Nghệ An - Nghệ An

Nghệ An

Nghệ An
Bài viết nổi bật
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI DI TÍCH CHÙA ĐẠI TUỆ - NGHỆ AN
DI TÍCH - DI SẢN 14/02/2026 Tour 3D
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI DI TÍCH CHÙA ĐẠI TUỆ - NGHỆ AN

Tọa lạc ở độ cao hơn 450m trên đỉnh núi Đại Huệ (huyện Nam Đàn), Chùa Đại Tuệ là điểm du lịch tâm linh hùng vĩ và là nơi duy nhất tại Việt Nam thờ Phật bà Đại Tuệ. Nơi đây mang đậm dấu ấn lịch sử khi từng được sư bà chỉ đường thượng đạo, giúp vua Quang Trung hành quân thần tốc đại phá quân Thanh năm 1789. Kể từ khi được phục dựng quy mô lớn vào năm 2011, chùa không chỉ thu hút du khách bởi cảnh quan ngoạn mục bao quát cả một vùng non nước rộng lớn, mà còn gây ấn tượng mạnh mẽ khi chính thức xác lập 4 kỷ lục quốc gia: ngôi chùa trên núi có hồ nhân tạo lớn nhất, hệ thống tượng hồng ngọc nhiều nhất, hệ thống tượng gỗ dâu nguyên khối nhiều nhất và hệ thống câu đối thư pháp thuần Việt nhiều nhất. Để cảm nhận trọn vẹn không gian thanh tịnh, vẻ đẹp bề thế cùng những giá trị văn hóa - lịch sử độc đáo ấy, ngay sau đây, xin kính mời quý khách cùng bước vào hành trình tham quan chi tiết Chùa Đại Tuệ!  

14/02/2026 Tour 3D
Chùa Đại Tuệ hơn ngàn năm tuổi nắm giữ 4 kỷ lục Việt Nam
DI TÍCH - DI SẢN 28/01/2026
Chùa Đại Tuệ hơn ngàn năm tuổi nắm giữ 4 kỷ lục Việt Nam

1 Giới thiệu chung về chùa Đại Tuệ Địa chỉ: Xã Đại Huệ, Tỉnh Nghệ An (Xã Nam An, Huyện Nam Đàn cũ) Giờ mở cửa: 7h00 - 18h00 từ thứ 2 đến Chủ Nhật Chùa Đại Tuệ nằm trên động Thăng Thiên của dãy núi Đại Huệ, ở độ cao gần 500m so với mực nước biển. Công trình tôn giáo này được xây dựng trong khuôn viên rộng khoảng 6.000m2 với không gian tĩnh lặng, cảnh vật thơ mộng, hữu tình. Đứng ở đây, bạn có thể nhìn ngắm dòng sông Lam uốn lượn cùng toàn cảnh thiên nhiên các huyện của Nghệ An và Hà Tĩnh. Chùa Đại Tuệ là điểm du lịch tâm linh duy nhất tại Việt Nam thờ Phật Bà Đại Tuệ - người đại diện cho trí tuệ của Đức Phật. Nơi đây còn thờ thất Phật Thế Tôn, Phật Di Lặc, Bác Hồ cùng 5 vị vua gắn liền với lịch sử dựng và giữ nước của dân ta. Đó là vua Hùng, Mai Hắc Đế, Hồ Quý Ly, Quang Trung và Cảnh Thịnh. Công trình kiến trúc này hiện nắm giữ bốn kỷ lục lớn tại Việt Nam, ghi danh Nam Đàn - Nghệ An vào bản đồ du lịch Việt. Chùa Đại Tuệ nằm trên đỉnh cao nhất của dãy núi Đại Huệ, có tầm nhìn bắt trọn cảnh đẹp các huyện của Nghệ An và Hà Tĩnh. Ảnh: Võ Thành Vinh Ngôi chùa cổ có diện tích lên đến 6.000m2, được bao quanh bởi thiên nhiên xanh tươi, yên bình. Ảnh: Lương Nguyễn Đức 2 Phương tiện và cách di chuyển đến chùa Chùa Đại Tuệ có vị trí cách trung tâm Thành phố Vinh khoảng 21 km về phía Tây với cung đường di chuyển khá thuận tiện. Bạn có thể đến chiêm bái chùa bằng xe khách, taxi, bus hoặc các phương tiện cá nhân tùy vào điểm xuất phát. 3 Chiêm bái chùa Đại Tuệ Nghệ An hơn ngàn năm tuổi 3.1 Lịch sử hình thành chùa Đại Tuệ Tương truyền, công trình tôn giáo này có từ thời vua Mai Hắc Đế đánh quân xâm lượng nhà Đường vào năm 627 sau công nguyên. Đến thế kỷ thứ XV thì được vua Hồ Quý Ly xây cất lại để thờ Phật Bà Đại Tuệ - vị thần có công phù hộ cho nhà Hồ chống giặc Minh xâm lược, bảo vệ toàn vẹn bờ cõi. Theo sử sách, vào mùa Xuân năm Kỷ Dậu 1789, vua Quang Trung trong chuyến hành binh ra Bắc đại phá 29 vạn quân Thanh cũng đã nghỉ chân tại đây. Trong giấc mơ, nhà vua thấy Phật Bà về chỉ cho cách xây thành làm căn cứ chống giặc. Sau đó, vua Quang Trung đã dâng lễ vật xin Phật gia phù hộ đánh bại quân Thanh. Cũng tại đây, nhà vua được trụ trì chỉ đường tắt ra kinh đô, rút ngắn thời gian hành quân khiến giặc Thanh trở tay không kịp. Sau chiến thắng, ông đã xuống chiếu cắt 20 mẫu đất để xây dựng chùa và lo việc hương khói quanh năm. Chùa có từ thời vua Mai Hắc Đế đánh quân xâm lược nhà Đường, đến thế kỷ XV thì được Hồ Quý Ly xây cất lại để thờ Phật Bà Đại Tuê. Ảnh: Cường Nguyễn Ngọc 3.2 Kiến trúc cổ kính của ngôi chùa Không chỉ thu hút tín đồ du lịch và bà con Phật tử gần xa bởi cảnh quan tuyệt đẹp, chùa Đại Tuệ linh thiêng còn nổi bật bởi nét kiến trúc uy nghiêm, độc đáo. Công trình tôn giáo này có tổng cộng 20 hạng mục, trong đó 4 ngôi bảo điện được phân bố từ chân lên đến đỉnh núi là các hạng mục chính, gồm chùa Trình, chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Một trong những công trình đặc biệt trong khuôn viên rộng đến 6.000m2 của chùa là bảo tháp Đại Tuệ 9 tầng cao 32 m, thờ thất Phật thế tôn, Phật Mẫu Đại Tuệ và Phật Di Lặc. Hầu hết những hạng mục thuộc quần thể chùa Đại Tuệ được khảm rất nhiều câu đối, thư pháp bằng chữ thuần Việt nhằm tôn vinh nét đẹp văn hóa dân tộc giữa dòng chảy lịch sử. Ngoài ra, khi dừng chân tại đây, bạn sẽ có cơ hội khám phá những đồ tế khí bằng đá như mõ, chuông… gõ lên nghe âm thanh vang xa như kết nối trời đất với con người.  Chưa dừng lại ở đó, sau khi vãn cảnh chùa, MIA.vn gợi ý bạn không nên bỏ lỡ cơ hội tham quan các công trình ấn tượng xung quanh. Như phiến đá rất to tựa như ngai vàng nằm ngay phía trước chùa, tương truyền là nơi các bệ đế vương xưa kia đã ngồi lên để thắp hương dâng lễ Phật. Cách đó khoảng 400m là hai trụ đá lớn dựng đứng tựa như chiếc cổng thiên tạo. Cạnh bên là ao sen nở sớm, tàn muộn, giếng ngọc với làn nước trong xanh quanh năm. Sau lưng là đỉnh động Thăng Thiên, nơi có bàn cờ Tiên bằng đá. Cổng tam quan với nét đẹp cổ kính, uy nghiêm của chùa Đại Tuệ Nghệ An. Ảnh: SON VI THAI (dược sĩ sơn) Bảo tháp Đại Tuệ 9 tầng cao 32 m - công trình ấn tượng nhất của chùa là nơi thờ thất Phật thế tôn, Phật Mẫu Đại Tuệ và Phật Di Lặc. Ảnh: Quang Dao Nguyen Không gian thờ tự rộng lớn, linh thiêng và được chăm sóc cẩn thận của chùa Đại Tuệ Nam Đàn. Ảnh: Lâm Tới Chùa có lối kiến trúc cổ kính, giống với các công trình tôn giáo truyền thống tại Việt Nam. Ảnh: Gấu Tumi Trong khuôn viên chùa Đại Tuệ có nhiều tượng đá được đúc tỉ mỉ, công phu. Ảnh: Duc Nguyen Van 3.3 Những kỷ lục làm nên tên tuổi chùa Đại Tuệ Vào ngày 19/2/2016, chùa Đại Tuệ Nghệ An đã được Hội Kỷ lục gia Việt Nam xác nhận 4 kỷ lục đó là: - Quần thể chùa trên núi có hồ nhân tạo với quy mô lớn nhất Việt Nam - Ngôi chùa có hệ thống tượng bằng gỗ dâu nguyên khối nhiều nhất Việt Nam - Chùa có số lượng câu đối bằng thư pháp thuần Việt nhiều nhất Việt Nam - Công trình chùa có hệ thống tượng hồng ngọc nhiều nhất Việt Nam Chùa có số lượng tượng làm bằng gỗ dâu nguyên khối đáng nể, xác lập kỷ lục Việt Nam Đại Tuệ còn là ngôi chùa trên núi có hồ nhân tạo với quy mô lớn nhất Việt Nam. Ảnh: Phát VD 4 Một số điểm du lịch gần chùa Đại Tuệ Nghệ An Hành trình chiêm bái chùa Đại Tuệ cũng là dịp để khám phá một số điểm du lịch Nghệ An nổi tiếng khác như: - Thành cổ Vinh, đường Đào Tấn, phường Thành Vinh (phường Cửa Nam, Thành phố Vinh cũ): Công trình kiến trúc độc đáo được xây dựng dưới thời Nguyễn, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa - lịch sử lớn lao. - Bãi biển Cửa Lò, phường Cửa Lò, cách trung tâm thành phố Vinh cũ 16 km: Một trong những bãi biển đẹp nhất Nghệ An là nơi tập trung nhiều hoạt động vui chơi, giải trí thú vị. - Bãi biển Diễn Thành, xã Diễn Châu (xã Diễn Thành, huyện Diễn Châu cũ): Bãi biển mang nét đẹp hoang sơ với làn nước xanh trong, bờ cát trắng trải dài cùng cảnh quan thiên nhiên tràn đầy sức sống. - Vườn Quốc gia Pù Mát, xã Con Cuông (huyện Con Cuông cũ): Điểm du lịch nổi tiếng tại Nghệ An với nhiều hoạt động khám phá hệ sinh thái, tìm về thiên nhiên yên bình. - Cửa Hội, phường Cửa Lò: Cửa Hội thu hút tín đồ du lịch với những bãi biển hoang sơ, phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp cùng đa dạng các món hải sản hấp dẫn. - Thác 7 tầng, xã Tiền Phong (xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong cũ): Địa điểm lý tưởng để trekking, nghỉ dưỡng giữa khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, có dòng thác đổ kỳ vĩ. Viếng thăm chùa Đại Tuệ hơn ngàn năm tuổi trong hành trình xách balo lên và đi, bạn sẽ có cơ hội xuôi dòng lịch sử, tìm hiểu về sự linh thiêng của ngôi cổ tự này. Đồng thời khám phá lối kiến trúc uy nghiêm cùng không gian tâm linh yên bình, cổ kính. Đây hứa hẹn sẽ là chốn dừng chân mà bạn không nên bỏ qua trong chuyến du lịch Nghệ An. Theo MIA.vn https://mia.vn/cam-nang-du-lich/chiem-bai-chua-dai-tue-13802

28/01/2026
Đền ông Hoàng Mười - ngôi đền linh thiêng bậc nhất xứ Nghệ
DI TÍCH - DI SẢN 26/01/2026
Đền ông Hoàng Mười - ngôi đền linh thiêng bậc nhất xứ Nghệ

Nơi thờ vị tướng tài Đền ông Hoàng Mười (xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An) nằm ở vị trí cảnh quan đẹp với phong cảnh non xanh nước biếc hữu tình. Trước mặt là dòng sông Lam như một dải lụa xanh trải rộng, ôm ấp quanh Đền là sông Cồn Mộc quanh co, uốn khúc. Phía sau, bên kia sông Cồn Mộc là núi Dũng Quyết và Phượng Hoàng Trung Đô với những dấu tích lịch sử. Chính cảnh quan thiên nhiên của vùng sông nước, mây núi vốn được coi là một trong những đại danh thắng ở hạ lưu sông Lam đã tạo nên cảm giác vô cùng thoải mái cho du khách khi đến đền chiêm bái, vãn cảnh. Ngoài cảnh đẹp kỳ thú, từ lâu, đền ông Hoàng Mười đã nổi tiếng linh thiêng và có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân. Đền ông Hoàng Mười là ngôi đền linh thiêng bậc nhất xứ Nghệ. Tương truyền ngôi đền được xây dựng từ thời Hậu Lê (1634), thờ các vị phúc thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ của Việt Nam. Trong đó, nhân vật được thờ chính là ông Hoàng Mười. Ngoài ra trong Đền còn thờ các vị phúc thần: Lê Khôi, Quận công Trịnh Trung, Song Đồng Ngọc Nữ và hệ thống đạo Mẫu tứ phủ, mà người đứng đầu là Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Theo truyền thuyết dân gian, ông Hoàng Mười (còn gọi là ông Mười Nghệ An), là con của Vua cha Bát Hải Động Đình - thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh của Vua cha, Ông giáng trần để giúp dân, phù đời, được giao trọng trách trấn thủ Nghệ An về mặt tâm linh, được đặc cách toàn quyền kiểm soát khâm sai ở xứ Nghệ. Tại đền còn lưu truyền sự tích về người như: Quan Hoàng Mười là người văn võ toàn tài, có công dựng nền thịnh trị, ổn định cuộc sống cho nhân dân quanh vùng. Đặc biệt, ngài luôn quan tâm, giúp đỡ những người dân nghèo khó; là một vị tướng tài có công lớn trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn. Ngài bị thương nặng, phi ngựa về đến quê nhà thì mất, dân làng chưa kịp mai táng, mối đã đùn đất lên quanh thi hài thành một ngôi mộ. Triều đình và nhân dân thương tiếc lập đền thờ bên cạnh ngôi mộ để làm nơi tưởng niệm Ngài. Công lao của Quan Hoàng Mười đã được các triều đại phong kiến ghi nhận và ban các thần hiệu “Khâm Sai Tiết Chế Nghệ An, Quảng Nam, Thuận Hóa Đẳng Xứ, Kiêm Thủy Bộ Chư Dinh, Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Thái Úy, Vị Quốc Công”. Người dân đến Đền ông Hoàng Mười vãn cảnh, cầu công danh, sự nghiệp. Theo tìm hiểu, đền ông Hoàng Mười được xây dựng từ thời Hậu Lê (thế kỷ XVII) tại làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh. Trải qua lịch sử, đền bị phá huỷ. Năm 1995 đền được xây dựng theo quy mô truyền thống, gồm tam quan, tắc môn, đài trung thiên, lầu cô, lầu cậu. Khu đền chính gồm ba tòa điện, là Thượng điện, Trung điện và Hạ điện. Công trình này mang kiến trúc đền chùa thời nhà Nguyễn. Vật liệu dựng đền sau này đều làm bằng gỗ, được chạm trổ công phu với các hoạ tiết long, lân, quy, phụng. Dù trải qua nhiều thăng trầm của thời gian và qua nhiều đợt trùng tu, tôn tạo, đền vẫn lưu giữ được kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, phản ánh tư duy sáng tạo, sự tài hoa của nghệ nhân xứ Nghệ thời bấy giờ. Hiện tại đền cũng đang lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật đồ tế khí quý hiếm; trong đó có 21 sắc phong, bản thần tích chữ Hán, hệ thống tượng pháp có giá trị lịch sử, thẩm mỹ. Lan tỏa giá trị văn hóa phi vật thể quốc gia Các cao niên trong xã cho biết, Lễ hội Đền ông Hoàng Mười được hình thành và tồn tại với lịch sử của Đền. Trước đây, Lễ hội đền ông Hoàng Mười được tổ chức vào ngày 15/3 (âm lịch) hàng năm. Từ năm 1995, sau khi ngôi đền được phục dựng lại, Lễ hội được chuyển vào ngày 9, 10/10 (âm lịch) hàng năm - ngày hóa của Quan Hoàng Mười, dịp tết cơm mới/tết Trùng thập/tết Hạ nguyên, ngày lễ của những người thực hành nghi lễ hầu đồng; ngày mà người dân tin là ngày tròn trịa, viên mãn, mang lại nhiều điều tốt đẹp, còn ngày 15/3 hàng năm chỉ tổ chức thắp hương, dâng lễ. Lễ hội đền ông Hoàng Mười được tổ chức theo các nghi lễ truyền thống trang nghiêm, gồm: Lễ khai quang/mộc dục, Lễ rước sắc, Lễ yết cáo, Lễ đại tế, Lễ tạ. Lễ đại tế tại Lễ hội đền ông Hoàng Mười. Lễ rước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn về đền ông Hoàng Mười, diễn ra vào chiều ngày 9, do từ thời Phong kiến, sắc phong thần của đền được giao cho dòng họ Nguyễn trông coi, lưu giữ. Khi làng tổ chức hội thì rước sắc ra đền, xong hội lại rước về nhà thờ. Nét đặc sắc của Lễ hội đền ông Hoàng Mười là các hoạt động được gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu, đó là diễn xướng nghi lễ hầu đồng, đáp ứng nhu cầu thực hành tín ngưỡng giao tiếp, biểu đạt những ước muốn, khát vọng của du khách với thần linh (tín ngưỡng thờ mẫu một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại đã được UNESCO công nhận). Ngoài việc tổ chức các hoạt động văn hóa, tâm linh trong các dịp lễ, Tết, vọng... hàng tháng thì lễ giỗ ông Hoàng Mười ở phần hội được tổ chức quy mô như bóng chuyền Nam, bóng chuyền nữ đến từ 18 xã, thị trấn thì còn có hoạt động đua thuyền trên sông Mộc với sự sự tham gia của vận động viên 3 xã Xuân Lam, Long Xá và xã Hưng Lợi thì còn có sự tham gia của các huyện bạn như Đô Lương, Nam Đàn và Thị xã Hoàng Mai. Lễ rước sắc đường thuỷ tại Lễ hội đền ông Hoàng Mười. Để tiếp tục bảo tồn, phát huy, lan tỏa giá trị Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Lễ hội đền ông Hoàng Mười, theo chia sẻ của bà Hoàng Thị Hoài Thanh (Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin huyện Hưng Nguyên, Trưởng ban Quản lý di tích đền ông Hoàng Mười), huyện Hưng Nguyên đã tập trung đầu tư mở rộng, xây dựng và nâng cấp các hạng mục từ khu vực tâm linh đến khu dịch vụ bằng nguồn công đức và nguồn xã hội hoá hơn 110 tỷ đồng. Huyện cũng xác định đây là điểm văn hóa tâm linh quan trọng của tỉnh, từ đó đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức hoạt động và quản lý nhằm phát huy tốt giá trị của di tích. Cùng với đó, các hoạt động Lễ hội đền ông Hoàng Mười được huyện Hưng Nguyên nghiên cứu đổi mới theo từng năm nhằm dần nâng tầm quy mô đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh, thưởng ngoạn của nhân dân địa phương và du khách thập phương. Với sự ngưỡng mộ của nhân dân đối với quan Hoàng Mười và sự đặc sắc về cảnh quan môi trường cũng như giá trị lịch sử văn hóa tiêu biểu, đền ông Hoàng Mười là điểm du lịch văn hóa tâm linh của nhân dân, của du khách thập phương trong hành trình tìm về xứ Nghệ. Bảo tồn, tôn tạo và mở rộng di tích đền Ông Hoàng Mười để xứng tầm Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là nhiệm vụ đã và đang được Hưng Nguyên quan tâm, góp phần gìn giữ, phát triển bản sắc văn hóa dân tộc. Theo Báo Lao động thủ đô https://laodongthudo.vn/den-ong-hoang-muoi-ngoi-den-linh-thieng-bac-nhat-xu-nghe-167534.html&link=autochanger

26/01/2026
Đình Sừng - Một di sản kiến trúc văn hóa độc đáo
DI TÍCH - DI SẢN 22/01/2026
Đình Sừng - Một di sản kiến trúc văn hóa độc đáo

Đình Sừng ngày nay Đình Sừng xã Lăng Thành là ngôi đình lớn tồn tại trên 500 năm. Là một trong những kiến trúc cổ có quy mô nghệ thuật trang trí, điêu khắc, chạm trổ vào loại bậc nhất ở Nghệ An hiện đang được nhân dân gìn giữ. Đình Sừng – Tên gọi gắn liền với tên đất, tên làng. Làng Quỳ Lăng xưa có tên gọi Kẻ Sừng, là một ngôi làng cổ ẩn mình trong thế độc đáo, có nhiều lợi thế trong chiến tranh và nhiều tiềm năng phát triển kinh tế… Vì vậy, Kẻ Sừng xưa đã sớm trở thành một trong những trung tâm kinh tế – văn hóa, chính trị quan trọng của Châu Diễn. Khi nhà Đường lấy huyện Hàm Hoan trong châu để đặt ra Diễn Châu làm thành một trong 12 châu của An Nam đô hộ Phủ năm 679, cho đến hết triều đại nhà Đinh 979, liên tục trong 3 thế kỷ, lị sở của Diễn Châu luôn đóng ở Kẻ Sừng. Xuất phát từ nhu cầu xã hội lúc bấy giờ kết hợp với sự tác động với nền văn hóa của một vùng đất cổ. Tháng 11/1583 nhân dân làng Quỳ Lăng đã hợp lực xây dựng một ngôi đình để làm nơi hội họp và sinh hoạt văn hóa. Nguyên xưa đình được làm bằng tranh tre, nứa lá nằm giữa một quần cư trù mật, quanh đình có làng mạc, cây đa, bến nước, có con sông Sừng uốn khúc như dải lụa mềm chở nặng phù sa tắm mắt cho ruộng đồng. Cùng với nhiều kiến trúc cổ đặc sắc như cầu đá, cổng làng… đã tôn vinh vẻ đẹp độc đáo, tinh túy của ngôi đình cổ. Cá chép vượt vũ môn Những chiếc cột lim tạo nên Đình Sừng có nhiều giá trị. Năm 1797, làng dựng thêm tòa hậu cung để làm nơi thờ phụng thành hoàng của làng. Trong quá trình tồn tại và phát triển, đình được tu sửa vào các năm: 1637, 1677, 1787, 1913 và đến năm 1929 đình được tu lý xây dựng lại to đẹp như hiện nay. Việc tu lý, xây dựng lại đình được các văn bia ở đây ghi rõ: Vào năm Đinh Mão 1927, nhân dân làng Quỳ Lăng bắt tay vào việc chuẩn bị gỗ, tiền bạc, công sức. Về gỗ được chia đều cho 11 giáp trong làng, chọn và khai thác loại gỗ lim tốt nhất và to nhất trong các khu rừng của làng Quỳ Lăng; Về tiền: Làng đặt cho thợ 5 ngàn quan, khoản tiền này lấy từ nguồn thu bán chức sắc như: Hiệu xạ, thần tổ của Làng và tiền thu bổ theo đinh điền; Về ngói: làng tự lập ra tổ thợ mở lò dập theo một khuôn riêng và được nung nấu theo đúng tiêu chuẩn. Sau 3 năm chuẩn bị, đến năm 1929 việc tôn tạo, xây dựng lại đình được khởi công dưới sự chỉ đạo của đốc Hoàng Doãn Cù – quê ở Diễn Châu, đến nay nhân dân địa phương còn lưu truyền bài vè phản ánh không khí lao động sôi nổi của dân làng thuở đó: “Dưới trên ai nấy thuận tình/Trống đánh dập dình, reo hát cả ngày đêm/Ba năm kéo gỗ một miền/Đắp nền thuê thợ tức thì làm ngay”. Ông Thái Khắc Lưu – một bậc cao niên ở xã Lăng Thành kể lại việc dựng đình ngày ấy như một câu chuyện huyền thoại: Đình do 2 hiệp thợ thi công, nửa đình phía Đông do thợ Diễn Châu đảm nhận, nửa phía Tây được giao cho hiệp thợ Yên Thành. Sau khi thống nhất khuôn mẫu và kích thước, hai bên tiến hành làm trong một thời gian theo quy định, nhưng phải giữ kín bí mật, không được trao đổi với nhau. Các họa tiết trên bít đốc mái Đình Sừng Sau khi các vầy đình sàm đục xong, làng đã quyết định chọn ngày dựng đình, mỗi bên huy động khoảng 300 người, dùng dây tre bện lại với nhau để kéo, khi có hiệu lệnh cả hai bên đều kéo vầy đình lên cùng một lúc. Mặc dù làm bằng phương pháp thủ công, nhưng khi dựng lên hai phần đình đều khít với nhau và các cột đình đều đứng ngay giữa hòn đá tảng. Điều đó càng khẳng định tài nghệ của cha ông cha ta ngày trước. Đến đầu năm 1930 việc tôn tạo, xây dựng lại đình được hoàn thành. Đình có kiến trúc thời Nguyễn quy mô đồ sộ, dài 24,7m; rộng 11,2m. Khung sườn nhà được làm bằng gỗ lim, kích thước lớn. Tòa đình có 6 vì được liên kết với nhau bởi đường thượng lương và có hệ thống giằng cột, xà dọc, xà ngang đóng khít tạo thành 5 gian rộng và 2 gian phụ ở đầu hồi văn. Mỗi vì có bốn cột, hai cột cái cao 5,63m, đường kính 0,42m; hai cột quân cao 4,33m, đường kính 0,4m. Toàn bộ tòa đình có 24 cột, tất cả đều có hình trụ tròn kê trên một chân tảng bằng đá thanh có kích cỡ, kiểu dáng, màu sắc giống nhau. Các xà hạ, kẻ ở đình có kích thước lớn, được chạm trổ công phu. Về nghệ thuật trang trí, dường như trên tất cả các bộ phận kiến trúc của đình như bờ nóc, con xô, xà, hạ, kẻ…đều được các nghệ nhân trang trí một cách công phu, thể hiện được tài nghệ điêu khắc, chạm trổ cao. Trên bờ nóc, con xô và hai mảng tường bít đốc, bằng các chất liệu sẵn có tại địa phương như vôi vữa và mật mía được các nghệ nhân trộn lẫn để đắp các hình tượng Rồng chầu, Phượng múa bằng những mảng phù điêu sinh động. Nghệ thuật điêu khắc của các nghệ nhân xưa tạo nên nét đẹp riêng của Đình Sừng. Trang trí trên kiến trúc gỗ, đề tài được thể hiện ở đây cũng xoay quanh những mô típ quen thuộc như: “Tứ Linh”, “Tứ Quý” nhưng bằng sự bố trí các mảng một cách hài hòa cân đối, toát lên vẻ sinh động thu hút người xem. Điều đáng chú ý là 4 bức chạm trên 4 bức cốn mê ở 4 góc của tòa bái đình với cách bố trí đăng đối, cân xứng với nghệ thuật chạm lỗng tỷ mỷ, công phu mang tính điệu nghệ cao với 4 con vật linh thiêng: Long, Ly, Quy, Phượng được thể hiện vừa mảnh mai, uyển chuyển vừa mang tính nhân hóa cao. Đặc biệt trên tất cả các kẻ của bái đình đều được chạm khắc hai mặt với đề tài xen kẻ như: “Phượng hàm thư”, “Cá chép hóa rồng, “Tùng lộc”, “Rồng chầu nguyệt”… và hình tượng “Long vân” cũng là đề tài được thể hiện nhiều trên các xà, đầu dư, đuôi bẩy của đình với tài nghệ điêu khắc đã được cảm giác như đang thấy rồng ẩn hiện trong mây. Có một điều khá thú vị là đình do hai tốp thợ làm theo một mô típ đã định sẵn, nhiều mảng chạm trổ tuy cùng một đề tài, nhưng thần thái, cách thể hiện lại hoàn toàn khác nhau. Nhưng tất cả đều toát lên tính nhân văn sâu sắc, thể hiện truyền thống của một dân tộc, đó là: Thanh cao, tinh khiết, thủy chung, thuần hậu, kiên cường và tâm hồn hướng thiện, hướng thượng, hiếu mỹ, lạc quan, có một cuộc sống thanh bình. Rồng đỏ thợ Diễn Châu điêu khắc Rồng đỏ thợ Yên Thành điêu khắc Trải qua bao biến cố thăng trầm lịch sử, dù cho chiến tranh giặc dã, dù cho cơ chế đổi thay và sự khắc nghiệt của thiên nhiên, nhưng đình vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ gắn liền với những chứng tích lịch sử của đất và người Quỳ Lăng. Trong những năm 1930-1931 đình Sừng là địa điểm hội họp bí mật của chi bộ Quỳ Lăng – một trong những chi bộ đầu tiên ở huyện Yên Thành. Trong khoảng thời gian 1932-1933, thực dân Pháp đã lấy đình Sừng làm nơi đóng đồn bang tá. Tại đây, bọn chúng đã giam cầm, bắt bớ tra tấn trên 100 cán bộ đảng viên. Ngày 12/8/1945, tại ngôi đình cổ quần chúng nhân dân Quỳ Lăng đã tập trung tổ chức cướp chính quyền từ tay phong kiến, đồng thời cũng là nơi tổ chức các cuộc vận động lớn như: Tuần lễ vàng, tuần lễ vũ khí, công phiếu kháng chiến, công phiếu Quốc Gia, là trường học, nơi chứa thóc cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong kháng chiến chống Mỹ có thời gian dài, đình là nơi đóng xưởng dệt của Quân khu 4. Ngày nay, đình là trung tâm diễn ra nhiều hoạt động mang đậm bản sắc văn hóa địa phương như: tế thần, rước kiệu, hát ả đào, ca trù, hát chèo, vật cù lộ, là nơi tổ chức hội họp của của các tổ chức đoàn thể… Các hoạt động văn hóa văn nghệ diễn ra tại Đình Sừng Các cụ cao niên trong làng chỉ rõ trên bia đá ghi rõ lịch sử Đình Sừng Năm 2004, Đình Sừng được công nhận di tích văn hóa lịch sử cấp Quốc gia. Năm 2010 được sự hỗ trợ của Nhà nước, chính quyền địa phương đã đầu tư trùng tu nâng cấp một số hạng mục, nhằm gìn giữ những tư liệu quý, giúp cho các nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc của di sản văn hóa cổ và cũng là nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau. Trở về với ngôi đình cổ đứng trước con sông quê tự làm đẹp cho mình, cùng với làng quê này hiện về bao làng quê khác của đất Việt thân thương, nép mình sau lũy tre xanh là xóm thôn trù phú, thấp thoáng có mái đình cổ kính rêu phong, đây không những là nơi lưu giữ giá trị lịch sử văn hóa – nghệ thuật mà còn là ngôi nhà chung của dân làng, nơi neo giữ tình cảm của những người đi xa, là sự gắn kết trách nhiệm với những người ở lại bám trụ xây dựng quê hương, để cho mạch nguồn văn hóa dân tộc chảy đến mai sau.

22/01/2026
Ngôi đền thiêng hàng trăm tuổi ở Nghệ An
DI TÍCH - DI SẢN 29/01/2026
Ngôi đền thiêng hàng trăm tuổi ở Nghệ An

Đền thờ Thủy Tinh cùng các vị khai cơ lập làng ven biển Nghệ An Ngoài Chiêu Trưng Đại Vương Lê Khôi, đền Mai Bảng còn thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, Thủy Tinh phu nhân và 6 vị khai cơ lập làng khác, thể hiện chiều sâu tín ngưỡng và truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của cư dân ven biển. Đền Mai Bảng (phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An) được xây dựng từ năm 1780, ban đầu chỉ là một gian mái tranh. Đến thời Nguyễn, ngôi đền được tôn tạo với quy mô lớn hơn, gồm thượng điện, trung điện và hạ điện, bố cục theo kiểu chữ “tam”, trên khuôn viên rộng khoảng 2.500 m2. Hằng năm, tại đền Mai Bảng diễn ra 2 lễ hội lớn vào ngày 12/2 và 3/5 Âm lịch. Trong đó, lễ hội ngày 12/2 mang ý nghĩa đặc biệt, vừa là ngày kỷ niệm thành lập làng, vừa là lễ cầu ngư của ngư dân biển Cửa Lò, đồng thời là ngày giỗ Chế Thắng phu nhân. Năm 2012, đền Mai Bảng được công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh, đến năm 2016, được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia. Đặc biệt, ngày 6/1/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 23/QĐ-BVHTTDL công nhận Lễ hội đền Mai Bảng là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. ễ hội gắn với tín ngưỡng thờ Chiêu Trưng Đại Vương Lê Khôi - vị tướng tài thời Lê sơ, người có công lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giúp Vua Lê Lợi đánh tan quân Minh xâm lược, đồng thời giúp nhân dân khai hoang, lập làng, ổn định cuộc sống. Sau khi ông mất vào ngày 3/5 (âm lịch), nhân dân làng Mai Bảng lập bài vị thờ phụng, tôn ông làm Thành Hoàng làng. Ngoài Chiêu Trưng Đại Vương Lê Khôi, đền Mai Bảng còn thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, Thủy Tinh phu nhân và 6 vị khai cơ lập làng khác, thể hiện chiều sâu tín ngưỡng và truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của cư dân ven biển. Ông Nguyễn Thanh Y (73 tuổi, Thủ từ đền Mai Bảng) cho biết việc lễ hội đền Mai Bảng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia không chỉ là niềm vinh dự lớn lao đối với bà con làng Mai Bảng mà còn là sự khẳng định giá trị bền vững của một lễ hội gắn chặt với đời sống tâm linh, sinh kế và lịch sử của người dân địa phương. “Dịp 30/4 năm nay, phường Cửa Lò tổ chức lễ rước Bằng công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đồng thời kết hợp khai trương mùa du lịch biển năm 2026, hứa hẹn tạo điểm nhấn văn hóa - du lịch đặc sắc”, ông Y chia sẻ. Trải qua nhiều thế kỷ, đền Mai Bảng từng xuống cấp. Năm 2004 và 2007, người dân cùng chính quyền địa phương đã chung tay trùng tu, phục hồi các hạng mục như hạ điện, thượng điện và cổng tam quan, khôi phục các sinh hoạt văn hóa truyền thống. Kiến trúc tại đền được chạm khắc tinh xảo, mang giá trị lịch sử, nghệ thuật cao. Đền Mai Bảng là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân địa phương cũng như của du khách trong và ngoài tỉnh. Công trình có quét mã QR tìm hiểu Di tích lịch sử quốc gia đền Mai Bảng. Theo Tạp chí Tri Thức - ZNews https://znews.vn/ngoi-den-thieng-hang-tram-tuoi-o-nghe-an-post1617831.html 

29/01/2026
Nhà thờ đá Bảo Nham – kiến trúc độc đáo hơn trăm năm tuổi ở Nghệ An
DI TÍCH - DI SẢN 09/02/2026
Nhà thờ đá Bảo Nham – kiến trúc độc đáo hơn trăm năm tuổi ở Nghệ An

Nhà thờ đá Bảo Nham – địa điểm tham quan thu hút nhiều du khách Mặt chính diện nhà thờ Nhà thờ đá Bảo Nham tọa lạc tại xã Bảo Thành, huyện Yên Thành. Đây là một trong những nhà thờ Công giáo lớn và lâu đời nhất ở xứ Nghệ hiện nay. Trong các địa điểm du lịch Nghệ An, có lẽ nhà thờ đá này là địa danh tạo được ấn tượng mạnh mẽ với nhiều du khách. Không chỉ mang trong mình ý nghĩa lịch sử và tâm linh lâu đời, nơi đây còn là điểm tham quan du lịch nổi tiếng thu hút du khách gần xa. Lịch sử nhà thờ đá Bảo Nham Theo nhiều sử sách ghi lại, trước đây tại vùng đất Yên Thành (Nghệ An), có một vị linh mục người Pháp tên là Adolphe Klinglé tới để truyền đạo. Ông đã lựa chọn một vị trí có nhiều giáo dân để xây dựng nhà thờ đá Bảo Nham và cuối cùng ông đã lựa chọn xóm Tràm, xã Bảo Thành. Công trình tôn giáo độc đáo này được khởi công xây dựng từ năm 1888, đến năm 1904 thì chính thức hoàn thành. Nhà thờ được xây dựng theo lối kiến trúc Gothic   Nhà thờ là điểm tham quan nổi tiếng của địa phương   Thiết kế ngoại thất của nhà thờ Nhà thờ đá Bảo Nham với tổng diện tích hơn 7.000m2. Được xây dựng theo mô hình nhà thờ Luoxo, với lối kiến trúc Gothic của Pháp. Trong đó, chất liệu chủ yếu làm nên toà thánh đường là đá, được khai thác từ vùng núi Lam Sơn, Thanh Hóa. Mặt chính diện nhà thờ được thiết kế với các cửa vòm nhọn kết nối liên tục từ thấp lên cao. Phía trước cửa là khuôn viên rộng, trồng nhiều cây xanh. Nhà thờ vẫn còn lưu giữ được kiến trúc nguyên bản   Cửa sổ dạng vòm nhọn   Nhà thờ dài 37m, rộng 14m. Các bức tường đá bên ngoài được phân theo từng ô. Mỗi ô có cửa vòm. Đặc biệt, trên viền các mái nhà thờ có 24 tháp làm bằng đá. Hoa văn trên tháp được điêu khắc tỉ mỉ. Phía trước nhà thờ là hai cổng chào, bên trên có đặt hai con sư tử bằng đá được chạm khắc tinh tế. Tháp chuông là hạng mục ấn tượng của nhà thờ. Trên đỉnh tháp có cột thu lôi hình con gà có thể xoay chuyển theo chiều gió. Được làm bằng chất liệu hợp kim antimony. Hệ thống tháp chuông của nhà thờ bao gồm 3 quả chuông đồng. Với trọng lượng 800kg, 400kg và 180kg. Đây là quà tặng mà em gái linh mục Adolphe Klinglé tặng cho nhà thờ sau khi hoàn thành. Cột thu lôi hình con gà trên đỉnh tháp   Tháp chuông cao 28m   Nội thất nhà thờ Không gian bên trong nhà thờ Bên trong nhà thờ có thiết kế mái vòm mang vẻ đẹp trang nghiêm và tĩnh lặng. Để làm được hệ thống mái này, từng khối đá lớn được đẽo gọt tỉ mỉ, lắp ráp theo nhiều công đoạn để đảm bảo độ bền và tính thẩm mỹ cao. Bên cạnh đó, các ô cửa kính màu bên trong thánh đường là những bức tranh đậm tính tôn giáo với nhiều màu sắc lung linh. Khi ánh sáng mặt trời chiếu qua ô cửa kính này, làm các bức tranh thêm lung linh và không gian trở nên huyền ảo hơn. Các ô kính màu đẹp mắt   Hình các thánh và tông đồ Thiên Chúa giáo Thời gian tham quan nhà thờ Bảo Nham Du khách có thể ghé thăm nhà thờ vào mọi ngày trong tuần, ngoại trừ giờ lễ. Bạn có thể dạo quanh khuôn viên nhà thờ bởi có nhiều xây xanh và hồ nước thích hợp để bạn vãn cảnh. Bên cạnh đó, sau khi ghé thăm nhà thờ đá Bảo Nham, bạn có thể kết hợp đến các địa điểm nổi tiếng của Nghệ An như đồi chè Thanh Chương, đền Cờn, đảo Lan Châu Cửa Lò, Cửa Hội. Địa chỉ và cách di chuyển đến nhà thờ Địa chỉ nhà thờ đá Bảo Nham: xóm Tràm, xã Bảo Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Cách di chuyển đến nhà thờ đá: Tọa lạc ngay sát đường quốc lộ 7A, nhà thờ chỉ cách thành phố Vinh khoảng 50km về phía Bắc. Từ trung tâm thành phố, du khách chỉ cần di chuyển theo quốc lộ 1A, rẽ vào đường 7A, rồi đi thêm khoảng 15km nữa là tới nhà thờ đá Bảo Nham. Theo iVIVU.com https://www.ivivu.com/blog/2024/06/nha-tho-da-bao-nham-kien-truc-doc-dao-hon-tram-nam-tuoi-o-nghe-an/

09/02/2026
Truông Bồn - Chứng tích hào hùng của các Thanh niên xung phong
DI TÍCH - DI SẢN 03/02/2026
Truông Bồn - Chứng tích hào hùng của các Thanh niên xung phong

Hàng năm, Khu di tích lịch sử Truông Bồn đón tiếp hơn 300.000 lượt khách về thăm viếng, tri ân. Mới đây, đoàn du khách chúng tôi - những người con miền Nam đã có dịp ghé tham quan Khu di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn. Trong khói hương trầm quyện vào không gian linh thiêng cùng giọng nói truyền cảm của người thuyết minh viên, đoàn du khách chúng tôi như trở về miền đất huyền thoại năm xưa.  Tại khu di tích lịch sử này, chúng tôi được nghe những câu chuyện khá hay về các thanh niên xung phong đã hy sinh thân mình để đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc. Theo lời hướng dẫn viên, trong cuộc chiến sinh tử này, 1.240 cán bộ, chiến sỹ đã dũng cảm chiến đấu và anh dũng hy sinh, tiêu biểu là sự hy sinh của 13 chiến sỹ thanh niên xung phong (TNXP) Đại đội 317 ngày 31/10/1968. Chị Kiều Oanh, du khách đến từ TP Hồ Chí Minh cho biết: “Khi nghe kể tới sự hy sinh của 13 chiến sỹ TNXP này, tất cả đoàn chúng tôi đã khóc, khóc vì thương cho 11 cô gái và 2 chàng trai khi mà chỉ còn ít giờ nữa, Mỹ sẽ tuyên bố ngừng ném bom trên toàn miền Bắc và cũng chỉ còn ít giờ nữa thôi, họ sẽ bước chân về phía hòa bình với nhiều dự định cho tương lai. Đặc biệt, trong nhóm 13 TNXP này, có 5 chị chuẩn bị bước vào giảng đường, giấy báo nhập học vẫn đang gói trong từng chiếc khăn mùi soa; và cũng chỉ 1 giờ đồng hồ nữa thôi, chị Tâm, anh Hòa sẽ đưa nhau về làm lễ đính hôn...". Theo một thuyết minh viên tại Khu di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn, trong tiếng Nghệ, “Truông” là danh từ để chỉ một đoạn đèo dốc chạy giữa hai vách núi hiểm trở. Truông Bồn là một đoạn đèo dốc như thế có chiều dài 5 km, độ cao gần 70 m trên dãy núi Thung Nưa, có đỉnh cao nhất là 450m so với mực nước biển, nằm trên tuyến đường chiến lược 15A hay còn gọi là đường 30 - đi qua địa phận xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. "Trên tuyến đường chiến lược này – Cung đường độc đạo Truông Bồn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, bởi là nơi kết nối các huyết mạch giao thông từ hậu phương lớn miền Bắc chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam. Cũng vì nắm được vị trí chiến lược của Truông Bồn, đế quốc Mỹ rải bom đạn huỷ diệt, hòng cắt đứt mạch máu giao thông của ta. Chỉ tính từ năm 1964 – 1968, chúng đã trút xuống nơi đây gần 20.000 quả bom các loại, hàng chục ngàn quả tên lửa. Trung bình mỗi km, Truông Bồn đã phải hứng chịu hơn 4.000 quả bom. Truông Bồn vốn là đỉnh núi cao 70 m so với mặt biển, sau nhiều năm đánh phá ác liệt, Truông Bồn đã trở thành bình địa, độ cao chỉ còn hơn 30m so với mặt biển", thuyết minh viên cho biết thêm.  Với số lượng bom đạn khủng khiếp như vậy, Truông Bồn được ví là hố bom của miền Bắc. Giữa mảnh đất bom cày đạn xới, khi mà cái chết luôn cận kề, nhưng hàng vạn con người nơi đây đã vượt lên bom đạn, vất vả thiếu thốn, ngày đêm bám trận địa. Tuy nhiên, bằng quyết tâm sắt đá “tim có thể ngừng đập nhưng đường không thể tắc”, quân và dân ta đã giữ vững mạch máu giao thông, đào đắp hàng triệu mét khối đất đá, đưa hơn 94 nghìn lượt xe cơ giới, vận chuyển và giải tỏa hơn 1 triệu tấn hàng vượt qua Truông Bồn, theo sát các đoàn quân vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Đặc biệt, nơi đây còn là một chứng tích hào hùng, bất hủ ghi dấu những chiến công và sự hy sinh oanh liệt của quân và dân ta trong cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc trong thế kỷ 20. Tiêu biểu là những chiến công và sự hy sinh oanh liệt của 13 chiến sĩ TNXP thuộc Đại đội 317. Cụ thể, vào rạng sáng ngày 31/10/1968,  máy bay Mỹ đã ném hơn 200 quả bom xuống trận địa Truông Bồn. Khi đó, Đại đội 317, Tổng đội TNXP Nghệ An đang làm nhiệm vụ san lấp hố bom và có 13/14 chiến sĩ TXNP đã anh dũng hy sinh khi mà chỉ còn ít giờ đồng hồ nữa, Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền Bắc. Khu di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn được khởi công xây dựng vào ngày 27/10/2010 và cuối năm 2014 chính thức đi vào hoạt động, trở thành “địa chỉ đỏ” về giáo dục cách mạng cho thế hệ trẻ hôm nay.  Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, cuộc sống đã được hồi sinh mạnh mẽ ngay trên “tọa độ chết” năm xưa. Theo đó, mảnh đất bạc màu hoà lẫn máu xương của thế hệ cha anh đi trước đã và đang được hồi sinh thành không gian xanh mướt của cỏ cây, thơm nồng hoa lá của thế hệ trẻ hôm nay như một sự tri ân, tiếp nối của sự sống trên mảnh đất anh hùng. Đặc biệt, bằng tấm lòng tri ân của cả nước, Khu di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn hôm nay đã được xây dựng lại bề thế, khang trang, xứng đáng với sự hi sinh cao cả của các chị, các anh, của quân và dân ra trong kháng chiến chống Mỹ. Ông Phan Trọng Lộc, Giám đốc Khu di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn cho biết, sau khi khu di tích được xây dựng, đã có hơn 2.000 loại cây phủ xanh không gian này. Đa số các cây xanh này là của các du khách thập phương mang đến trồng và được công nhân viên nơi đây chăm sóc, tưới tắm từng ngày để có được không gian xanh tươi, thơm ngát hương hoa. Hiện nay, Truông Bồn đã và đang là điểm đến du lịch tâm linh của nhân dân khắp mọi miền cả nước, hằng năm khu di tích đón tiếp hơn 300.000 lượt khách về thăm viếng, tri ân. Mặt khác, hàng ngày Truông Bồn còn trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống cách mạng và tinh thần yêu nước cho các thế hệ hôm nay và mai sau. Báo Tin tức xin gửi đến độc giả một số hình ảnh đoàn du khách TP Hồ Chí Minh ghé tham quan Khu di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn, Nghệ An: Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Truông Bồn được xem là “tọa độ lửa” bởi địa hình hiểm trở, nhiều dãy núi dọc 2 bên đường như: núi Voi, Cột Cờ, Mồng Gà… và trở thành nơi ẩn náu kín đáo, an toàn. Khu di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn được xây dựng trên diện tích gần 22 ha, nằm ở tuyến đường chiến lược 15A đi qua địa phận xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Khu di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn được xây dựng, bảo tồn, tôn tạo với 21 hạng mục chính như: khu tưởng niệm và khu lễ hội; khu trưng bày truyền thống và hồ cảnh quan; khu vực đón tiếp và thăm viếng... Du khách TP Hồ Chí Minh thắp hương tưởng nhớ các Thanh niên xung phong Việt Nam đã hy sinh tại mặt trận Truông Bồn. Nơi đây đang hội tụ linh hồn của 1.240 cán bộ, chiến sĩ đã dũng cảm chiến đấu và anh dũng hy sinh để bảo vệ huyết mạch giao thông Truông Bồn. Sau khi tham quan tại khu nhà lưu niệm, đoàn du khách TP Hồ Chí Minh được hướng dẫn tham quan tại ngôi mộ tập thể của 13 chiến sĩ TNXP với các tên gọi: “Tiểu đội thép”, “Tiểu đội cảm tử”, “Tiểu đội cọc tiêu sống”, đã hy sinh trong ngày 31/10/1968.   Để ghi nhận địa danh Truông Bồn, ghi nhận sự cống hiến và hy sinh oanh liệt của các chiến sĩ Truông Bồn, ngày 12/1/1996, Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin có Quyết định số 51/QĐ-BT công nhận di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn. Theo thuyết minh viên tại Khu di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn, vào ngày 23/9/2008, Chủ tịch nước có Quyết định số 1304/QĐ-CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho tập thể 14 chiến sĩ TNXP Truông Bồn thuộc Đại đội 317, Đội 65, Tổng đội TNXP Nghệ An.Nhãn Nơi đây luôn ngát thơm hương hoa của các Đoàn đại biểu và du khách trong và ngoài nước về thăm viếng, tri ân các chị, các anh TNXP, những người anh hùng đã “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Theo Báo Tin tức và Dân tộc https://baotintuc.vn/doi-song-van-hoa/truong-bon-chung-tich-hao-hung-cua-cac-thanh-nien-xung-phong-20230620114957257.htm

03/02/2026
Truông Bồn-một biểu tượng của tinh thần Việt Nam
DI TÍCH - DI SẢN 31/01/2026
Truông Bồn-một biểu tượng của tinh thần Việt Nam

Năm 1966, từ chiến trường, ông viết bài thơ “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!”, như một lời thề, một cảm hứng thời đại, trong đó có những câu: Đất nước/Ta hát mãi bài ca đất nước/Cho tuổi thanh xuân sáng bừng lên như ngọc/Cho mắt ta nhìn tận cùng trời/ Và cho chân ta đi cuối đất/Ôi Tổ quốc mà ta yêu quý nhất/Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi, Việt Nam ơi! Khu di tích lịch sử Truông Bồn, xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. (Ảnh: THÀNH CƯỜNG) Như một điều kỳ diệu, những câu thơ ấy lại như chính để viết về những cô gái, chàng trai với tuổi thanh xuân sáng bừng như ngọc đã hy sinh anh dũng tại Truông Bồn, thuộc xã Mỹ Sơn, Đô Lương, Nghệ An ngày 31/10/1968. “Cả nước đánh giặc, toàn dân là lính”, là tên một bài xã luận của nhà báo Hoàng Tùng đăng trên Báo Nhân Dân năm 1979. Đó cũng là một tổng kết tính chất toàn dân, toàn diện trong mọi cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta, và vì thế mà nó trở nên vô địch. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với quân đội, thanh niên ta còn được tổ chức trong những lực lượng bán vũ trang là thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến để thực hiện các nhiệm vụ vừa đánh giặc, vừa chi viện cho các chiến trường như mở đường, bảo đảm giao thông, vận chuyển lương thực, vũ khí, tải thương... Đó là những lực lượng luôn ở tuyến đầu lửa đạn, chịu hy sinh gian khổ bậc nhất và ở đâu cũng sáng chói chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà tiêu biểu là ở Đường 20 Quyết thắng Quảng Bình, Ngã ba Đồng Lộc Hà Tĩnh và Truông Bồn Nghệ An... Đoạn quốc lộ 15, đường Hồ Chí Minh cơ giới đi qua Truông Bồn khoảng 5km, nhưng chỉ tính từ tháng 6 đến tháng 10/1968, đã hứng chịu 2.692 quả bom các loại của giặc Mỹ. Tại đây, hơn 1.240 cán bộ, chiến sĩ bộ đội, dân quân tự vệ, thanh niên xung phong, công nhân ngành giao thông đã anh dũng hy sinh. Nhưng sự tàn bạo của kẻ thù càng thổi bùng lên ý chí quyết thắng và mạch máu chi viện cho miền nam thân yêu vẫn chảy bền qua cuộc chiến không ngưng nghỉ một ngày. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng ấy mỗi nơi, mỗi lúc có những biểu hiện khác nhau. Với Truông Bồn, sự tình nguyện chiến đấu và hy sinh vào giờ phút cuối cùng khi đế quốc Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền bắc, để lại một thương tiếc không nguôi và mãi mãi xúc động lòng người. Đoạn quốc lộ 15, đường Hồ Chí Minh cơ giới đi qua Truông Bồn khoảng 5km, nhưng chỉ tính từ tháng 6 đến tháng 10/1968, đã hứng chịu 2.692 quả bom các loại của giặc Mỹ. Tại đây, hơn 1.240 cán bộ, chiến sĩ bộ đội, dân quân tự vệ, thanh niên xung phong, công nhân ngành giao thông đã anh dũng hy sinh. Nhưng sự tàn bạo của kẻ thù càng thổi bùng lên ý chí quyết thắng và mạch máu chi viện cho miền nam thân yêu vẫn chảy bền qua cuộc chiến không ngưng nghỉ một ngày. Sự ác liệt và anh dũng ở Truông Bồn đã được Anh hùng Lực lượng vũ trang, nhà khoa học quân sự, thành viên của nhóm “Nghiên cứu chống phá thủy lôi từ tính và bom từ trường đảm bảo giao thông những năm 1967-1972” Hoàng Kim Giao, người con của miền biển Đồ Sơn, kể lại trong một bức thư gửi về nhà vào ngày 10/11/1968: “Con được đi tới những vùng ác liệt nhất của chiến trường khu 4. Ở đây có những quãng chỉ 2km mà địch đã trút xuống 5.000 quả bom! Ở đây có những đội thanh niên xung phong cùng với mặt đường phải chịu từng ấy bom đạn và trong đội ngũ kiên cường đó những chiến sĩ phá bom là những người được yêu quý nhất... Cậu mợ ạ, ở đây chuyện sống chết đặt ra không phải từng ngày, mà từng giờ một. Có đồng chí vừa thăm con, nửa tiếng sau đã bị hy sinh… Tuy vậy không phải lúc nào con cũng được cân nhắc tới chuyện sống chết. Bởi con nghĩ rằng cần phải sống, nhưng không thể từ bỏ hay trốn tránh những hy sinh cần thiết! Và lúc đó con lại vững vàng tự tin đứng giữa bãi bom”... Anh không ngờ rằng, đó là bức thư cuối cùng. Anh đã hy sinh khi một quả bom nổ chậm anh đang phá thình lình phát nổ, thi thể của anh tan hòa trong đất đai xứ Nghệ. Nhà khoa học trẻ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I, lúc ấy mới tròn 27 tuổi... Bác sĩ Hoàng Kim Ước, em trai Anh hùng Hoàng Kim Giao, người cho tôi xem bức thư này nói: Tin anh trai mất, làm cả nhà bàng hoàng như trời đất sụp xuống. Khi ấy tôi còn nhỏ, mới 8 tuổi. Có những thứ có thể khép lại nhưng nỗi đau thương ấy trong gia đình tôi không bao giờ khép lại được. Cả niềm đau lẫn thương nhớ, khâm phục anh, càng không thể đi ngược con đường, lối sống của anh... Năm 1968, do chúng ta thắng lớn về quân sự trên chiến trường và trên bàn đàm phán ở Hội nghị Paris, Tổng thống Mỹ Johnson buộc phải ngừng ném bom ở miền bắc vào 0 giờ ngày 1/11/1968. Tại Đại đội 317 thanh niên xung phong Nghệ An, niềm vui hòa bình sắp đến với các anh chị Trần Thị Thông, Trần Văn Hạp, Cao Ngọc Hòa, Nguyễn Thị Tâm, Trần Thị Doãn, Phan Thị Dung, Hà Thị Đang, Nguyễn Thị Văn, Nguyễn Thị Hoài, Hoàng Thị Nhung, Nguyễn Thị Phúc, Vũ Thị Hiên, Đàm Thị Bốn, Đinh Thị Vinh, Lê Thị Hường, Phan Thị Thao, Nguyễn Thị Minh... được nhân lên gấp bội khi người được xuất ngũ, người trúng tuyển vào các trường chuyên nghiệp. Phía trước là đám cưới. Phía trước là giảng đường… Nhiều anh chị lẽ ra đã rời đơn vị vào ngày 30/10. Nhưng khi nghe cấp trên phổ biến sáng sớm mai sẽ có một đoàn xe đặc biệt vào chiến trường và bộ đội hành quân qua; đơn vị phải ra mặt đường để bảo đảm giao thông, tất cả các anh chị đã tình nguyện ở lại chiến đấu cùng đồng đội, và để “chia tay cuốc xẻng” một thời gắn bó như có chị nói. 4 giờ 30 phút sáng 31/10, sau tiếng kẻng của trực ban Trần Văn Hạp, toàn đơn vị đã có ở mặt đường. Đó là một buổi sáng mùa đông, bầu trời u ám, bóng đêm không nhìn rõ mặt người. Đại đội vừa sửa đường, vừa đứng làm cọc tiêu trong sương mù cho từng chuyến xe qua, tránh những chỗ lầy thụt và bờ vực. Khi chuyến xe cuối cùng vừa qua khỏi thì tiếng kẻng báo động vang lên. Lúc đó khoảng 6 giờ 10 phút. Một tốp máy bay địch như bầy chó đói điên cuồng ào đến trút những trận mưa bom xuống Truông Bồn. Đợt trước chưa dứt, đợt sau đã tới. Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc, câu thơ ấy của nhà thơ Thanh Thảo đã nói đúng tâm thế của những thế hệ tuổi trẻ trong chiến tranh. Trận bom tàn khốc đó đã khiến 13 chiến sĩ hy sinh. Tiểu đội 2 chỉ cứu được Tiểu đội trưởng Trần Thị Thông nhờ một nòng súng trường nhô lên trong một căn hầm bị sập. Thân thể nhiều đồng chí khác đã tan hòa vào đất đá, cỏ cây. Đồng đội tìm thấy bên một hố bom nửa vành nón có ghi hai chữ “Tặng Dung”. Chị Phan Thị Dung cùng chị Hà Thị Đang, chị Nguyễn Thị Phúc đã có giấy báo nhập học vào Trung cấp Cơ khí Thanh Hóa. Đồng đội nhặt được một cánh tay mà trên cổ tay còn buộc 1 chiếc khăn mùi soa mầu đỏ, bị bom Mỹ hất tung vào tận bìa rừng, trong chiếc khăn mùi soa có giấy báo nhập học vào Trung cấp Y Nghệ An mang tên Vũ Thị Hiên. Chị Nguyễn Thị Tâm quê Hợp Thành, huyện Yên Thành (Nghệ An) cùng anh Cao Ngọc Hòa quê Diễn Lộc, huyện Diễn Châu (Nghệ An) được phục viên, ăn hỏi rồi, chuẩn bị làm đám cưới, đã không bao giờ trở về, để lỡ một cuộc đưa dâu… Những tấm thân làm cọc tiêu cho xe qua ngày ấy; những tấm thân đã ngã xuống trong loạt bom tọa độ ác nghiệt trước ngày ngừng bắn có hiệu lực, mãi mãi trở thành cọc tiêu cho đất nước, quê hương biết đi về đúng hướng; cho thế hệ mai sau biết đứng thẳng làm người! Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc, câu thơ ấy của nhà thơ Thanh Thảo đã nói đúng tâm thế của những thế hệ tuổi trẻ trong chiến tranh. Dĩ nhiên, các liệt sĩ đã không tiếc thân mình vì Tổ quốc. Nhưng sẽ rất tiếc nếu hiện tại và tương lai không còn nhớ về quá khứ, không còn nhớ những tuổi hai mươi đã vùi tan xương thịt như ở Truông Bồn. Các em học sinh tham quan Khu di tích lịch sử Truông Bồn. (Ảnh: NGUYỄN OANH) Theo Báo Nhân Dân https://nhandan.vn/truong-bon-mot-bieu-tuong-cua-tinh-than-viet-nam-post721703.html 

31/01/2026