Theo thần tích đền Trù mật “Cương nghị thông minh Chiêu huệ Đại vương phả lục” do hàn lâm viện Đông các đại học sỹ Nguyễn Bính Phụng soạn vào triều vua Lê Anh Tông, niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (năm 1572), đền Trù Mật được xây dựng và hoàn thành ngày 16/10 năm Canh Ngọ (năm 970) dưới triều vua Đinh Tiên Hoàng. Đền Trù Mật đặt ở gò thấp đầu làng Trù Mật giáp với làng Phú An (tức làng Phú Thọ) còn gọi là đền Lăng, vì vừa là lăng mộ sứ quân Kiều Thuận, vừa là đền thờ Ma Xuân Trường, một tương quân kiệt xuất của dòng họ Ma – Dòng họ lâu đời nhất Việt Nam. Lịch sử đền Trù Mật Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư do các sử gia triều Lê biên soạn và tài liệu văn hoá dân gian, Kiều Thuận (còn gọi là Kiều Công Thuận, Kiều Lệnh Công) sinh vào cuối thập kỷ thứ 2 của thế kỷ X, mất năm 968. Ông làm quan dưới triều Ngô Quyền cùng với ông nội, bố đẻ và anh trai. Theo tộc phả dòng họ Mè (Ma) thôn Liêm (trước là ở xóm Khuân) thì Kiều Thuận làm Trưởng quản ngân khố.Địa điểm thờ cúng Khi xảy ra biến cố chính trị ở Kinh đô Cổ Loa năm 944 (vua Ngô Quyền mất, nghịch thần Dương Tam Kha là em vợ Ngô Quyền cướp ngôi vua và truy sát trung thần), Kiều Thuận cùng gia đình chạy về đất Ma Khê, rồi liên kết với Tộc trưởng Ma Xuân Trường ở Phú An, dựng đồn binh ở bãi sông, lập ấp định cư ở Trù Mật, dần dần hình thành một lực lượng cát cứ tại địa phương. Bia đá tại Đền Trù Mật Trong khoảng 20 năm nắm quyền cai quản tại địa phương, ông thường lo cho dân trừ ác, diệt tà, che chở, bảo vệ dân hai làng Phú An, Trù Mật và lãnh địa của ông khỏi bị cảnh chém giết, cướp bóc, xâu xé của các lực lượng đối nghịch khác, giữ cho dân an cư lạc nghiệp. Kiều Thuận thường tổ chức đại tiệc vào những năm mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, nhân khang vật thịnh. Sau những vụ mùa bội thu, dân làng ở các động nô nức về dự hội, mang theo sản vật góp phần để Kiều Thuận khao quân. Theo tộc phả họ Ma trong lịch sử thị xã Phú Thọ và tài liệu văn hoá dân gian, tại vùng Ma Khê, Kiều Thuận xây dựng căn cứ Tam Thành, xây thành Hưng Hoá, mở rộng sự liên kết với các hào trưởng, tộc trưởng, các dòng họ ở Ma Khê và vùng lân cận tạo thành căn cứ địa vững chắc. Một vùng rộng lớn từ Ma Khê đến Tây bắc được Kiều Thuận gây dựng, cai quản trong hơn 20 năm trời đã làm cho dân tình yên ổn, nông nghiệp mở mang, nơi nơi đều an cư lạc nghiệp, thế lực vững vàng, uy danh vang dội, khiến các sứ quân khác phải nể phục. Đội quân của Kiều Thuận có tới vài vạn người, được tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, trên dưới một lòng được mệnh danh là “Cương Nghị quân”; luân phiên nhau vừa luyện tập, tuần tra canh gác, bảo vệ lãnh địa, vừa sản xuất bảo đảm lương thực nuôi quân, vừa thường trực cơ động sẵn sàng chiến đấu. Trong hai năm 966 – 967, đất nước ta không có vua, các thế lực trong triều tranh nhau ngôi vương, các hào trưởng địa phương không phục tùng triều đình, gây ra nạn cát cứ của 12 sứ quân. Khi có biến cố 12 sứ quân, Kiều Thuận đã bị Đinh Bộ Lĩnh chinh phạt, ông mất vào ngày mùng 4 tháng Giêng năm Mậu Thìn 968. Cảm phục trước tài cao đức trọng của các vị tướng quân, nhân dân hai làng Phú An, Trù Mật đã lập đền thờ Kiều Thuận và Ma Xuân Trường để thường xuyên hương khói tưởng nhớ người có công với nước với dân. Người đan đã tôn vinh Kiều Thuận làm thành hoàng thờ ở đình làng, Ma Xuân Trường là Ma tộc thần tướng. Trong đền Trù Mật, trên long ngai thờ Kiều Thuận có bốn chữ vàng “Quang hiển quốc vương”, đây là lời văn ca ngợi Kiều Thuận, đồng thời cũng răn dạy người đời hãy noi gương ông tu tâm tích đức sống vì dân nước, vì nghĩa đời cao cả. Ông thật sự là một danh nhân lịch sử thế kỷ X. Năm 1999, Bộ Văn hoá – Thông tin đã xếp hạng đền Trù Mật là di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử cấp quốc gia. Ngày nay, đền Trù Mật là địa điểm tại thị xã Phú Thọ được nhiều người ghé thăm trong những ngày lễ, tết cổ truyền. Lễ hội đền Trù Mật Trải qua hơn nghìn năm, đền Trù Mật vẫn còn tồn tại như một minh chứng của lịch sử. Nhân dân hai làng Phú An và Trù Mật đã bao đời nay vẫn cùng nhau xây dựng, tu tạo, gìn giữ và hương khói trong ngôi đền. Điểm đến du lịch Trong những dịp tưởng niệm ngày sinh, ngày mất, ngày lập đền thờ … nhân dân hai làng Trù Mật, Phú An cùng đồng bào trong vùng vẫn nhang đăng tế lễ theo nghi thức cổ truyền, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Theo thần tích đền Trù Mật còn lưu giữ đến ngày nay và tài liệu văn hoá dân gian, hàng năm dân hai làng Trù Mật và An Phú tổ chức ba ngày lễ trọng tại đền Lăng (Trù Mật) (xưa kia gọi là ngày cầu): đó là ngày 4 tháng Giêng, ngày 18 tháng 2 âm lịch và ngày 16 tháng 10 âm lịch. – Ngày 4 tháng Giêng là kỷ niệm ngày mất của đức đại vương Kiều Thuận. Lễ vật gồm có lợn đen tuyền, bánh chay (bánh mật, bánh rán, chè kho), hoa quả, đèn nhang. Người mua và bắt lợn phải là trai tân, gái trinh. Trong lễ hội người ta mổ lợn tế thịt sống, dùng mỡ chài phú kín lên thịt. Dân làng bầu chủ tế phái là người “sạch sẽ” (không có tang…). Những chức sắc trong làng được vào làm lễ. Từ sau ngày này dân làng mới được động thổ. – Ngày 18 tháng hai là kỷ niệm ngày sinh của Kiều Thuân. Dân làng Trù Mật, Phú An tổ chức tế lễ trong hai ngày 17 và 18. Ngày 17 bắt đầu vào hội, ngày 19 lễ tạ. Xa xưa nhân dân làm cỗ thái lao, chỉ cúng tiết đông và tim gan lợn. Nhân dân sắm sửa 3 lễ. Một lễ đặt ở ban thờ Kiều Thuận và một lễ đặt ở ban thờ Ma Xuân Trường tại đền Lăng, một lễ đưa sang đặt ở đền Mẫu hậu (mẹ đẻ Kiều Thuận ở gần đó). Bây giờ lễ vật gồm một ván xôi, một con gà. Dân làng bầu chủ tế và chủ tế mặc quần áo thụng màu vàng, đội mũ màu vàng, đi hia (giày) màu vàng. Các chức sắc vào tế lễ mặc quần áo thụng màu lam, đội mũ lam, không đi hia. Cuộc tế gồm 3 tuần (một tuần hương, hai tuần rượu). Kỳ cầu ngày 18 tháng hai này là ngày mừng thần Thành hoàng làng ra đời nên dân làng cũng coi là lễ thường xuân, làm đại tiệc, tổ chức phần hội rất vui vẻ. Trong hai ngày 17,18 ban ngày dân làng tổ chức nhiều trò chơi như: Chọi gà, đánh cờ (cờ tướng, cờ người), kéo co, đánh đu, thả diều, thi giã bánh giày, ban đêm có hát chèo, hát xẩm… Trước khi chính thức làm lễ, dân làng rước kiệu bát cống từ đền Trù Mật lên đền Mẫu Khuân (nơi thờ mẹ nuôi Kiều Thuận) xin chân nhang, rồi cùng rước kiệu võng ở đền Mẫu Khuân trở về đền Trù Mật với ý nghĩa là đón mẹ nuôi và em nuôi Kiều Thuận về dự hội. Đây là một biểu hiện đạo lý của Kiều Thuận “cha sinh cũng như mẹ dưỡng”, cũng là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của nhân dân Trù Mật, Phú An nói riêng và của dân tộc ta nói chung. đền Mẫu Khuân vẫn được xây dựng lại trên nền đất cũ rất to đẹp, nay ở phố Sa Đéc, phường Hùng Vương, thị xã Phú Thọ. – Ngày 16 tháng mười kỷ niệm ngày lập đền thờ Kiều Thuận và công bố sắc truy phong của vua Đinh Tiên Hoàng cho ông, đồng thời cũng là lễ ăn cơm mới, mừng vụ mùa thắng lợi. Lễ hội ngày 16 tháng 10 âm lịch xưa tổ chức như sau: Làng Trù Mật tổ chức vào ngày 14,15,16; làng Phú An tổ chức vào ngày 16, 17, 18; xóm Khuân (sau là thôn Liêm) ngày 18, 19, 20. Đầu tiên là khởi lễ, dân làng tổ chức đốt gạo trong ống tre lam, có cá mòi, tương truyền đấy là lương thực và thực phẩm của binh lính Kiều Thuận xưa kia khi xuất quân. Trong những ngày lễ hội này, ban ngày dân làng tổ chức nhiều trò chơi như đánh cờ, kéo co, chọi gà; ban đêm có hát múa mừng đại lễ… Hiện nay, hàng năm, cả ba làng cùng nhau tổ chức lễ hội đông vui tại đền vào ngày 16, 17 tháng 10 âm lịch. Ban ngày tổ chức lễ bái và một số trò chơi như đánh cờ, chọi gà, kéo co…; ban đêm không tổ chức văn nghệ như xưa. Giá trị lịch sử Nếu như cái chết của Kiều Thuận đã góp phần vào sự thống nhất đất nước, thì việc tôn tạo đền Trù Mật xứng tầm di tích Quốc gia và tiếp tục phục hồi đầy đủ lễ hội ở đền sẽ ngày càng củng cố và phát triển tình đoàn kết cộng đồng dân cư và truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, động viên mọi người phải biết hy sinh, chung tay xây dựng xã hội vì ngày mai tươi sáng của đất Tổ Vua Hùng và dân tộc Việt Nam anh hùng. Theo 19 Thị xã Phú Thọ https://thixaphutho.net/den-tru-mat-den-tho-hai-vi-tuong-quan-trong-lich-su-thi-xa-phu-tho.html
Lược sử Theo thần tích đền Trù Mật “Cương nghị thông minh Chiêu huệ Đại vương phả lục” do hàn lâm viện Đông Các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm 1572, đền Trù Mật được xây dựng và hoàn thành ngày 16 tháng 10 năm Canh Ngọ 970 dưới triều vua Đinh Tiên Hoàng. Đền Trù Mật còn gọi là đền Lăng, vì vừa là lăng mộ vừa là đền thờ sứ quân Kiều Thuận, đặt ở gò thấp đầu làng Trù Mật giáp với làng Phú An. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư do các sử gia triều Lê biên soạn và tài liệu văn hóa dân gian, Kiều Thuận (còn gọi là Kiều Công Thuận, Kiều Lệnh Công) sinh vào cuối thập kỷ thứ 2 của thế kỷ X, mất năm 968. Ông làm quan dưới thời Ngô Quyền, được giữ chức Trưởng quản ngân khố cùng với ông nội là Kiều Công Tiễn, bố đẻ là Kiều Công Chuẩn. Khi xảy ra biến cố chính trị ở Kinh đô Cổ Loa năm 944 (vua Ngô Quyền mất, nghịch thần Dương Tam Kha là em vợ Ngô Quyền cướp ngôi vua và truy sát trung thần), Kiều Thuận cùng gia đình chạy về đất Ma Khê, rồi liên kết với Tộc trưởng Ma Xuân Trường ở Phú An, dựng đồn binh ở bãi sông, lập ấp định cư ở Trù Mật, dần dần hình thành một lực lượng cát cứ tại địa phương bảo vệ dân hai làng Phú An, Trù Mật và lãnh địa của ông khỏi bị cảnh cướp bóc, xâu xé của các lực lượng đối nghịch khác, giữ cho dân an cư lạc nghiệp. Vùng đất được quân của Kiều Thuận cai quản trong hơn 20 năm trời đã làm cho dân tình yên ổn, nông nghiệp mở mang, thế lực vững vàng, uy danh vang dội khiến các sứ quân khác phải nể phục. Sau khi Kiều Thuận mất, cảm phục trước tài cao đức trọng của ông, nhân dân hai làng Phú An, Trù Mật đã lập đền thờ ông tại Trù Mật để thường xuyên hương khói tưởng nhớ một người có công với nước với dân và làng Phú An đã tôn ông làm Thành hoàng thờ ở đình làng, Ma Xuân Trường là Ma Tộc thần tướng. Kiến trúc Sau nhiều lần trùng tu, hiện ngôi đền mang rõ phong cách kiến trúc triều Nguyễn, Đền Trù Mật nằm ở hướng Đông Nam có kiến trúc kiểu “chữ Đinh” gồm 2 tòa đại bái và hậu cung. Trong đến còn lưu giữ nhiều hiện vật, cổ vật quý hiếm như đỉnh hương, lư hương, sập thờ, ngai thờ, bài vị kiểu bát cống, hoành phi,… Trong đền, trên long ngai thờ Kiều Thuận có bốn chữ vàng “Quang hiển quốc vương”, là lời văn ca ngợi Kiều Thuận, đồng thời răn dạy người đời hãy noi gương ông tu tâm tích đức sống vì dân nước, vì nghĩa đời cao cả. Bên ngoài có bệ thờ Ma tộc thần tướng Ma Xuân Trường. Dù trải qua hơn 1000 năm lịch sử, đền Trù Mật vẫn tồn tại như một nhân chứng lịch sử. Quan sát từ bên ngoài, đền thờ Trù Mật nổi bật với hình ảnh mái ngói được chạm trổ hình rồng, cổ kính, uy nghi. Lễ hội Để tưởng nhớ công ơn, bên cạnh ngày lễ kỷ niệm ngày sinh ngày mất của Kiều Công Thuận và Ma Xuân Trường, nhân dân hai làng Trù Mật, Phú An và xóm Khuân còn cùng nhau tổ chức lễ hội tại đền Trù Mật vào ngày 16, 17 tháng 10 âm lịch hàng năm. Ban ngày tổ chức lễ bái và một số trò chơi như đánh cờ, chọi gà, kéo co…; ban đêm tổ chức văn nghệ như xưa. Đầu tiên là khởi lễ, dân làng tổ chức đốt gạo trong ống tre lam, có cá mòi, tương truyền đây là lương thực và thực phẩm của binh lính Kiều Thuận xưa kia khi xuất quân. Phát huy tốt đẹp truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Thành tựu Năm 1999, Bộ Văn hóa – Thông tin đã xếp hạng đền Trù Mật là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. ____________________________ Tiếng Anh (English) The Tru Mat Temple, also known as Lang Temple, located in Van Lung commune, Phu Tho town, Phu Tho province, is an important cultural and spiritual destination of this province. The temple is dedicated to General Kieu Thuan, who played a significant role in the history of this region during the 12 warlords period, along with the subordinate general Ma Xuan Truong. According to legend, Tru Mat Temple was built on October 16, 970, under the reign of King Dinh Tien Hoang. It serves as both a tomb and a place of worship, situated on a low hill in Tru Mat village near Phu An village. Kieu Thuan, also known by other aliases such as Kieu Cong Thuan or Kieu Lenh Cong, is an important historical figure, born in the late 10th century and died in 968. He made significant contributions to the protection and development of this area. Tru Mat Temple was classified as a National Cultural and Historical Site in 1999. The annual festival here is also an occasion to commemorate the contributions of Kieu Cong Thuan and Ma Xuan Truong, along with the local cultural traditions. This is a notable destination for those interested in the history and culture of Phu Tho. Tiếng Trung (Chinese) 寿庐祠,又称庐陵祠,位于富寿镇文龙村,越南富寿省,是该省文化和精神生活的重要场所。祠庙是供奉将军乔顺的地方,他在越南历史上扮演了十二使臣时期这片土地的重要角色,与副将马春长一起。 据传,寿庐祠建于乙未年(公元970年)十月十六日,当时是在丁先皇的统治下建造的。它既是陵墓又是祠庙,坐落在寿庐村头低地,靠近富安村。乔顺,又被称为乔公顺或乔令公,是历史上的重要人物,出生于公元十世纪末,于968年去世。他对该地区的保护和发展做出了重要贡献。 寿庐祠于1999年被评为国家级历史文化遗址。这里每年的庆典也是纪念乔公顺和马春长的功绩以及本地文化传统的时刻。对于那些关心富寿省历史和文化的人来说,这是一个值得注意的地方。 Tiếng Pháp (French) Le temple de Tru Mat, également connu sous le nom de temple Lang, situé dans la commune de Van Lung, ville de Phu Tho, province de Phu Tho, est une destination culturelle et spirituelle importante de cette province. Le temple est dédié au général Kieu Thuan, qui a joué un rôle significatif dans l’histoire de cette région pendant la période des 12 seigneurs de guerre, ainsi qu’au général subordonné Ma Xuan Truong. Selon la légende, le temple de Tru Mat a été construit le 16 octobre 970, sous le règne du roi Dinh Tien Hoang. Il sert à la fois de tombeau et de lieu de culte, situé sur une colline basse dans le village de Tru Mat près du village de Phu An. Kieu Thuan, également connu sous d’autres alias tels que Kieu Cong Thuan ou Kieu Lenh Cong, est une figure historique importante, né à la fin du Xe siècle et mort en 968. Il a apporté une contribution significative à la protection et au développement de cette région. Le temple de Tru Mat a été classé site historique et culturel national en 1999. Le festival annuel ici est également l’occasion de commémorer les contributions de Kieu Cong Thuan et de Ma Xuan Truong, ainsi que les traditions culturelles locales. C’est une destination notable pour ceux qui s’intéressent à l’histoire et à la culture de Phu Tho. Theo Chốn Thiêng https://chonthieng.com/dia-diem/den-tru-mat-den-lang-thi-xa-phu-tho-phu-tho/#elementor-toc__heading-anchor-0