thì nơi đó có thể làm được ruộng. Nhiều thửa ruộng chỉ đủ một đường bừa mà bờ ruộng lại cao quá đầu người, đủ thấy sự cần cù chịu khó cũng như sức sáng tạo vô song của người dân. Họ thực sự là những “nghệ sĩ chân đất” vĩ đại đã tạo nên danh lam thắng cảnh đẹp mê hồn mãi mãi đời sau phải tụng ca. Ruộng bậc thang của người Mông còn được coi như một bảo tàng sống của nền văn minh lúa nước miền núi. Hàng trăm năm qua, cư dân nơi đây đã tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp trong hoạt động phát triển kinh tế nhằm duy trì đời sống xã hội và bảo vệ sinh thái cũng như bảo tồn các giá trị văn hóa. Đến với mảnh đất vùng cao Mù Cang Chải, Púng Luông và Lao Chải tỉnh Lào Cai, ai ai cũng sẽ bị chinh phục bởi vẻ đẹp của những thửa ruộng bậc thang uốn lượn uyển chuyển, trải dài trên khắp các sườn đồi từ chân lên đến đỉnh, xếp tầng xếp lớp từ đồi nọ sang đồi kia, từ núi này sang núi khác, xen kẽ với những cánh rừng thông bạt ngàn, những khe suối ngày đêm róc rách chảy. Do điều kiện địa hình, ruộng bậc thang thường hẹp, nhiều nơi chỉ 1- 2 đường bừa nhưng thường rất dài uốn lượn quanh quả đồi. Có những thửa dưới chân đồi hoặc sát suối, diện tích có thể lên đến 90 - 100m2, song cũng có nơi thửa ruộng chỉ 4 - 5m2, thậm chí có những nơi, đồng bào tận dụng đất ven đường, ven khe chỉ có 1 - 2m2 cũng được cấy lúa và chăm sóc cẩn thận. Dưới ống kính của những nhà nhiếp ảnh trong nước và quốc tế, Ruộng bậc thang Mù Cang Chải đã được tôn vinh về giá trị nghệ thuật và thành những tác phẩm được nhiều người chiêm ngưỡng. Tuy nhiên, những bức ảnh hay tác phẩm hội họa hẳn không thể lột tả được hết vẻ đẹp của Ruộng bậc thang Mù Cang Chải bằng việc tận mắt ngắm nhìn. Đến nơi đây, chỉ cần dừng xe bên đường, ngắm nhìn những triền ruộng bậc thang ven suối Nậm Kim, chúng ta đã bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp rực rỡ, hoàn hảo của những nấc thang này, nhiều ruộng bậc thang, tầng tầng lớp lớp, ngút ngàn lên tận lưng chừng trời. Lên đến Mù Cang Chải, Púng Luông và Lao Chải du khách đều phải ngạc nhiên đến ngỡ ngàng, vì giữa vùng núi cao hiểm trở như thế lại có những thửa ruộng bậc thang kỳ vĩ và đẹp đến mê hồn, mà chủ nhân của nó, không ai khác chính là bà con người Mông chăm chỉ và hồn hậu. Công việc khai khẩn ruộng được đồng bào Mông nối tiếp từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên các triền ruộng tựa như những bức tranh nghệ thuật hoành tráng treo trên các sườn đồi. Đây là nét độc đáo của loại hình canh tác mang đậm sắc thái của cư dân vùng cao của tỉnh Lào Cai. Vào mùa hạ, đó là những bức thảm mơn mởn màu xanh lúa non và đến mùa thu lại trở thành những làn sóng lúa chín vàng rực rỡ. Những sóng lúa vàng trải dài dưới thung lũng, xếp tầng lớp men theo sườn đồi, đỉnh nối đỉnh. Sắc vàng của những cánh đồng chín xen lẫn sắc xanh của những cánh đồng nối vụ tạo thành dải lụa mềm mại, trong nắng mùa thu miền rẻo cao. Du khách sẽ được tận mắt trông thấy những cánh đồng ruộng bậc thang tầng tầng lớp lớp nối tiếp nhau, ngút ngàn đến tận trời xanh. Ruộng bậc thang nghiêng mình, uốn lượn qua những quả đồi trong sắc thu. Ruộng bậc thang nơi đây đẹp nhất vào lúc bình minh sáng và buổi chiều lúc hoàng hôn. Với vẻ đẹp vốn có, ruộng bậc thang không chỉ là niềm tự hào của người dân mà còn làm say lòng biết bao con người đã từng đặt chân tới vùng đất này. Theo từng mùa thì Ruộng bậc thang Mù Cang Chải lại có một vẻ đẹp riêng. Đầu xuân, những thửa ruộng bậc thang được chăm chút bao đời của người Mông đã bắt đầu mướt xanh trên các cánh đồng. Mùa gặt ở nơi đây thường rơi vào giữa tháng năm và tháng mười dương lịch, mênh mông màu vàng sóng lúa, màu vàng của đất đỏ, hương vị của rừng núi hòa với không khí trong lành của vùng cao. Càng lên cao, du khách lại càng thấy thú vị vì khung cảnh không chỉ đẹp trong màu xanh của núi rừng, màu vàng của những cánh đồng lúa bạt ngàn, màu vàng của đất đỏ, mà tại đây ta còn thấy cái đẹp trong tâm hồn người Mông, trong sự mến khách của đồng bào. Tới đây, dù vào những ngày giá lạnh thì sự nồng ấm của tình người cũng xua đi được cái lạnh giá đặc trưng của miền núi. Ruộng bậc thang Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai ngày càng trở nên gần gũi hơn không chỉ đối với các du khách địa phương, mà còn cả với các du khách nước ngoài. Đến thăm nơi đây, du khách có thể thả tâm hồn mình vào với núi rừng, hít thở không khí trong lành với khí hậu mát mẻ, rất tốt để có thể thư giãn vào những kỳ nghỉ dài. Hơn thế nữa, du khách còn có thể tận mắt chứng kiến những cánh đồng ruộng bậc thang ngút ngàn, đẹp nên thơ và ghi lại chân thực được hình ảnh của nơi đây, được chìm đắm trong sự nồng ấm, hiếu khách của những người dân bản địa hiền hậu. Từ những bàn tay lao động cần cù, Ruộng bậc thang Mù Cang Chải đã trở thành kỳ quan, là danh thắng quốc gia cần được bảo tồn và phát triển. Nét văn hóa đặc sắc vùng cao và vẻ đẹp tuyệt vời của ruộng bậc thang đã tạo cho nơi đây đẹp và hấp dẫn trong lòng du khách mỗi khi đến với tỉnh Lào Cai trong cả câu hát và trong những vần thơ. Ruộng bậc thang Mù Cang Chải được biết đến là kỳ quan nhân văn của vùng Tây Bắc, một bức tranh hùng vĩ hoành tráng và cũng là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa của đồng bào Mông. Tất cả đã tạo nên một vẻ đẹp thân thiện và hữu tình hấp dẫn du khách, tạo ra một không gian văn hóa, du lịch sôi động và đa sắc màu. Để cảm nhận hết được cái bao la của núi rừng, sự hi sinh của tộc người, chúng ta có thể theo chân đồng bào, len qua những cánh rừng thông, những con đường nhỏ dốc đứng, quanh co, uốn lượn để lên hẳn những đỉnh cao. Đứng trên đỉnh núi cao, phóng tầm mắt xuống những đường nét uốn lượn mềm mại của các thửa ruộng bậc thang dưới chân những dãy núi xanh mờ, thả mình vào thiên nhiên hùng vĩ, chúng ta sẽ cảm nhận được con người thực sự nhỏ bé trước sự bao la, kỳ vĩ của thiên nhiên, cũng thấy được rõ hơn bao giờ hết sức lao động miệt mài, bền bỉ, đoàn kết của bao đời người Mông. Sức mạnh ấy của cộng đồng đã chinh phục được thiên nhiên hùng vĩ, mang lại cái ấm no, ổn định, tương lai tươi sáng cho tộc người. Ruộng bậc thang Mù Cang Chải có thể coi là một công trình nghệ thuật sáng tạo độc đáo của đồng bào Mông nơi đây. Nếu như vào mùa hạ, đó là những bức thảm mơn mởn với màu xanh của lúa non thì đến mùa thu, nơi đây lại trở thành những bức tranh lung linh trong sóng lúa chín vàng rực rỡ. Ruộng bậc thang hội tụ sự tinh hoa và sáng tạo không ngừng của bà con trong quá trình lao động và sinh hoạt cộng đồng. Việc đưa cây lúa nước lên đồi là một minh chứng cho cho sự sáng tạo trong việc canh tác lúa nước thích ứng với điều kiện khí hậu, đất đai và thủy lợi của đồng bào rẻo cao là thế. Ruộng bậc thang Mù Cang Chải không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn nổi tiếng khắp thế giới, bất kỳ ai đặt chân tới đây vào mùa lúa chín hay mùa nước đổ đều phải thản phục và kinh ngạc kêu lên “Một tuyệt tác do con người tạo ra”. Ruộng bậc thang Mù Cang Chải được rất nhiều báo và tạp chí các nước trên thế giới hết lời ca ngợi và bình chọn là: Đệ nhất ruộng bậc thang đất Việt, Top 20 điểm đến sắc màu nhất trên thế giới, 50 điểm đến đẹp nhất thế giới năm 2020… Ruộng bậc thang Mù Cang Chải được xác định là một sản phẩm du lịch độc đáo của tỉnh Lào Cai. Năm 2007, danh thắng đã được công nhận là Di tích cấp quốc gia. Từ đó đến nay, công tác quảng bá được thực hiện rất tốt trên nhiều kênh thông tin khác nhau nên số lượng du khách đến với các xã Mù Cang Chải, Púng Luông và Lao Chải tỉnh Lào Cai ngày một tăng đã được thế giới biết đến và sức hút của nó đối với du khách trong và ngoài nước. Ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải, nằm trong hệ sinh thái nhân văn, bao gồm các yếu tố: khí hậu cận nhiệt đới, bức tranh văn hóa tộc người đa sắc màu với những nhóm cư dân thân thiện, nhiệt tình … Những phong tục tập quán đặc sắc cũng là một lợi thế to lớn thu hút khách tham quan đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp tráng lệ của nó như biểu tượng của tinh thần sáng tạo vượt khó của đồng bào, chính sự sáng tạo này đã tạo nên một cảnh quan kỳ thú, hấp dẫn. Ruộng bậc thang Mù Cang Chải không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp cảnh quan mà còn có nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa - xã hội, khoa học, thẩm mỹ, kinh tế cần được bảo tồn và phát huy trong tương lai. Ngày 31/12/2021, tỉnh Yên Bái (tên gọi trước khi sáp nhập với tỉnh Lào Cai) long trọng tổ chức lễ đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ. Đây là di tích quốc gia đặc biệt đầu tiên của tỉnh được Thủ tướng Chính phủ trao cho cộng đồng người Mông, huyện Mù Cang Chải (Tên gọi trước khi tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai sáp nhập) nay là các xã Mù Cang Chải, Púng Luông và Lao Chải thuộc tỉnh Lào Cai mới. Trải qua hàng trăm năm cần cù lao động sáng tạo, đời nọ nối đời kia để tạc vào vách núi một kiệt tác vĩ đại bằng đôi tay sần chai một bức tranh hùng vĩ bậc nhất vùng Tây Bắc, đó là những thửa ruộng bậc thang trên các sườn núi cao quanh năm mây phủ. Trong thời gian gần đây, ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải đã trở thành một sản phẩm khai thác để phục vụ du lịch sinh thái văn hóa ở địa phương, bước đầu mang lại nguồn thu cho cộng đồng, kèm theo đó là một số dịch vụ du lịch ở huyện vùng cao này đã phát triển hơn. Dù nguồn thu còn thấp nhưng sản phẩm du lịch này đã góp phần thay đổi bộ mặt vùng cao và mang lại những giá trị kinh tế nhất định cho địa phương./. Theo CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH LÀO CAI http://laocai.gov.vn/di-tich-quoc-gia-dac-biet/di-tich-quoc-gia-dac-biet-ruong-bac-thang-mu-cang-chai-tinh-lao-cai-1544307
Đền Bảo Hà, biểu tượng thiêng liêng cho tinh thần yêu nước. Vị trí quan trọng trong lịch sử Trong các giai đoạn cổ trung và cận đại, sông Hồng là tuyến giao thông huyết mạch nối liền vùng Bắc Bộ - Việt Nam với Vân Nam - Trung Quốc, đóng vai trò quan trọng trong giao thương. Bảo Hà giữ vị trí quan trọng trong hệ thống phòng thủ biên giới, là cửa trạm canh phòng tuyến sông Hồng phía Tây Bắc Việt Nam, ngăn chặn các cuộc tấn công từ phương Bắc về Thăng Long. Nhận thức được tầm quan trọng của con đường thủy này, nhà Trần đã thiết lập hai cửa trấn ải là Bảo Thắng và Bảo Hà dọc theo sông Hồng, đồng thời xây dựng cửa quan Bảo Hà thành hậu cứ trực tiếp của cửa quan Bảo Thắng, nơi đóng đại bản doanh của quân thủy bộ. Bảo Hà có đài hỏa hiệu, trạm liên lạc thông tin tình hình của cửa quan Bảo Thắng cho các Châu huyện phía dưới. Nhờ đài hỏa hiệu ở Bảo Thắng, trấn Quy Hóa nắm bắt được tình hình và kế hoạch tấn công của quân Nguyên Mông (1258 - 1285), báo cho quân triều đình có kế hoạch phòng bị cửa ải Lê Hoa, và tướng Trần Ban đã tu sửa các trạm đài tại Bảo Hà. Trong tác phẩm “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán Triều Nguyễn, châu Thủy Vỹ được ghi rõ với các thông tin như: “Động Cam Đường có mỏ vàng, Động Trình Lạn và động Sơn Yên có mỏ đồng. Thổ sản có thảo đậu khấu. Động Ngọc Uyển có mỏ kẽm và bạc. Trên sông Ân đối ngạn với điếm Bắc Sát có sở Tuần Ty ở xứ Nguyên Đường, thu thuế muối, mỗi năm được một nghìn lạng bạc. Phong tục, ngôn ngữ và văn tự giống như châu Văn Bàn. Họ Nguyễn đời đời làm Phụ đạo, binh hiệu gọi là Ninh Nhất. Sau loạn lạc, dân cư điêu tàn, ruộng đất bỏ hoang. Những người quản cũ ở động Hương Sơn và động Trình Lạn chiêu mộ người Nùng áo xanh về khẩn điền khai mỏ chịu thuế. Các tù trưởng chiêu tập người Nùng và người Mán về ở lẫn lộn, nhưng họ khó dạy và dễ làm theo giặc. Đường bộ từ châu Văn Bàn đi vào rất khó khăn. Đường thủy từ sông Thao đi ngược lên, phía dưới sông nhiều đá lởm chởm, gập ghềnh”. Trong thời Cảnh Hưng (1740-1786), giặc phương Bắc thường xuyên quấy nhiễu, cướp bóc dân lành. Xã Khấu Bàn, châu Văn Bàn cùng nhiều châu, xã lân cận đã phải xây dựng các thành luỹ kiên cố chống giặc. Vị trí Bảo Hà ngày càng trở nên quan trọng, có đường sông và đường bộ huyết mạch nối liền biên giới với lỵ sở Hưng Hóa. Trước nguy cơ bị xâm lược, tướng Nguyễn Hoàng Bảy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải. Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc, giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố Bảo Hà thành căn cứ lớn. Tại đây, danh tướng đã tổ chức cho các thổ ty, tù trưởng luyện tập binh sĩ. Sau đó, ông thống lĩnh quân thủy và quân bộ tiến đánh giặc ở Lào Cai, giải phóng các châu thuộc phủ Quy Hóa (Yên Bái, Lào Cai ngày nay). Sau này, khi quân giặc phương Bắc do tên tướng Tả Tủ Vàng Pẹt dẫn đầu xâm lược, danh tướng Hoàng Bảy lại dẫn quân tham chiến. Tuy nhiên, trong một trận chiến không cân sức, ông đã anh dũng hy sinh. Giặc vứt xác ông xuống sông Hồng, và xác trôi đến Bảo Hà. Nhân dân trong vùng do ông Lư Văn Cù tổ chức vớt xác lên chôn cất và lập miếu thờ. Ban thờ tướng quân Nguyễn Hoàng Bảy, vị tướng có công với dân, với nước. Ngôi đền “trấn trị” miền biên viễn Theo truyền thuyết và lời kể của một số cao niên ở vùng Bảo Hà, có một điều kỳ lạ khi ông Hoàng Bảy bị giặc sát hại, trời bỗng chuyển gió, mây vần vũ, kết lại thành hình thần mã. Từ thi thể ông phát ra ánh hào quang, phi lên thân ngựa, đến khu vực núi Cấm, vùng trung tâm Bảo Hà thì dừng lại. Trời bỗng quang đãng, mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội. Sau này, khi hiển linh, ông được giao quyền trấn giữ đất Lào Cai, ngự trong đền Bảo Hà. Để ghi nhớ công lao của ông, các vua triều Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị đã ban sắc phong tặng ông danh hiệu “Trấn an hiển liệt” và đền thờ ông cũng được phong là “Thần vệ quốc”. Đồng bào các dân tộc Kinh, Tày, Dao tôn thờ ông như một vị nhân thần. Lễ chay ở đền Bảo Hà đặc trưng bởi bảy loại quả, tương ứng với các mùa trong năm, tạo nên nét độc đáo trong lễ vật dâng cúng ông Hoàng Bảy. Số 7 của bảy loại quả tượng trưng cho tên của ông Hoàng Bảy, nhằm tôn vinh công lao của đức Thánh. Lễ mặn tại các cung, các ban thường bao gồm gà, xôi, thủ lợn, cháo, và oản. Đặc biệt, lễ vật dâng cúng ông Hoàng Bảy vào ngày giỗ ông phải có ba con vật (lễ tam sinh) được lựa chọn kỹ lưỡng: trâu đực, bò đực, và lợn đực, nhằm ghi nhớ công lao của những binh sĩ đã bảo vệ bờ cõi. Bên cạnh những lễ vật này, lễ hội Đền Bảo Hà còn nổi bật với tục "tiến mã" (dâng ngựa) trong các nghi lễ thờ cúng. Lễ dâng ngựa gồm bảy con ngựa với bảy màu khác nhau. Lễ hội đền Ông đặc biệt với phần rước kiệu linh đình, được thực hiện bởi những thanh đồng nhỏ tuổi đã ăn chay ba ngày trước đó. Vào ngày lễ chính, từ sáng sớm ngày 17.7 âm lịch, lễ rước kiệu bắt đầu từ đền Cô Tân An (xã Tân An, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, nơi thờ Nguyễn Hoàng Bà Xa, con gái của danh tướng Nguyễn Hoàng Bảy). Đội khiêng kiệu lễ từ đền Cô Tân An sang đền Bảo Hà gọi là Kiệu Long Đình, do tám phụ nữ mặc trang phục dân tộc khiêng. Những người này đều được tuyển chọn cẩn thận, ăn chay liên tục ba ngày và gia đình họ phải hòa thuận, ấm no. Các giá kiệu bao gồm kiệu Phật, kiệu Mẫu, kiệu Vua Cha, kiệu Ông Bảy, kiệu Công chúa Thượng Ngàn cùng các lễ vật. Khi kiệu Ông về đền, nghi lễ thiêng liêng nhất diễn ra, bắt đầu bằng phần đọc chúc văn tóm tắt công lao to lớn của Ông trong việc giúp dân chống giặc, xây dựng quê hương trù phú, bình yên. Tại sân đền, đoàn rước kiệu đặt ba mâm lễ chính bên ngoài lễ vọng. Ông chủ tế đọc chúc văn, dàn nhạc nổi chiêng trống từng hồi, mỗi hồi ba tiếng. Khi đọc đến các đoạn ngắt nhịp, đều điểm trống chiêng một hồi ba tiếng. Đoạn kết điểm ba hồi chuông chín tiếng. Sau khi đọc chúc văn xong, ông chủ tế hóa chúc, đội tế nam lễ bái theo nghi thức truyền thống. Tiếp đó là nghi thức dâng hương, biểu hiện lòng thành kính của con cháu đối với vị Thánh anh linh. Khi bắt đầu nghi thức dâng hương, ban nhạc nổi ba hồi chín tiếng trống chiêng, sau đó mở nhạc lưu thủy suốt quá trình dâng hương. Sau phần lễ, phần hội diễn ra sôi động với các cuộc thi và trò chơi dân gian như đẩy gậy, kéo co, bắn nỏ, đánh cờ, chọi trâu, và trình diễn các loại hình nghệ thuật dân tộc. Lễ hội truyền thống đền Bảo Hà được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia năm 2016. Ngày 21.3.2022, UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 607/QĐ-UBND công nhận đền Bảo Hà, bản Bảo Vinh, xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên là điểm du lịch. Đền Bảo Hà đã được đầu tư mở rộng và trùng tu, tôn tạo khang trang, lộng lẫy, thoáng rộng và uy linh. Điều này hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Đền Bảo Hà trở thành trung tâm du lịch tâm linh của khu vực phía Bắc và cả nước. Đền Bảo Hà đã được xếp hạng Di tích lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia vào tháng 11 năm 1997. Đền có giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, tín ngưỡng và tâm linh. Ngôi đền biểu tượng cho tinh thần đoàn kết của đồng bào các dân tộc thiểu số huyện Bảo Yên, tinh hoa nghệ thuật kiến trúc đền chùa, và là không gian linh thiêng gắn với tín ngưỡng thờ Đạo Mẫu của người Việt. Đền Bảo Hà còn là nơi thăng hoa cho nghệ thuật hát văn và tín ngưỡng hầu đồng. Theo Báo Lao Động https://laodong.vn/lao-dong-cuoi-tuan/den-bao-ha-tho-than-ve-quoc-vung-bien-ai-1365075.ldo
Theo sử sách địa phương và các nguồn tư liệu văn hóa, đền được xây dựng vào thời Lê Trung hưng, niên hiệu Chính Hòa (1680 - 1705), là nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - danh tướng kiệt xuất của dân tộc, người ba lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh bại quân Nguyên - Mông xâm lược vào thế kỷ XIII. Việc lập đền thờ Trần Hưng Đạo tại nơi biên ải địa đầu phản ánh lòng tôn kính và tri ân sâu sắc của nhân dân với vị anh hùng dân tộc. Vị trí đền tựa lưng vào đồi Hỏa Hiện, mặt hướng ra dòng Nậm Thi nơi hợp lưu giữa nét đẹp thiên nhiên hùng vĩ và không gian linh thiêng. Theo quan niệm phong thủy truyền thống, đây là thế đất “tọa sơn vọng thủy”, mang lại sinh khí cát tường và phù hợp để dựng chốn thờ tự bậc Thánh nhân. Ngôi đền được thiết kế theo kiểu kiến trúc truyền thống hình chữ Công, gồm nhiều hạng mục nối tiếp nhau: Tam quan, sân đền, chính điện, hậu cung, tả vu - hữu vu, cùng các công trình phụ trợ. Kiến trúc đền thể hiện sự giao thoa giữa phong cách cung đình thời Lê với nét dân gian bản địa Tây Bắc, vừa đường bệ, uy nghi vừa gần gũi và mộc mạc. Bước vào sân đền, du khách sẽ bị thu hút bởi cây đa cổ thụ hàng trăm năm tuổi biểu tượng trường tồn với thời gian, tỏa bóng mát che chở cho ngôi đền linh thiêng. Cây đa này không chỉ có giá trị sinh học mà còn mang ý nghĩa văn hóa tâm linh sâu sắc, là nơi người dân thường đến dâng hương, cầu bình an. Chính điện đền được bài trí trang nghiêm, theo thứ tự thờ tự truyền thống như: Cung thờ Phật Thích Ca Mâu Ni; Cung thờ Tam Tòa Thánh Mẫu; Ban thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo; Cung thờ Đức Vua Cha Ngọc Hoàng. Phía Tả Vu - Hữu Vu là hệ thống thờ tự phong phú gồm Chầu Bà Đệ Nhị Sơn Trang, Thập Nhị Tiên Cô, Chầu hầu cận Chúa, Cậu Bé Thủ Đền… Phần thờ cúng phản ánh đậm nét tín ngưỡng thờ Mẫu – Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (UNESCO, 2016), đồng thời kết nối chặt chẽ với truyền thống thờ anh hùng dân tộc, biểu tượng của đạo lý “uống nước nhớ nguồn” trong văn hóa Việt. Bên cạnh đền là một ngôi đình hình vuông có bốn cửa, tám rồng chầu. Tại trung tâm phương đình là rùa vàng cõng bia đá khắc dòng chữ "Đức Thánh Trần", tôn vinh công trạng Trần Hưng Đạo như một vị thần hộ quốc an dân. Năm 1996, Đền Thượng Lào Cai đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia. Đây không chỉ là sự ghi nhận về mặt vật thể mà còn là khẳng định cho vai trò tinh thần, niềm tin và bản sắc của cộng đồng dân cư nơi biên giới. Giáo sư Trần Lâm Biền - nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nổi tiếng từng nhận định: “Đền Thượng là một trong những ngôi đền hiếm hoi kết hợp giữa thờ Thánh Trần - biểu tượng của sức mạnh dân tộc và tín ngưỡng Tam phủ biểu tượng cho sự bảo trợ tâm linh. Nơi đây như một bức thông điệp về bản lĩnh văn hóa của cư dân vùng biên.” Đền còn là minh chứng rõ nét cho chính sách trấn ải biên cương của triều đình phong kiến xưa. Việc xây dựng đền thờ Trần Hưng Đạo tại Lào Cai - vùng đất “phên dậu” của Tổ quốc có ý nghĩa vừa linh thiêng vừa chính trị, khẳng định chủ quyền lãnh thổ và củng cố niềm tin cho nhân dân biên giới. Hằng năm, vào ngày Rằm tháng Giêng âm lịch, Đền Thượng tưng bừng mở hội. Lễ hội Đền Thượng là một trong những lễ hội đặc sắc bậc nhất tỉnh Lào Cai, thu hút hàng nghìn người dân và du khách thập phương về chiêm bái, dâng hương và tham gia các hoạt động văn hóa truyền thống. Phần lễ gồm các nghi thức như: Lễ rước kiệu, lễ dâng hương, tế Thánh Trần, lễ cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Phần hội diễn ra sôi nổi với các trò chơi dân gian như: ném pao, kéo co, đẩy gậy, múa xòe Thái, các tiết mục hát then, hát chầu văn, cùng trình diễn trang phục dân tộc thiểu số. Lễ hội không chỉ là dịp tôn vinh anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo mà còn là ngày hội tôn vinh bản sắc văn hóa của các dân tộc Lào Cai – nơi 25 dân tộc cùng sinh sống hòa thuận và đoàn kết. Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hằng (Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam) từng viết: “Lễ hội Đền Thượng không chỉ mang yếu tố tâm linh mà còn là không gian sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi con người gặp gỡ, sẻ chia và khẳng định mối quan hệ hài hòa giữa quá khứ - hiện tại - tương lai.” Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, việc bảo tồn và phát huy giá trị của Đền Thượng Lào Cai cần được thực hiện một cách bài bản và bền vững. Những năm gần đây, chính quyền thành phố Lào Cai đã có nhiều nỗ lực trong việc trùng tu, tôn tạo đền, đồng thời đẩy mạnh quảng bá hình ảnh đền gắn với phát triển du lịch tâm linh. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, để Đền Thượng trở thành điểm đến văn hóa - du lịch cấp vùng và quốc gia, cần: Xây dựng quy hoạch tổng thể bảo tồn di tích gắn với bản đồ văn hóa tâm linh của tỉnh; Tăng cường nghiên cứu khoa học về lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng tại đền; Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, giáo dục văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ; Kết nối với các điểm du lịch lân cận như Đền Mẫu, Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai, Sa Pa, tạo thành chuỗi tour văn hóa đặc sắc. Tồn tại hơn ba thế kỷ, Đền Thượng Lào Cai không chỉ là một di tích kiến trúc cổ mà còn là biểu tượng văn hóa tâm linh sống động của vùng đất biên giới phía Bắc. Với vẻ đẹp cổ kính, linh thiêng cùng giá trị lịch sử - văn hóa to lớn, Đền Thượng là điểm đến không thể bỏ qua đối với du khách yêu mến văn hóa dân tộc và mong muốn tìm về cội nguồn của lòng yêu nước, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Theo Tạp chí Văn hóa & Phát triển https://vanhoavaphattrien.vn/den-thuong-lao-cai-dau-an-tam-linh-noi-dia-dau-to-quoc-a28927.html
Sau hợp nhất, tỉnh Lào Cai mới không chỉ mở rộng về quy mô diện tích và dân số mà còn có không gian di sản rộng lớn, liên vùng và có chiều sâu lịch sử - văn hóa - sinh thái. Đây là nguồn tài nguyên quý để Lào Cai kiến tạo hệ sinh thái du lịch phát triển bền vững trong thế và lực mới. Di sản văn hóa các dân tộc thiểu số - nguồn tài nguyên để phát triển du lịch tại Lào Cai. Ảnh: Nguyễn Mạnh Cường Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 nhấn mạnh: Phát huy giá trị di sản và bản sắc văn hóa dân tộc để hình thành sản phẩm du lịch độc đáo, khác biệt, có lợi thế cạnh tranh, góp phần tạo dựng thương hiệu nổi bật của du lịch Việt Nam trên bản đồ du lịch thế giới. Kể từ năm 2019, Việt Nam liên tiếp được Tổ chức du lịch thế giới công nhận là điểm đến di sản hấp dẫn hàng đầu khu vực và thế giới. Điều này đã cho thấy sức hút của di sản văn hóa trong định vị thương hiệu điểm đến. Sau hợp nhất, tỉnh Lào Cai mới không chỉ mở rộng về quy mô diện tích và dân số mà còn có không gian di sản rộng lớn, liên vùng và có chiều sâu lịch sử - văn hóa - sinh thái. Đây là nguồn tài nguyên quý để Lào Cai kiến tạo hệ sinh thái du lịch phát triển bền vững trong thế và lực mới. Nhận diện không gian di sản Sau hợp nhất, tỉnh Lào Cai có 204 di tích được xếp hạng; có đa thành phần dân tộc với nhiều nhóm, ngành, thuộc 4 ngữ hệ tạo nên hệ thống di sản văn hóa tộc người phong phú, đa dạng. Trong đó, có các di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh: Di sản nghi lễ và trò chơi kéo co; Di sản thực hành then của người Tày, Nùng, Thái; Di sản nghệ thuật xòe Thái...; 56 di sản văn hóa phi vật thể được ghi danh vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tỉnh Lào Cai khai thác các giá trị di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch hiệu quả. Ảnh: Nguyễn Mạnh Cường Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là không chỉ dừng lại ở các di tích, di sản riêng lẻ mà việc hợp nhất đã mở ra không gian di sản có giá trị sâu sắc. Không gian di sản theo hướng tiếp cận của UNESCO và ICOMOS là tổng thể các giá trị văn hóa - tự nhiên - con người được tạo lập, kế thừa và tiếp diễn qua thời gian, bao gồm: di sản vật thể và phi vật thể, cảnh quan văn hóa, cộng đồng thực hành di sản. Theo hướng tiếp cận này, không gian di sản ở Lào Cai có tính đa dạng gắn với các vùng sinh thái nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới. Không gian di sản có tính liên kết mạnh như: không gian di sản đạo Mẫu gắn với các di tích đạo Mẫu dọc sông Hồng; không gian di sản đường sắt Điền - Việt gắn với cung đường Yên - Lào; không gian di sản ruộng bậc thang gắn với di tích ruộng bậc thang Mù Cang Chải, Tả Van với cộng đồng người Mông, người Dao; không gian di sản dân tộc Thái; không gian di sản dân tộc Tày... Đặc biệt, các không gian di sản này còn có thể mở rộng về phía Nam kết nối với các địa phương như di sản Đạo Mẫu kết nối với Phú Thọ, Tam Đảo... di sản đường sắt Điền - Việt kết nối tới Hà Nội, Hải Phòng; sang phía Tây kết nối với Than Uyên, Mường Thanh... sang phía Đông kết nối với Tuyên Quang... Trong mỗi không gian di sản lại hàm chứa nhiều giá trị di sản phong phú và đặc sắc như: ẩm thực, trang phục, kiến trúc, tập quán, nghi lễ... Không gian di sản ở Lào Cai còn có tính “sống”, mang giá trị đương đại vì đang được thực hành trong cộng đồng. Toàn tỉnh có 2 nghệ nhân nhân dân, 38 nghệ nhân ưu tú và 49 nghệ nhân dân gian. Đây là những nguồn lực có giá trị để chuyển hóa thành nguồn lực để phát triển du lịch. Hệ sinh thái du lịch từ di sản Di sản và du lịch có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ. Đặc biệt đối với các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số như Lào Cai, du lịch di sản văn hóa được xem là sản phẩm du lịch đặc thù. Do đó, việc phát huy giá trị di sản để phát triển du lịch đã được triển khai thực hiện trong nhiều năm qua. Cả hai địa phương trước đây của tỉnh Lào Cai mới đều đã quan tâm xây dựng các sản phẩm du lịch di sản gắn với các địa danh như Sa Pa, Mù Cang Chải, Bắc Hà, Nghĩa Lộ, Bảo Yên, Trạm Tấu với các thương hiệu như: du lịch cộng đồng người cộng đồng người Giáy ở Tả Van, du lịch cộng đồng người Dao ở Tả Phìn, du lịch cộng đồng người Tày ở Nghĩa Đô, du lịch cộng đồng người Hà Nhì ở Y Tý, du lịch cộng đồng người Mông ở La Pán Tẩn, Dế Xu Phình, lễ hội cốm Tú Lệ, xòe Thái... Đồng thời các giải pháp liên kết du lịch được hai địa phương liên tục triển khai và không ngừng đổi mới, cải tiến từ chương trình Du lịch về cội nguồn, đến hợp tác phát triển du lịch tâm linh dọc sông Hồng và Du lịch 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng. Đây là nền tảng để du lịch Lào Cai có những bước phát triển trong giai đoạn tới. Du lịch cộng đồng người Tày ở Nghĩa Đô cũng là một trong sản phẩm du lịch đặc sắc của tỉnh Lào Cai. Ảnh: Nguyễn Mạnh Cường Văn hóa dân tộc Mông ở Mù Cang Chải - làm nên sức hấp dẫn riêng có Khai thác thế mạnh về di sản văn hóa các dân tộc trên địa bàn tỉnh để mở rộng không gian du lịch phát triển theo hướng bền vững Trong bối cảnh tỉnh Lào Cai hiện nay - không gian mở rộng, tài nguyên di sản phong phú, cơ hội đầu tư lớn thì việc thiết kế và vận hành du lịch từ di sản không chỉ dừng lại ở các sản phẩm đơn lẻ, ở từng điểm là xây dựng hệ sinh thái hoàn thiện với mạng lưới liên kết đa thành phần; trong đó, các yếu tố di sản - con người - doanh nghiệp - công nghệ - chính sách vận hành như một mạng lưới. Di sản là yếu tố cốt lõi của hệ sinh thái, cộng đồng với vai trò là người giữ gìn thực hành di sản, doanh nghiệp là người phát triển tiếp thị sản phẩm, nhà nghiên cứu là người giải mã và bảo tồn giá trị di sản, nhà nước tại chính sách, đầu tư hạ tầng, công nghệ và truyền thông tạo công cụ số, lan tỏa và kết nối. Xây dựng hệ sinh thái du lịch từ di sản là quá trình thiết kế một môi trường phát triển bền vững, công bằng và bản sắc. Với không gian di sản rộng lớn, phong phú và giàu bản sắc, việc phát triển hệ sinh thái du lịch từ di sản văn hóa không chỉ phát triển du lịch bền vững mà còn tạo dựng thương hiệu du lịch Lào Cai trên bản đồ du lịch quốc gia, quốc tế. Theo TRUNG TÂM THÔNG TIN DU LỊCH https://vietnamtourism.gov.vn/post/64855
Du khách đến thăm Khu Du lịch quốc gia Sa Pa bao giờ cũng muốn có những tấm ảnh đẹp lưu niệm trước khu nhà thờ đá. Theo lịch sử ghi lại, năm 1902 Hội thừa sai Pa- ri (Pháp) đã thành lập Giáo xứ Sa Pa và năm 1925 bắt tay vào xây dựng nhà thờ. Sau hơn 10 năm xây dựng trong điều kiện khó khăn, nhất là xa nguồn cung ứng vật liệu, nên năm 1935 công trình hoàn thành và chính thức đưa vào sử dụng. Nhà thờ Sa Pa xây chủ yếu bằng đá hoa cương, mái nhà thờ lợp ngói thủ công. Công trình này thiết kế kiểu Gô-tíc La Mã quen thuộc của châu Âu cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nhà thờ Sa Pa có chiều rộng 7,6 mét, chiều dài 39 mét, hai bên thánh giá cao 14 mét, tháp chuông cao 18 mét. Quả chuông được đúc bằng đồng năm 1932 và nặng 300 kg vẫn còn những dòng chữ ghi nơi đúc chuông cùng thời gian hoàn thành chuông. Nhà thờ đá cổ Sa Pa nằm ở vị trí đẹp của thị xã du lịch Sa Pa, với lưng dựa vào núi Hàm Rồng, cổng nhà thờ nhìn về hướng mặt trời mọc. Do ảnh hưởng của chiến tranh nên nhà thờ Sa Pa bị tàn phá nặng nề. Sau khi tái lập tỉnh Lào Cai tháng 10/1991, đến năm 1995 nhà thờ đá cổ Sa Pa mới được khôi phục để phục vụ bà con giáo dân địa phương tới hành lễ và khách du lịch tới tham quan. Nhà thờ đá Sa Pa đã tồn tại gần 100 năm và hiện nay là một trong những công trình kiến trúc cổ, đẹp còn ít ỏi ở vùng du lịch kỳ thú này. Đây là một trong những điểm hấp dẫn du khách mỗi khi tới thăm “Thành phố trong sương” để chiêm ngưỡng, chụp ảnh lưu niệm. Theo Báo Lào Cai https://baolaocai.vn/nha-tho-da-co-diem-du-lich-hap-dan-cua-sa-pa-post350972.html
Địa chỉ các ngôi đền, chùa ở Lào Cai nổi tiếng nhất 1. Đền Cấm Lào Cai Trong các điểm du lịch tâm linh ở Lào Cai thì đền Cấm là ngôi đền cổ, nhận được sự quan tâm của nhiều du khách nhất. Ngôi đền này xây dựng khá lâu đời, từ những năm của thế kỷ XVI cho đến nay đã được trùng tu và nới rộng hơn, nhưng vẫn giữ được nét đẹp của kiến trúc cổ vốn có. Du khách đặt chân tới đền Cấm, bên cạnh việc hành hương làm lễ, khám phá kiến trúc độc đáo nơi đây, thì bạn còn được tìm hiểu về những sự kiện, những câu chuyện truyền thuyết, hay những thông tin lịch sử, gắn liền với sự phát triển của đất nước nữa nhé. Nghi lễ được thực hiện trong lễ hội ở đền Cấm Ngoài ra, nếu bạn muốn có được trải nghiệm trọn vẹn hơn, có thể tới đây vào dịp lễ hội đền Cấm, được tổ chức vào ngày thìn tháng bảy (âm lịch) hàng năm nhé. Thời gian này người dân Lào Cai cùng nhau góp gạo, thịt để cùng tổ chức và buổi làm lễ được diễn ra trang trọng. Cùng với đó, còn có rất nhiều hoạt động vui chơi, giải trí được diễn ra tại đây như: Chèo thuyền, đánh én, ném còn,…. Do đó, đền Cấm cũng là một trong các ngôi đền/chùa ở Lào Cai bạn nhất định phải ghé thăm. Địa chỉ đền Cấm: Nằm ở tổ 3, Phường Phố Mới, Lào Cai. 2. Đền Mẫu Lào Cai Nên đi đâu, chơi gì khi tới Lào Cai? Gợi ý tiếp theo dành cho bạn đó là đền Mẫu – Ngôi chùa ở Lào Cai với thiết kế độc đáo, ấn tượng nhất. Với vị trí nằm ở gần cửa khẩu, nên lượng khách lớn tới đây chủ yếu là du khách thập phương, tới để làm lễ dâng hương và tham quan du lịch. Ngôi chùa được xây dựng từ thế kỷ XVIII, cho tới nay đã được trùng tu, khơi nới lên 9 gian thờ và được xếp vào Di tích lịch sử cấp quốc gia (2011). Được biết đền thờ chủ yếu là Liễu Hạnh Công Chúa, nhưng xung quanh vẫn có thờ nhiều vị thần thánh khác như: Ngọc Hoàng Thượng Đế, bà Đệ Nhị Sơn Trang, Quan Lớn Thủ Đền,…. Bước chân vào đền, bạn sẽ ngỡ ngàng trước những bức tượng được sơn son thiếp vàng ấn tượng, mang lại dáng vẻ nguy nghiêm. Xung quanh đền là những rừng cây xanh mướt, tạo nên không gian xanh, trong lành, giúp tinh thần bạn luôn cảm thấy thư thái, dễ chịu đến lạ thường. Không gian thanh tịnh của đền Mẫu tại Lào Cai Địa chỉ đền Mẫu: Nằm ở cột mốc biên giới Việt - Trung số 102, Lào Cai. 3. Đền Bảo Hà Du lịch Lào Cai nên đi chùa hay đền nào? Điểm dừng chân tiếp theo cho bạn đó là đền Bảo Hà – Một ngôi đền nổi tiếng, trở thành di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Nơi đây thờ phụng chủ yếu là thần vệ Hoàng Bảy – Người anh hung dân tộc, đánh đuổi giặc phương Bắc, giữ gìn cuộc yên bình cho người dân Lào Cai. Du khách tới đây, sẽ được hành hương làm lễ, cầu xin máy mắn, làm ăn thuận lợi, sự nghiệp thăng tiến. Bên cạnh đó, bạn còn có cơ hội tìm hiểu về những câu chuyện, sự tích lien quan đến ông Hoàng Bảy vô cùng lý thú nhé. Tham quan đền Bảo Hà Địa chỉ đền Bảo Hà: Nằm ở dưới chân đồi Cấm, xã Bảo Hà, Bảo Yên, Lào Cai (Cách trung tâm thành phố khoảng 60km). 4. Đền Thượng Nhắc đến các ngôi đền ở Lào Cai linh thiêng nhất thì không ai là không biết đến đền Thượng. Ngôi đền này còn được gọi với cái tên khác là Thánh Trần Từ, được xây dựng khá lâu đời từ thời nhà Lê, niên hiệu Chính Hòa (Khoảng từ năm 1680 – 1705). Trước đây ngôi đền này từng là nơi hỏa hiệu cho quân sĩ và sau này được dùng để thờ Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Đến năm 1996, đền Thượng chính thức được các cấp công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Chiêm ngưỡng hình ảnh cây đa di sản ở đền Thượng Lào Cai Đền Thượng được xây dựng với thiết kế độc đáo, mang phong cách kiến trúc cổ hình chữ công. Ở giữa là khu vực chính điện và 2 bên là tả vu và hữu vu. Còn phía sau ngôi đền là bia đá khắc, nơi ghi lại những thông tin, chiến tích, cùng với công lao của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Du khách tới đây có thể cân nhắc vào thời điểm 20 – 8 âm lịch hàng năm, để được hòa mình vào không khí nào nhiệt của đền Thượng. Đồng thời đây cũng là ngày giỗ chính của Trần Quốc Tuấn. Địa chỉ đền Thượng: Nằm ở khu vực phường Lào Cai. 5. Chùa Tân Bảo Chùa Tân Bảo hay còn được gọi là chùa Lê Lợi, cũng nằm trong danh sách địa chỉ các ngôi chùa ở Lào Cai nổi tiếng. Công trình được xây dựng với diện tích 1.500m2 và chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Du khách tới đây không những được lễ Phật, được tham quan kiến trúc độc đáo của chùa, mà còn được hòa mình trong không gian thanh tịnh để thư giãn nữa nhé. Chùa tọa ở vị trí gần cửa khẩu biên giới, nên khách thập phương tới đây tham quan rất đông, đặc biệt là vào những ngày lễ, cuối năm. Không gian bên ngoài chùa Tân Bảo Địa chỉ chùa Tân Bảo: Nằm ở tổ 7, phường Lào Cai, thị xã Lào Cai, tỉnh Lào Cai (Giáp ranh giới Việt – Trung). Theo Lữ hành Việt Nam https://luhanhvietnam.com.vn/du-lich/dia-chi-cac-den-chua-o-lao-cai.html
Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Đền thượng được đầu tư xây dựng khang Đền Thượng thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - người đã có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ bờ cõi non sông đất nước tọa lạc trên đồi Hỏa Hiệu thuộc phường Lào Cai, thành phố Lào Cai. Năm 1996, Đền Thượng được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Năm 2012, cây đa tại Đền Thượng cũng được công nhận là Cây di sản Việt Nam; đến năm 2017, Lễ hội Đền Thượng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Thực hiện công tác tu tạo, năm 2024 Đền Thượng và Đền Am ở Lào Cai được xây mới hoàn toàn, theo đó, diện tích các đền đều được mở rộng. Tổng kinh phí đầu tư xây dựng, sửa chữa là 47 tỷ đồng từ nguồn xã hội hóa. “Việc đầu tư, xây dựng sửa chữa Đền Thượng đã hoàn thành theo đúng thiết kế cũng như nguyên mẫu; qua đó, bảo tồn, gìn giữ các di sản trên địa bàn thành phố cũng như góp phần thúc đẩy phát triển du lịch nói chung, du lịch tâm linh nói riêng”, ông Ngô Ngọc Hà, Trưởng Ban Quản lý di tích thành phố Lào Cai cho biết. Di tích cấp quốc gia Đền Cấm (thành phố Lào Cai) đang được xây dựng, sửa chữa Là tỉnh vùng cao biên giới còn nhiều khó khăn; tuy nhiên, công tác quản lý, bảo tồn di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh được Lào Cai đặc biệt quan tâm. Mới đây nhất, ngày 28/3/2025, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành Công văn số 1682/UBND-VX về việc tăng cường công tác quản lý di tích và hoạt động bảo quản, tu bổ phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn. Theo đó, yêu cầu các sở ban ngành liên qua, các huyện, thị xã, thành phố tăng cường quản lý nhà nước trong công tác quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di tích và hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; kiểm soát chặt chẽ quy trình kiểm kê, xếp hạng mới di tích, gắn kết chặt chẽ với chương trình, kế hoạch tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị di tích. Đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở địa phương; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng trong việc triển khai các dự án tu bổ, tôn tạo di tích đúng quy trình, nội dung theo quy định của pháp luật, kiên quyết xử lý nghiêm và dứt điểm các sai phạm, vi phạm làm ảnh hưởng tới giá trị di tích (nếu có); bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển bền vững kinh tế - xã hội, phát triển du lịch của địa phương… Hiện nay, toàn tỉnh Lào Cai có 22 di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia; 40 danh lam, thắng cảnh được xếp hạng cấp tỉnh. Các di tích này đã và đang là điểm đến thu hút du khách khi đến với Lào Cai. Tỉnh cũng đã xây dựng các tuyến du lịch tâm linh như đền Bảo Hà - đền Cô Tân An - đền Đôi Cô - đền Thượng - đền Mẫu - quần thể các công trình văn hóa tâm linh trên đỉnh Fansipan hoặc tuyến đền Bảo Hà - đền Cô Tân An - đền Phúc Khánh - đền Trung Đô - đền Bắc Hà - dinh Hoàng A Tưởng… Đền Bảo Hà (huyện Bảo Yên) là một trong những điểm đến thu hút du khách trong và ngoài nước đến tham quan, chiêm bái Văn hóa được khẳng định “vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” và di sản văn hóa không chỉ là sản phẩm của quá khứ mà còn là sản phẩm của đương đại và là sản phẩm của tương lai. Trong xu hướng phát triển du lịch nói chung thì phát triển du lịch tâm linh trở thành mục tiêu phát triển, nâng cao đời sống tinh thần cho Nhân dân, hướng tới những giá trị chân - thiện - mỹ, góp phần đấu tranh, bài trừ những hủ tục, dị đoan làm sai lệch nét đẹp truyền thống bao đời nay. Theo thống kê của Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, lượng khách du lịch tâm linh ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách du lịch, đặc biệt là khách nội địa. Theo thống kê, năm 2024, lượng khách du lịch đến với Lào Cai đạt khoảng 8 triệu lượt, trong đó khách đến các khu du lịch tâm linh chiếm 1/2 lượng khách. Các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh đã trực tiếp trở thành các sản phẩm đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Theo Chuyên trang DÂN TỘC VÀ PHÁT TRIỂN https://dantocphattrien.vietnamnet.vn/trung-tu-bao-ton-cac-di-tich-gop-phan-gin-giu-van-hoa-va-phat-trien-du-lich-1749975996196.htm