Tương truyền: Khi Lê Hoàn về đóng quân trấn ải ở đây chống quân xâm lược nhà Tống, thấy bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh xinh đẹp đã lấy bà làm vợ và cho xây “Ngọc Dinh Thự” ở chợ Nễ Châu. Bà đã có công lao rất lớn trong việc động viên chăm lo hậu cần, cung cấp lương thảo nuôi quân. Giặc tan, Lê Hoàn lên ngôi vua, do bà không có con, bà xin ở lại phụng dưỡng cha mẹ và đi tu tại chùa làng. Lê Hoàn cử Giới Quốc công về xây dựng chùa cho bà làm nơi tu hành và cử người con thứ 9 là Lê Long Kính (hiệu Trung Quốc Đại vương) thay mình trấn giữ vùng này và cũng là để chăm nom bà. Khi bà mất, nhà vua cho lập đền thờ ngay phía trước cổng chùa và sắc phong làm “Ngọc Thanh Hoàng hậu”. Tam quan chùa Nễ Châu . Ảnh: Sưu tầm Chùa được khởi dựng từ thế kỷ X, đây không chỉ là di tích lịch sử, văn hóa mà còn là công trình nghệ thuật điêu khắc có nhiều giá trị. Trải qua các triều đại, chùa Nễ Châu đều được trùng tu rất nhiều lần. Bố cục chùa được thiết kế theo kiểu “nội công ngoại quốc”, bao gồm các hạng mục như: Tam quan, gác chuông, gác trống, Tiền đường, Thượng điện và 2 dãy hành lang. Nhà Tiền đường 7 gian được kiến trúc theo kiểu vì kèo đơn giản. Phía trên, ở chính giữa mái nhà có đắp nổi 3 chữ Hán “Thụy Ứng Tự”. Thượng điện 4 gian được nối trực tiếp và có kiến trúc giống nhà Tiền Đường. Gác chuông chùa Nễ Châu. Ảnh : Sưu tầm Tòa Tiền Đường chạm hình mây với các đao hỏa, ba bức ván lá gió ở giữa chạm lộng hình lưỡng long chầu nhật, hình rồng với các râu tóc hình đao hỏa, thân uốn mềm mại. Những nét hoa văn chạm khắc này cùng những bức tượng ở chùa đều được đánh giá cao về nghệ thuật điêu khắc. Bên trong Thượng điện đặt các pho tượng thờ rất đẹp, có dấu ấn rõ nét như: Tượng Tam thế, Di đà tam tôn, Thích Ca sơ sinh, tượng Tuyết Sơn,.... Đặt nổi bật tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn cùng tứ vị Bồ tát là nét đặc trưng khác biệt đối với việc bài trí tượng Phật ở những ngôi chùa khác. Tượng Tuyết Sơn, một hiện vật có giá trị từ thời Lê được thờ tại Chùa Nễ Châu Nổi bật về giá trị nghệ thuật điêu khắc hơn cả là bộ tượng Tam Thế và tượng Tuyết Sơn. Bộ tượng Tam Thế được tạc bằng gỗ, trong tư thế ngồi thiền trên tòa sen, khuôn mặt mỉm cười đôn hậu, mắt nhìn xuống như đang suy tư, sống mũi cao thẳng. Tượng mặc áo cà sa với những nếp gấp rất đều, tạo ra các làn sóng mỏng trải ra cân đối hai bên thân mình. Tượng được miêu tả trong tư thế tọa thiền, ngồi xếp bằng hai chân, hai bàn tay đặt giữa lòng đùi, bàn tay trái đặt lên giữ bàn tay phải. Các mặt của toà sen đều được khắc hình hoa lá và một số tích truyện của nhà Phật. Khác với bộ tượng Tam Thế, tượng Tuyết Sơn được tạc trong tư thế ngồi, chân phải co vuông góc với bệ, chân trái co đặt vuông góc với thân, hai tay chồng lên nhau đặt lên đầu gối. Khuôn mặt suy tư, trên trán hằn lên những nếp nhăn, cằm tì lên hai tay. Thân tượng lộ rõ cả xương sườn. Đây là pho tượng cổ , hiện thân của Đức phật Thích Ca giai đoạn tu khổ hạnh trên núi Tuyết Sơn. Tượng Tuyết Sơn là một tác phẩm nghệ thuật rất quý, mang đậm nét phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII. Hai dãy hành lang của chùa nằm đối xứng, đặt hàng trăm pho tượng với các tư thế, vẻ mặt khác nhau, phác họa đầy đủ các tích truyện của nhà Phật. Năm 1992, chùa Nễ Châu đã được Bộ Văn hoá – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia, là một trong 16 di tích tthuộc ” Khu di tích Quốc gia đặc biệt Phố Hiến”. Hằng năm, chùa Nễ Châu thường tổ chức tế lễ vào các ngày 13-15 tháng Giêng và ngày 15.8 âm lịch, ngày 10.9 (âm lịch). Đến với chùa Nễ Châu bạn không chỉ được chiêm ngưỡng những giá trị kiến trúc, điêu khắc độc đáo, hơn hết khung cảnh nơi đây đem lại cho bạn một sự tĩnh tâm và yên bình đến khó tả. TTXTDL
Đền Cửu Thiên Huyền Nữ thờ Đức Thánh Cửu Thiên Huyền Nữ Chân Quân, là vị thánh có công giúp đỡ Nhân dân trong lúc hoạn nạn, nguy nan, được Nhân dân tôn làm Thành hoàng. Phối thờ cùng bà là thần long mạch Thổ Địa và Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, người có công cùng với quân dân nhà Trần đánh đuổi quân Nguyên Mông xâm lược vào thế kỷ thứ XIII. Toàn cảnh ngôi đền Đền được khởi dựng từ sớm và trải qua nhiều lần trùng tu, tu sửa. Do xây dựng đã lâu, nhiều hạng mục của đền xuống cấp. Đầu năm 2023, ngôi đền được trùng tu, tôn tạo. Hiện nay, đền có kiến trúc kiểu chữ Công gồm 03 gian Tiền tế, 01 gian Ống muống và 03 gian Hậu cung. Các hạng mục kết cấu tương đối đồng bộ, vững chắc và các quá giang được kê trực tiếp lên tường dưới hình thức trốn cột để mở rộng không gian cho nơi thờ tự. Hằng năm, lễ hội tại đền diễn ra vào các ngày mồng 03 tháng 03, ngày 20 tháng 08 và ngày mồng 09 tháng 09 âm lịch để tưởng nhớ đến công lao của các vị thần được thờ tại đền. Trong lễ hội có nhiều hoạt động như tế lễ, dâng hương và diễn ra một số trò chơi dân gian truyền thống mang đặc trưng vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ. Đền Cửu Thiên Huyền Nữ được UBND tỉnh xếp hạng ngày 31/8/2010 theo Quyết định số 1766/QĐ-UBND, thuộc loại hình di tích “Lịch sử”. Theo Báo Du Lịch Hưng Yên hungyentourism.com.vn/den-cuu-thien-huyen-nu-c2149.html
Nghi môn với cửa xây vòm cuốn, bên trên có dòng chữ triện ghi “Dương Thiên Hậu - Tống Triều” và dòng chữ Hán được ghép bằng các mảnh gốm lam ghi “Thiên Hạ mẫu nghi”. Ảnh TITC Theo “Đại Nam nhất thống chí” đền Mẫu xây dựng vào thời Trần Nhân Tông (1279). Trải qua các triều đại, đền đều được trùng tu; năm Thành Thái thứ 8 (1896), Đền Mẫu được trùng tu lớn có quy mô như ngày nay. Đến năm 1990, đền Mẫu được Bộ Văn hóa - thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật. Đền Mẫu là một di tích độc đáo trong quần thể di tích quốc gia đặc biệt phố Hiến, là một trong những nơi thờ cúng linh thiêng của tỉnh Hưng Yên, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách thập phương. Sự linh thiêng đã được thần thánh hóa thành những câu chuyện truyền đời về sau. Trong đó có chuyện vua Trần Anh Tông đi đánh Chiêm Thành năm 1294, qua vùng phố Hiến nằm mộng thấy thần nữ đến xin âm phù giết giặc. Sau khi thắng trận trở về, nhớ tới công lao đó, một mặt nhà vua cho tôn tạo lại đền, miếu, một mặt cho các bến bãi thu thuế thuyền buôn trích ra một phần cung cấp cho việc phụng thờ. Người dân đi biển, thương nhân đến đây lễ bái cầu xin đều được như ý, thuận buồm xuôi gió... Lễ hội đền Mẫu. Ảnh sưu tầm Dù trải qua nhiều lần trùng tu, kiến trúc đền vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn, cổ kính. Nghi môn của đền được xây dựng khá đẹp, kiến trúc kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, cửa xây vòm cuốn, có một cửa chính và hai cửa phụ. Trên vòm cuốn có dòng chữ triện ghi “Dương Thiên Hậu - Tống Triều”, bên trên có dòng chữ Hán được ghép bằng các mảnh gốm lam, nét điển hình của kiến trúc thời Nguyễn ghi “Thiên Hạ mẫu nghi”. Qua cổng đền là khoảng sân rộng với cảnh sắc thanh bình. Sân đền có cây đa cổ thụ, tuổi đời hơn 700 năm; gốc cây tạo thành thế ba chân vững chắc, tán lá rủ bóng um tùm quanh đền tăng thêm vẻ trang nghiêm chốn tâm linh. Không gian khu Đại bái. Ảnh TITC Kiến trúc đền được xây kiểu chữ Quốc gồm Đại bái, Trung từ, Hậu cung và hai dãy giải vũ. Toà đại bái với 3 gian, kiến trúc kiểu chồng diêm hai tầng tám mái; các đao mái uốn cong mềm mại kiểu rồng chầu, phượng mớm, lợp ngói vảy rồng, chính diện đắp lưỡng long chầu nguyệt. Hai bên đại bái là điện Lưu Ly và cung Quảng Hàn. Bên trong Đại bái được chạm trổ, trang trí tinh xảo; bên trên khu vực trung tâm có bức châm bằng chữ vàng của Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh viết năm 1896, nội dung bức châm ca ngợi cảnh đẹp của ngôi đền và tấm lòng trinh tiết của Quý phi. Trung từ gồm 3 gian, được trang trí lộng lẫy với hệ thống câu đối, hoành phi, đồ tế tự, kiệu long đình, kiệu bát cống… sơn son thiếp vàng rực rỡ, ca ngợi sự trinh tiết và lòng trung thành của Quý phi. Hậu cung gồm 5 gian, đặt tượng thờ Quý phi họ Dương cùng 2 người hầu là Kim Thị và Liễu Thị được sơn son thiếp vàng, có niên đại từ thế kỷ XVII-XVIII. Ngoài ra đền còn lưu giữ 15 đạo sắc phong quý giá từ triều Lê đến triều Nguyễn. Du khách thập phương truyền tai nhau đền Mẫu rất thiêng, xin duyên được duyên, xin điều lành thì ai nấy đều bình an, sức khỏe, công việc làm ăn đều thuận lợi. Cũng không biết từ bao giờ, du khách viếng đền thường truyền tai nhau việc sờ đầu rồng ở cỗ kiệu bát cống lấy may, nam tay trái, nữ tay phải, xem như một chút tâm linh khi về viếng đền. Du khách tham quan đền Mẫu. Ảnh TITC Lễ hội Đền Mẫu tổ chức từ ngày 10-15 tháng 3 âm lịch hàng năm, thu hút đông đảo nhân dân trong vùng và du khách thập phương về tham dự, chiêm bái, cầu mong những điều tốt lành, hạnh phúc. Phần lễ diễn ra long trọng với phần rước kiệu và lễ tế; phần hội có các trò chơi dân gian, hát chầu văn. Ngoài ra, ngày 14-7 âm lịch cũng là ngày trọng đại của Đền; là ngày mộc dục, tức là ngày thay áo cho Mẫu. Tương truyền, đền Mẫu Hưng Yên rất linh thiêng. Ảnh TITC Theo Trung tâm Thông tin du lịch https://vietnamtourism.gov.vn/post/60477
Ngôi đền thờ bà Lâm Tức Mặc, là vị thần hàng hải người Trung Quốc, được nhân dân tôn làm Thiên Hậu. Theo “Đại Thanh nhất thống chí” bà là người Phúc Kiến (Trung Quốc), với huyền thoại khi bà được sinh ra có hương thơm ngào ngạt, hào quang rực rỡ, lớn lên có phép màu cưỡi chiếu bay trên biển. Bà phát hiện ra một thứ rong biển dùng nấu thạch làm thức ăn cứu đói cho dân và tìm ra một thứ dầu ăn gọi là ma mộc rút từ cây vừng giúp dân nghèo vượt qua những trận đói nghèo. Bà tinh thông y thuật nên thường trị bệnh cứu người, dậy dân cách phòng bệnh dịch, được mọi người vô cùng mến phục. Ngày 9/9 âm lịch, bà không bệnh mà hoá. Sau khi hóa, bà thường mặc áo đỏ bay lượn trên biển cứu hộ tàu bè đi lại. Người Phúc Kiến tôn bà là Thần hàng hải nên di cư đến đâu mang thần tích lập đền thờ đến đó. Đền được xây dựng vào thế kỷ XVI – XVII, do 14 dòng họ người Trung Quốc ở Quảng Đông, Quảng Tây và Phúc Kiến sinh sống tại Phố Hiến quyên góp vật liệu chuyển sang bằng đường biển, đồng thời kết hợp với các nghệ nhân người Việt cất dựng. Tổng thể đền Thiên Hậu gồm nhiều hạng mục như: Tam quan, Thiêu hương, Hậu cung, hai dãy Giải vũ. Tam quan của đền cao và rộng, tường bao hai bên trang trí các ô vuông bằng gạch men hoa màu xanh lam rất đẹp, phía trên cửa chính đắp nổi bức đại tự “ Thiên Hậu Cung”. Trước Tam quan có hai con nghê chầu làm bằng chất liệu đá hoa cương được tạo tác khá sinh động, vẻ đẹp của đôi nghê đã đi vào câu ca: “Ai về tỉnh lỵ Hưng Yên Thăm đền Thiên Hậu đôi bên nghê chầu Con Dương ngậm ngọc Bích Châu Con Âm sữa ngọt một bầu nuôi con” Hình ảnh hai con nghê đã nói lên quan niệm sống của người Trung Hoa, được của và được con là hạnh phúc lớn nhất của con người. Tiếp đến là toà Thiêu hương làm kiểu chồng diêm với khoảng cách cổ diêm rất ngắn, thân cột đỡ mái làm hình lục giác, trên các vì, cánh cửa đều chạm khắc đề tài trong các tích truyện của Trung Hoa như Tam Quốc, Tây Du Ký, Điêu Thuyền, Khổng Minh… Ở bốn đầu đao phía dưới các xà trang trí hình bông sen úp xuống mềm mại làm cho toà Thiêu hương thêm phần rực rỡ, tráng lệ đã được các nghệ nhân xưa thể hiện rõ phong cách kiến trúc Phúc Kiến, Trung Quốc. Hai bên toà Thiêu hương, bên tả là Thanh Long, bên hữu là Bạch Hổ được xây theo kiểu truyền thống, bốn đầu đao cong. Trên tường trang trí hoa đang nở với chủ đề: Xuân, Hạ, Thu, Đông, chim muông,… Lối kiến trúc độc đáo thể hiện ở toà Hậu cung, các bộ vì được kết cấu kiểu chồng rường cánh. Mái lợp ngói mũi hài, nền lát gạch Bát Tràng. Bộ vì ở gian trung tâm được tạo dáng khá đặc biệt mang rõ phong cách kiến trúc Trung Hoa, các con rường được tạo tác uốn lượn mang hình dáng vai bừa chạy dài nối nhau từ trên đỉnh nóc xuống được kê lên các đấu có vân xoắn hình sóng nước nhô ra và các đấu tròn được tạo tác giống bông hoa úp ngược. Các mảng chạm khắc được kết hợp nhiều chủ đề như sư tử hý, phượng hàm thư, rùa, dơi,… mang phong cách nghệ thuật Trung Hoa. Tại gian trung tâm Hậu cung đặt một khám thờ lớn, đây là cỗ khám cổ được các nghệ nhân xưa chạm khắc rất cầu kỳ và tinh xảo, cửa khám trang trí nhiều hoa lá cách điệu,…Trong khám đặt ngai và bài trí các pho tượng Thiên Thượng Thánh Mẫu. Đây là các pho tượng của một số tỉnh Phúc Kiến xưa cung tiến. Các pho tượng đều được tạc trong tư thế ngồi thiền, đầu đội mũ, choàng khăn phủ dài trông phúc hậu. Ngoài gian thờ chính, hai bên còn có ban thờ cha mẹ và anh ruột của bà cùng ban thờ các dòng họ người Hoa đã có công xây dựng và tôn tạo đền. Ngôi đền còn lưu giữ được nhiều đồ thờ tự, cổ vật có giá trị liên quan đến việc đi sông biển và ngợi ca tài danh của vị nữ thần như: sắc phong, bia đá, hoành phi, câu đối, kiệu Mẫu có niên đại thế kỷ XVII và nhiều đồ tế tự được mang từ Trung Quốc sang. Hàng năm, đền Thiên Hậu mở hội vào ngày 23 tháng 3 âm lịch là ngày sinh và ngày 9 tháng 9 âm lịch là ngày hóa của bà. Vào những ngày này, nhân dân người Hoa, người Việt đến dự tế lễ, rước kiệu rất đông vui và trang trọng. Lễ vật được dâng lên là những món ăn truyền thống của người Hoa như bánh Rong Câu, kẹo Sìu, bánh Rùa, bánh Tô Châu. Đền Thiên Hậu đã được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1992 và là một trong 16 di tích tiêu biểu thuộc Di tích quốc gia đặc biệt “Khu di tích Phố Hiến”. Đây là một di tích đẹp không chỉ có giá trị về mặt văn hoá, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc mà còn là một di tích tiêu biểu mang đậm phong cách kiến trúc Trung Hoa còn tồn tại ở Phố Hiến - Hưng Yên nói riêng và của đất nước nói chung. Nơi đây sẽ luôn là những điểm tham quan du lịch hấp dẫn, độc đáo với mọi du khách trong và ngoài nước mỗi khi về Phố Hiến. TTXTDL
Đại diện Trung tâm thuộc Viện KHGD&MT, Đại diện Tập đoàn Globaltech, bà Hà Thị Thu Hương – Trưởng ban Số hóa di tích cùng các thành viên trong Ban dự án cùng thầy trụ trì - Thượng tọa Thích Thanh Khuê tại lễ bàn giao. Lễ khánh thành và bàn giao không gian số VR360 tại Chùa Chuông vừa qua không chỉ mang ý nghĩa ứng dụng công nghệ, mà còn là bước đi cụ thể trong việc triển khai các chủ trương lớn về chuyển đổi số và phát triển văn hóa bền vững tại Việt Nam. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, lĩnh vực văn hóa được xác định là một trong những trụ cột quan trọng. Việc ứng dụng công nghệ vào bảo tồn di sản không chỉ giúp lưu giữ giá trị lịch sử, mà còn tạo ra các sản phẩm văn hóa mới, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Dự án số hóa Chùa Chuông là một trong những bước đi cụ thể, góp phần đưa các chủ trương này vào thực tiễn. Mô hình bảo tồn di sản trong kỷ nguyên số Sử dụng công nghệ VR360, quét 3D để tái hiện Chùa Chuông trên không gian mạng Thông qua công nghệ VR360, toàn bộ không gian di tích được số hóa với độ chính xác cao, kết hợp giữa hình ảnh, âm thanh và dữ liệu lịch sử. Đây là mô hình bảo tồn mới, chuyển từ phương thức truyền thống sang số hóa, giúp di sản được lưu giữ một cách toàn diện và bền vững. Xây dựng cơ sở dữ liệu – nền tảng quản lý hiện đại Một trong những nội dung cốt lõi của dự án là xây dựng cơ sở dữ liệu số cho di tích. Việc số hóa toàn diện từ kiến trúc, hiện vật đến các yếu tố văn hóa phi vật thể giúp tạo nền tảng phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu và giáo dục. Đây cũng là cơ sở để kết nối dữ liệu di sản trên phạm vi quốc gia. Việc bàn giao trụ QR tích hợp không gian số VR360 mang ý nghĩa biểu tượng cho sự kết nối giữa truyền thống và công nghệ. Thông qua giải pháp này, di sản không chỉ được bảo tồn mà còn được “kích hoạt” để tiếp tục phát huy giá trị trong đời sống hiện đại. Số hóa di tích góp phần mở rộng khả năng tiếp cận của du khách, từ đó thúc đẩy phát triển du lịch. Đây là hướng đi phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế dựa trên giá trị văn hóa, đồng thời góp phần nâng cao đời sống người dân. Dự án cũng cho thấy vai trò quan trọng của doanh nghiệp trong việc triển khai chuyển đổi số. Sự tham gia của các đơn vị như VIVINA giúp huy động nguồn lực xã hội, bổ sung cho nguồn lực nhà nước trong công tác bảo tồn di sản. Trụ Bồ đề có tích hợp mã QR được đặt tại chùa. Theo định hướng, chương trình số hóa di sản sẽ tiếp tục được triển khai rộng rãi, với mục tiêu xây dựng hệ sinh thái số cho di sản văn hóa Việt Nam. Việc kết nối dữ liệu, chuẩn hóa thông tin và phát triển các ứng dụng số sẽ tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Phát biểu tại buổi bàn giao, Ông Đoàn Xuân Huy khẳng định: “Di sản chỉ thực sự sống khi được kết nối với đời sống hiện đại.” Thượng tọa Thích Thanh Khuê - Trụ trì Chùa Chuông cũng gửi lời cảm ơn tới tất cả các bên liên quan và đánh giá cao ý nghĩa của dự án, cho rằng đây là giải pháp thiết thực giúp bảo tồn và phát huy giá trị di tích. Kính mời quý độc giả cùng chiêm bái và khám phá và trải nghiệm vẻ đẹp cổ kính của Chùa Chuông qua góc nhìn 360 độ sống động do nền tảng số quốc gia VIVINA thực hiện tại link: https://vivina.net/tour/chao-mung-den-voi-di-tich-chua-chuong-hung-yen/tour.html
Nằm cạnh con sông Hồng quanh năm đỏ nặng phù sa, văn miếu Xích Đằng được biết đến là một di tích quan trọng nằm trong quần thể di tích Phố Hiến, thuộc phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Sở dĩ Văn miếu có tên như vậy là do được khỏi dựng trên đất làng Xích Đằng từ thế kỷ 17 (thời Hậu Lê) với qui mô ban đầu nhỏ, đến năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), triều Nguyễn, được xây dựng lại có quy mô như hiện nay trên nền của chùa Nguyệt Đường( chùa Xích Đằng). Với hơn 400 năm tồn tại, ghi danh 161 vị đại khoa, văn miếu Xích Đằng đã thể hiện tinh thần hiếu học của con người trên mảnh đất "Nhất Kinh kỳ, Nhì Phố Hiến". Theo từ điển Địa danh văn hóa và thắng cảnh Việt Nam của Nguyễn Như Ý và Nguyễn Thành Chương ghi rõ văn miếu Xích Đằng là một trong sáu văn miếu còn tồn tại cho đến ngày nay của đất nước và văn miếu Hưng Yên cũng là một trong hai văn miếu lâu đời nhất (đứng sau văn miếu Quốc Tử Giám). Thế kỷ 17 dưới thời vua Lê Thánh Tông, để chấn hưng lại đạo Nho, triều đình đã cho thành lập nhiều trường học bên ngoài trường Quốc Tử Giám ở các trấn. Ở trấn Sơn Nam (gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và một phần đất của Hà Nội và Hưng Yên) có văn miếu Xích Đằng ( hay còn có tên là văn miếu Sơn Nam) được xây dựng vừa làm nơi để thờ tự các bậc hiền nho, vừa là nơi tổ chức các kỳ thi của trấn. Sau nhiều biến chuyển trong việc chia tách lại địa lý các trấn dưới các triều Hậu Lê, Tây Sơn, nhà Nguyễn, văn miếu Xích Đằng trở thành văn miếu của trấn Sơn Nam thượng và sau này là của tỉnh Hưng Yên. Dù nằm trong khu dân cư, nhưng đi ngay trên cầu Yên Lệnh, thuộc quốc lộ 38 nối Hà Nam với Hưng Yên có thể quan sát được văn miếu Xích Đằng từ hai cây gạo đã có hàng trăm năm tuổi được trồng trước cổng. Nằm trên đường dẫn vào còn có tượng hai con nghê đá lớn được tạc từ thế kỷ 18. Tam quan (hay còn gọi là cổng Nghi môn) của văn miếu Xích Đằng là một trong những công trình còn giữ được những nét kiến trúc độc đáo trong các văn miếu còn lại ở Việt Nam. Được dựng theo lối kiến trúc chồng diêm, hai tầng tám mái có lầu gác. Hai bên Tam quan có hai bục loa, dùng để xướng danh sĩ tử và thông báo những quy định trong các kỳ thi hương. Thay vì lầu trống như ở các văn miếu Quốc tử giám, văn miếu Mao Điền, ở văn miếu Xích Đằng lầu trống được thay vào bằng lầu chuông. Tiếng chuông và tiếng khánh vang lên chính là lúc báo hiệu giờ thi đã bắt đầu và kết thúc, đồng thời nó cũng là tiếng cầu thỉnh tỏ lòng biết ơn, tri ân với những bậc hiền nho trong mỗi dịp lễ hội. Hai chiếc chuông và khánh của văn miếu cũng là những di vật cổ được đúc và tạo dựng từ thế kỷ 18. Khu nội tự kết cấu theo kiểu chữ Tam: gồm Tiền tế, Trung từ và Hậu cung. Hệ thống mái được kết cấu theo kiểu “trùng thiềm địa ốc”. Mặt chính quay về hướng nam. Bên trong khu nội tự tỏa sáng với hệ thống các đại tự, cấu đối, cửa võng và một hệ thống các trụ, kèo được sơn son thếp vàng phủ kim hoàn toàn. Hiện vật quý giá nhất trong văn miếu còn lưu giữ được đến ngày nay đó chính là 9 tấm bia đá khắc tên tuổi, quê quán, chức vụ của 161 vị đỗ đại khoa ở trấn Sơn Nam thượng xưa. Trong đó có 138 vị ở Hưng Yên và 23 vị ở Thái Bình. Từ các khoa thi đầu tiên dưới thời nhà Trần đến khoa thi cuối cùng vào cuối thời nhà Nguyễn, tỉnh Hưng Yên đều có người đỗ đạt cao. Thời nào cũng có người tài của đất Hưng Yên đỗ đạt ra giúp việc nước, việc dân. Học vị cao nhất được ghi danh ở các bia đá còn lưu lại là trạng nguyên Tống Trân, thời nhà Trần; trạng nguyên Nguyễn Kỳ, triều nhà Mạc; trạng nguyên Dương Phúc Tư, triều nhà Lê. Chức vụ cao nhất được biết đến là tiến sĩ Lê Như Hổ, quận công triều nhà Mạc… Ở văn miếu Xích Đằng hiện tại đang thờ hai pho tượng của Đức Khổng Tử và các bậc chư hiền nho gia. Cùng với đó là pho tượng của người thầy giáo lỗi lạc, người hiệu trưởng đầu tiên của văn miếu Quốc Tử Giám Chu Văn An. Năm 1992, Văn miếu Xích Đằng được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá quốc gia. Văn miếu xưa có hai mùa lễ hội. Trọng hội là ngày 10/2 và 10/8. Cứ vào các ngày trọng hội, những vị nho học và quan đầu tỉnh phải đến Văn miếu tế lễ để thể hiện nề nếp nho phong, tôn sư trọng đạo làm gương cho con cháu, cầu mong sự nghiệp giáo dục ngày càng tiến bộ. Ngày nay, hàng năm, vào dịp mùng 4-5 Tết, Văn miếu lại tổ chức lễ hội với các hoạt động như cho chữ đầu xuân, tổ chức tế lễ, dâng hương, triển lãm thư pháp, hát ca trù, từng bước khôi phục lại lễ hội xưa. Ngoài ra vào mùa thi, thanh thiếu niên, học sinh về văn miếu tìm hiểu truyền thống hiếu học của cha ông và thắp nhang cầu mong cho sự học hành ngày càng phát triển. Văn miếu Xích Đằng cũng như quần thể di tích Phố Hiến trở thành địa chỉ quen thuộc của du khách gần xa khi đến thăm Phố Hiến. Đó cũng là niềm tự hào của mỗi người con xứ nhãn khi được sinh ra, lớn lên trên quê hương văn hiến, cách mạng anh hùng. Theo TRUNG TÂM THÔNG TIN DU LỊCH https://vietnamtourism.gov.vn/post/18054