Khu di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN) Nằm cách thành phố Thanh Hóa 50km về phía Tây, trên địa bàn xã Xuân Lam, Thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh là điểm đến không thể bỏ qua nếu du khách muốn tìm hiểu về một triều đại hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử Việt Nam. Trải dài trên diện tích 140ha, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Lam Kinh hiện nay vẫn còn bảo tồn nguyên vẹn những công trình của triều đại Nhà Hậu Lê, cùng nhiều cổ vật quý giá thời bấy giờ . Lam Sơn là nơi sinh ra anh hùng dân tộc Lê Lợi -Lê Thái Tổ, và là nơi phát tích cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh xâm lược. Để tỏ lòng tôn kính với tổ tiên, nhà Lê cho xây dựng nhiều điện miếu, lăng tẩm có quy mô to lớn ở đất Lam Sơn. Từ đó, Lam Sơn được coi là “kinh đô thứ hai” của nước Đại Việt sau Thăng Long - Lam Kinh. Thành điện Lam Kinh xưa được xây dựng theo địa thế “tọa sơn hướng thủy.” (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN) Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi rõ Lam Kinh được xây dựng vào năm 1433. Lam Kinh là nơi an táng, thờ cúng, tri ân các vị Vua và Hoàng hậu triều Lê. Theo các nhà sử học, vương triều Lê có hai thái miếu ở Thăng Longvà ở Lam Kinh, thái miếu ở Lam Kinh là thái miếu gốc. Vì thế hàng năm, các vua Lê trị vì tại Thăng Long đều hành hương về Lam Kinh để thực hiện các nghi thức tế lễ và bái yết tổ tiên. Khu di tích Lam Kinh mang nhiều ý nghĩa giá trị văn hóa thiêng liêng không chỉ của nhân dân Thanh Hóa mà của cả dân tộc. Ðây còn là công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc, mang dấu ấn văn hóa cung đình cùng toàn bộ các bia ký, lăng mộ, minh chứng bước phát triển rực rỡ của nền kiến trúc nước nhà. Các điện miếu và lăng mộ được bố trí theo quan điểm Nho giáo, thuật phong thủy, có sự hài hòa giữa đồi núi, khe suối, cây xanh, tạo nên một môi trường đẹp, cân bằng giữa cảnh quan thiên nhiên và kiến trúc. Quy mô công trình kiến trúc Lam Kinh được ghi trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú như sau: "Điện Lam Kinh đằng sau gối vào núi, trước mặt trông ra sông, bốn bên non xanh nước biết, rừng rậm um tùm. Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ, Thiệu Lăng của Lê Thái Tông và các lăng của vua nhà Lê đều ở đây cả. Lăng nào cũng có bia. Sau điện lấy Tây hồ làm não, giống như hồ Kim Ngưu. Hồ rất rộng lớn, nước các ngả đều chảy cả vào đó. Có con sông phát nguyên từ hồ ấy, chạy vòng trước mặt, lòng sông có những viên đá nhỏ, tròn và nhẵn trông rất thích mắt nhưng không ai dám lấy trộm. lại có lạch nước nhỏ, chảy từ bên tay phải qua trước điện, ôm vòng lại như cánh cung. Trên lạch có cầu giống như Bạch Kiều ở giảng đình điện Vạn Thọ Đông Kinh, đi qua cầu mới tới điện. Nền điện rất cao, hai bên mở rộng, dưới chân điện có làn nước phẳng, giống như trước điện nhà vua coi chầu.” Giếng ngọc cổ trong Khu di tích Lam Kinh. (Ảnh: TTXVN) Thành điện Lam Kinh xưa được xây dựng theo địa thế “tọa sơn hướng thủy.” Phía Bắc của kinh thành dựa vào núi Dầu, phía Nam nhìn ra sông Chu, có núi Chúa làm bình phong, phía Đông là rừng Phú Lâm, còn phía Tây được bảo vệ bởi núi Hương và núi Hàm Rồng. Cây cầu Bạch (tên gọi xưa là cầu Tiên Loan Kiều) bắc trên sông Ngọc là lối đi chính dẫn du khách vào thăm Kinh thành cổ Lam Kinh. Cầu được làm theo kiểu dáng kiến trúc độc đáo phổ biến ở các nước nhiệt đới vùng Á Đông, đó là thượng gia hạ kiều tức trên nhà, dưới cầu. Khu hoàng thành, cung điện và thái miếu của kinh thành Lam Kinh vẫn được giữ nguyên vẹn cho đến ngày nay, với cách bố trí hình bàn cờ gồm khu ngọ môn, sân rồng, chính điện, thái miếu… Đặc biệt, Tòa Chính điện Lam Kinh được ví như “linh hồn” của Khu Di tích bởi sự bề thế, trang nghiêm và vai trò quan trọng của nó trong quần thể khu miếu điện, lăng tẩm Lam Kinh. Năm 1962, di tích lịch sử Lam Kinh được xếp hạng cấp quốc gia, đến năm 1994 được Chính phủ phê duyệt dự án trùng tu tôn tạo. Trong khuôn khổ dự án tôn tại khu di tích, Tòa Chính điện đã được phục dựng trên nền móng cũ. Chính điện mang đậm lối phong cách kiến trúc cung đình thời Lê và là công trình điêu khắc gỗ tỉ mỉ, công phu. Cùng với ngoại thất là khối kiến trúc hình chữ Công (I), gồm 3 điện nối tiếp nhau là Quang Đức (tiền điện), Sùng Hiếu (trung điện) và Diên Khánh (hậu điện). Từ đó đến nay gần 30 hạng mục công trình khu di tích đã được phục hồi tôn tạo, tránh được sự hoang phế, từng bước khôi phục lại diện mạo Lam Kinh xưa như khu La Thành (hay Thành Ngoại; Nghi môn, Ngọ môn (cửa phía Nam) của điện Lam Kinh nơi đón tiếp nghi thức trước khi vào điện chầu; sân Rồng, sân Chầu; Chính điện Lam Kinh… Bảo vật quốc gia bia Vĩnh Lăng Lam Sơn, đặt tại lăng Vua Lê Thái Tổ, được đánh giá là đỉnh cao của nghệ thuật trang trí, điêu khắc Việt Nam thời Lê Sơ. (Ảnh: Thanh Tùng/TTXVN) Đặc biệt nơi đây hiện đang lưu giữ 5 tấm bia cổ, là những tư liệu quý giá để nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật điêu khắc. Cả 5 tấm bia đã được Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận là Bảo vật quốc gia, bao gồm bia Vĩnh Lăng (vua Lê Thái Tổ), bia Chiêu Lăng (vua Lê Thánh Tông), bia Dụ Lăng (vua Lê Hiến Tông), bia Kính Lăng (vua Lê Túc Tông), bia Khôn Nguyên Chí Đức (Hoàng Thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao). Khu di tích cũng gắn liền với những câu chuyện truyền thuyết mang màu sắc huyền bí với những cây cổ thụ nổi tiếng như cây Ổi biết cười, cây Đa-Thị mang điềm báo, cây Lim tự hiến thân mình để xây điện thờ. Màu sắc tâm linh không chỉ tô thêm phần linh thiêng cho nơi đây, mà còn là yếu tố thú vị, gây tò mò và thu hút ngày càng nhiều du khách đến với lịch sử đầy tự hào của Việt Nam./. Theo Báo Vietnam+ https://www.vietnamplus.vn/chiem-nguong-khu-di-tich-quoc-gia-dac-biet-kinh-thanh-co-lam-kinh-post1002608.vnp
Tưởng chừng như đã bị lãng quên, giờ đây Lam Kinh là điểm dừng chân lý tưởng dành cho những ai yêu thích tìm hiểu những giá trị truyền thống xưa gắn với quá khứ hào hùng của dân tộc. Bia Vĩnh Lăng. Ảnh: TITC Một trong những địa điểm linh thiêng, được nhiều du khách viếng thăm tại Khu di tích Lam Kinh là hệ thống các lăng mộ các hoàng đế Hậu Lê. Trong đó, nổi bật nhất, giữ vai trò trung tâm là Vĩnh Lăng, nơi an nghỉ của Đức Thái tổ Cao Hoàng đế Lê Lợi. Tượng voi chầu. Ảnh: TITC Vĩnh Lăng được xây dựng trên một dải đất bằng phẳng cách điện Lam Kinh 50m, ở phía Tây Nam, phía trước có minh đường rộng rãi với địa thế lưng tựa núi, bình phong là núi Chúa, phía sau có gối tựa núi Dầu, hai bên tả, hữu có hai dãy núi cao bao bọc tạo thế “hổ phục rồng chầu”. Bố cục và phong cách mai táng của Vĩnh Lăng đơn giản nhưng tôn nghiêm, lăng mộ được xây dựng bằng gạch vồn xếp khít mạch và không trát, đắp đất hình lập phương, xung quanh xây chèn bằng đá đục ở bên ngoài. Trước lăng có hai hàng tượng quan hầu và tượng các con giống tạc bằng đá dựng ở đây để trấn trạch, gồm bốn đôi con giống đối nhau theo thứ tự hai nghê, hai ngựa, hai tê giác, hai hổ. Phía mặt trên lăng để cỏ mọc tự nhiên, có phần giản dị, song, công trình vẫn toát lên được vẻ tôn nghiêm, trang trọng của bậc đế vương. Bia Vĩnh Lăng được dựng cách lăng 300m, bằng đá trầm tích biển nguyên khối, đặt trên lưng một con rùa lớn cũng được tạc từ đá trầm tích biển nguyên khối. Một điểm đặc biệt và mang sắc màu tâm linh tại khu Vĩnh Lăng chính là tồn tại truyền thuyết về cây ổi cười, tạo nên sự huyền bí, linh thiêng cho vùng đất Lam Kinh. Người ta kể rằng, du khách chỉ cần dùng ngón tay cù nhẹ lên thân cây thì toàn bộ cây ổi đều rung lên như có gió thổi qua. Không chỉ toàn thân rung khi có người chạm vào vào, cây ổi còn mang lại một cảm giác nhẹ nhõm khác lạ nếu du khách nắm tay vào cành và nhắm mắt lại tĩnh tâm, cũng sẽ cảm nhận được cây ổi đang nhẹ nhàng đung đưa. Ảnh: TITC Ngay sau Ngọ Môn, phía bên tay trái trong khuôn viên sân rồng, du khách có thể nhìn thấy cây đa - thị khổng lồ đã tồn tại hơn 300 năm, gắn liền với chuyện tình cây đa - thị. Truyền thuyết kể rằng, xưa kia chỗ cây đa từng tồn tại một cây thị, chim chóc thường về đậu trên cành thị mang theo quả đa về ăn nên hạt rơi xuống đất mọc thành cây. Sau này, cây đa mọc lên xanh tốt, bộ rễ phụ của cây đa thị rất đặc biệt, không vươn ra xa như những cây đa nhiều gốc khác mà mọc chằng chịt, ôm trọn trong lòng gốc thị rồi hóa thành chung một gốc, được ví như “đôi uyên ương”. Từ gốc đến ngọn đa cao chừng 20m, gốc cây gần chục người ôm không xuể. Cây thị sống trong lòng cây đa vẫn xanh tươi tốt lá, mỗi năm đều ra hoa ra quả, thơm lừng một góc trời. Năm 2013, cây đa - thị được Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam công nhận là cây di sản bởi tầm vóc, sự độc đáo và giá trị lịch sử. Cây đa - thị. Ảnh: TITC Bên cạnh những truyền thuyết này, Khu di tích lịch sử Lam Kinh còn chứa đựng nhiều câu chuyện lịch sử vừa huyền bí, vừa hấp dẫn. Đến với nơi đây, du khách không chỉ được sống trong không gian lịch sử, ngược dòng về quá khứ để tưởng nhớ đến một thời kỳ hưng thịnh bậc nhất trong lịch sử Việt Nam, mà còn được nghe những tích xưa, tận mắt chứng kiến chuyện lạ, như cách gọi của chính những người dân địa phương: “Quần thể di tích Lam Kinh là thế giới của những câu chuyện cổ tích được xây nên từ những linh khí của trời đất”. Theo TRUNG TÂM THÔNG TIN DU LỊCH https://vietnamtourism.gov.vn/post/60282
Theo đó, UBND tỉnh Thanh Hóa vừa phê duyệt dự án bảo tồn, tu bổ, phục hồi, tôn tạo một số hạng mục công trình thuộc khu vực Thành nội Di sản văn hóa Thế giới Thành nhà Hồ (ở xã Tây Đô, Thanh Hóa), với tổng mức đầu tư hơn 354 tỉ đồng. Di sản văn hóa thế giới Thành nhà Hồ. Ảnh: Quách Du Theo đại diện Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ, đây là lần tu bổ, tôn tạo lớn nhất kể từ khi di sản được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa Thế giới vào tháng 6.2011. Dự án được triển khai trong giai đoạn 2025-2028. Trong đó, giai đoạn 2025-2027 sẽ tập trung cải tạo Khu trưng bày khảo cổ Điện Hoàng Nguyên; tu bổ, phục hồi Hào thành phía Nam (gồm cả Vệ thành); tu bổ, phục hồi đường Hoàng Gia; tu bổ, chống thấm Cổng Nam; xây dựng đường giao thông nội bộ, cây xanh cảnh quan, điện chiếu sáng và hạ tầng kỹ thuật. Giai đoạn 2027-2028 tiếp tục phục hồi, tôn tạo Đông Thái Miếu, Tây Thái Miếu và cầu Nam Thành. Nguồn vốn thực hiện dự án đến từ ngân sách Trung ương và ngân sách tỉnh. Toàn cảnh khu vực Thành nhà Hồ (dấu khoanh đỏ) nhìn từ trên cao. Ảnh: Quách Du Bên cạnh đó, dự án sẽ tôn tạo trục đường Hoàng Gia với tổng chiều dài 615,7m. Việc tu bổ thực hiện theo nguyên tắc tôn trọng quy mô, cao độ nền đường, vật liệu nguyên gốc và sử dụng tối đa các mặt lát, nền đường gốc còn tốt; chỉ bổ sung, phục hồi phần bị khuyết thiếu, sụt lún, hư hại theo đúng quy mô và chất liệu ban đầu. Vật liệu chính để phục dựng con đường là đá xanh, tương đồng với vật liệu nguyên gốc. Đối với khu vực Cổng Nam, dự án sẽ hạ giải lớp đá xanh và đá cubic, bóc dỡ lớp vữa lót và bờ máng nước hiện trạng, mở rộng lòng máng lên 400mm. Bề mặt tường tại các cổng Đông, Tây, Bắc, Nam cũng sẽ được chống thấm, vệ sinh, bơm keo chống thấm phủ các mạch vữa. Những hình ảnh khu thành đá cổ trước khi đại tu bổ: Trải qua hơn 600 năm, nhiều đoạn thành đá cổ vẫn đang còn khá nguyên vẹn, thẳng tắp. Ảnh: Quách Du Tuy nhiên, nhiều đoạn tường thành phía Bắc xuất hiện các vị trí sạt lở. Ảnh: Quách Du Để tránh sạt lở, tỉnh Thanh Hóa đã triển khai dự án “Gia cố, chống đỡ cấp thiết các đoạn tường thành có nguy cơ sạt lở thuộc di sản văn hóa thế giới Thành nhà Hồ“. Ảnh: Quách Du Tuyến đường trong khu vực Thành nội Di sản văn hóa Thế giới Thành nhà Hồ, nơi có đôi rồng đá bị mất đầu. Ảnh: Quách Du Hiện nay, bên trong Thành nhà Hồ, người dân vẫn trồng lúa và các loại hoa màu. Ảnh: Quách Du Thành nhà Hồ (còn gọi là thành Tây Đô) ở xã Vĩnh Long và Vĩnh Tiến (huyện Vĩnh Lộc cũ) - nay là xã Tây Đô, tỉnh Thanh Hóa) được Hồ Quý Ly xây dựng vào năm 1397. Đây là một trong những công trình kiến trúc bằng đá độc đáo bậc nhất Việt Nam và thế giới. Nơi đây từng được xem là kinh đô, trung tâm văn hóa, chính trị, xã hội của nước Đại Ngu dưới triều Hồ. Trải qua hơn 600 năm, khu vực Hoàng Thành của công trình đồ sộ này vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn. Theo Báo Lao Động https://laodong.vn/van-hoa-giai-tri/khu-thanh-da-co-hon-600-nam-tuoi-o-thanh-hoa-truoc-khi-dai-tu-bo-1576265.ldo
Đình Thượng Phú xa xưa thuộc vùng đất Đại Lại (Ly cung nhà Hồ), ngày nay thuộc thôn Kim Sơn, xã Hà Đông, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đình Thượng Phú được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIV, bởi những người thợ Chăm, là tù binh trong các cuộc chiến tranh giữa hai nước Đại Việt - Chiêm Thành. Đình Thượng Phú có lịch sử ra đời cách đây khoảng hơn 600 năm do chính những người thợ Chăm với tài năng về gốm, điêu khắc do tướng Trần Khát Chân thu nạp trong các cuộc chinh phạt dưới thời Hồ Dù mang kiến trúc đình, chùa cổ với đầy đủ cột, kèo truyền thống, nhưng điểm nhấn lớn nhất tạo nên nét độc đáo của đình Thượng Phú lại chính là những hoa văn Champa với họa tiết đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình nhờ những bàn tay tài hoa của những người thợ điêu khắc xưa. Trải qua nhiều thăng trầm, biến cố của lịch sử, ngôi đình vẫn sừng sững với thời gian và được trùng tu vào năm 1882 (hiện còn văn bia đặt tại đình). Tuy nhiên, theo thời gian và chiến tranh tàn phá, hiện ngôi đình này đang xuống cấp, một số cột bị nghiêng và mộng bị vỡ, hệ thống cột kèo của đình bị mối mọt tấn công gây biến dạng, nhiều vị trí người dân phải đóng gỗ tạm thời để giữ kèo không bị sụt, chống nguy cơ đổ đình. Đình làng Thượng Phú mang dáng dấp của kiến trúc đình, chùa Đại Việt xưa, gồm có 5 gian, 2 chái, với những nét hoa văn chạm khắc tinh xảo trên vách, mũi kèo, cột… Được biết, năm 2015, UBND tỉnh Thanh Hóa có quyết định hỗ trợ kinh phí 300 triệu đồng cho việc trùng tu, chống xuống cấp ngôi đình. Nhưng theo dự toán, việc trùng tu đình Thượng Phú cần nguồn kinh phí khoảng trên 3 tỉ đồng nên địa phương chưa thể thực hiện được. Theo người dân địa phương bao đời nay, đình làng là nơi sinh hoạt cộng đồng, tổ chức các cuộc họp và lễ hội lớn của địa phương. Những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, đình còn dùng làm bệnh viện, trường học, là kho chứa kho lương, kho vũ khí. Quan sát từ bên ngoài, đình Thượng Phú hiện còn khá nguyên trạng Đặc biệt tại đình còn diễn ra nhiều sự kiện trọng đại khác như tổ chức đại hội Đảng bộ huyện, đại hội Đảng bộ xã và các đại hội, hội nghị lớn của chính quyền địa phương… vì thế người dân mong muốn tỉnh Thanh Hóa sớm quan tâm đầu tư tu bổ, nâng cấp để gìn giữ, bảo tồn ngôi đình cổ này. Một số hình ảnh về ngôi đình cổ hơn 600 năm mang nét văn hóa Champa trên đất Thanh Hóa: Đây được xem là một trong số ít di tích đình làng mang đậm dấu ấn văn hóa Chăm ở vùng đất Thanh Hóa Chất liệu xây dựng đình chủ yếu là gỗ, những cột trụ to lớn hơn người ôm, hệ thống kèo, cột, mái trong được chạm khắc tinh xảo Kết cấu trong đình mang nét kiến trúc văn hóa cung đình với điêu khắc tứ linh (long, ly, quy, phượng) Bên tả mái trong của đình là những chạm khắc cổ kính, sang trọng tạo nên một bức tranh rõ nét về văn hóa cung đình, với những bức điêu khắc long, ly, quy, phượng Bên hữu, là bức tranh toàn cảnh về những sinh hoạt đời thường của người Việt như, đánh cá, chọi gà, đám cưới, cảnh muông thú quần thảo bên nhau... Bia đá hàng trăm năm trong đình được dựng từ những năm 1882, khi nhà Nguyễn cho trùng tu lại đình Trải qua hàng trăm năm tồn tại, đình Thượng Phú hiện đã xuống cấp ở nhiều nơi Nguyện vọng của nhân dân chỉ mong sao các cấp ngành văn hóa sớm có động thái xem xét đầu tư, trùng tu lại đình để nhân dân yên lòng, đồng thời bảo tồn được những giá trị văn hóa cha ông Theo Báo người Lao Động https://nld.com.vn/thoi-su/ngoi-dinh-600-nam-mang-kien-truc-champa-tren-dat-thanh-hoa-20230119104510484.htm
Thái miếu nhà Hậu Lê được thể hiện ở lối kiến trúc nghệ thuật độc đáo - phong cách kiến trúc Hậu Lê và thời Nguyễn, với các công trình: Nghinh môn, sân điện, Tiền điện và Hậu điện. Thái miếu gồm 2 tòa: Tiền điện và Hậu điện được bố trí liền nhau theo lối trùng thềm (kiểu chữ Nhị) gồm 7 gian, mái được lợp ngói mũi hài, phía trên nóc được trang trí công phu với biểu tượng “lưỡng long chầu nguyệt”. Theo những tài liệu ghi chép lại, để tri ân và tôn vinh công lao to lớn của vương triều Hậu Lê, năm 1805, vua Gia Long đã cho dời Thái miếu nhà Hậu Lê từ Thăng Long về đất Bố Vệ (nay là phường Đông Vệ) để phụng thờ các vị Hoàng đế, Hoàng Thái Hậu thời Hậu Lê. Dù trải qua hơn 200 năm lịch sử, nhưng Thái miếu nhà Lê còn lưu giữ được nhiều hiện vật quan trọng như: Nghê gỗ từ thế kỷ 17 được chạm khắc tinh xảo, mang đậm dấu ấn và giá trị văn hoá của thời Hậu Lê. Tại đây còn lưu giữ những con Nghê được làm bằng gỗ mít, chạm khắc rất tinh xảo, mang đậm chất nghệ thuật điêu khắc cổ. Nghê là biểu tượng của sức mạnh, hóa giải sát khí và mang lại tài lộc. Những cây cột bằng gỗ lim được đặt trên các phiến đá vẫn vững chãi. Xà, kẻ được liên kết với nhau bởi cột lim vững chắc. Máng đá dài hàng chục mét hàng trăm năm tuổi nối Tiền điện và Hậu điện vẫn trường tồn cùng mãi với thời gian. Tại gian giữa của Tiền Điện treo một bức hoành phi lớn có khắc 6 chữ: “Nam quốc sơn hà tự thử” (có nghĩa là nước Nam ta có từ đây), bên cạnh có hàng chữ nhỏ ghi năm dựng miếu 1805. Nơi đây hiện đang lưu thờ 27 vị là Hoàng đế, Hoàng Thái Hậu cùng các vương công nhà Hậu Lê. Trong đó có 4 thánh vị cổ của các vua Lê Thái Tổ, Lê Thần Tông, Lê Huyền Tông và Lê Gia Tông. Nơi đây còn thờ hai bậc khai quốc công thần là Nguyễn Trãi và Lê Lai. Với những giá trị về văn hóa, lịch sử, năm 1995, Thái miếu nhà Hậu Lê được cấp bằng Di tích lịch sử văn hoá và kiến trúc nghệ thuật Quốc gia. Theo Báo Thanh Hóa https://baothanhhoa.vn/thai-mieu-nha-hau-le-noi-luu-giu-nhieu-kien-truc-co-doc-dao-120225.htm
Thành nhà Hồ với những nét đẹp cổ kính, rêu phong (Ảnh: Báo Lao động) Trên bản đồ du lịch Thanh Hóa, bạn sẽ không thể bỏ qua điểm đến thành nhà Hồ, một trong những di tích lịch sử nổi tiếng của xứ Thanh, có giá trị rất cao về mặt văn hoá, kiến trúc. Bỏ túi ngay cuốn cẩm nang chi tiết về điểm du lịch thành nhà Hồ dưới đây nhé! 1. Giới thiệu thành nhà Hồ Nhắc đến vùng đất Thanh Hóa, người ta nhớ ngay đến cái nôi của những vị anh hùng dân tộc, những câu chuyện lịch sử hùng tráng với những chiến tích vẻ vang. Trước biến cố thăng trầm của lịch sử, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, đến ngày nay nhiều di tích vẫn còn sừng sững với thời gian. Nổi bật trong số đó là thành nhà Hồ với những nét đẹp cổ kính, rêu phong, là chứng tích cho một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc Việt Nam. Thành nhà Hồ được nhiều du khách đến tham quan khi du lịch Thanh Hóa (Ảnh: Sưu tầm) 1.1. Thành nhà Hồ ở đâu? Thành nhà Hồ ở đâu? Thành nhà Hồ nằm trên địa phận hai xã Vĩnh Long và Vĩnh Tiến thuộc huyện Vĩnh Lộc, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa khoảng 45 km; sau khi sáp nhập hành chính, khu vực này nay thuộc xã Tây Đô của tỉnh Thanh Hóa. Năm 1400, Thành nhà Hồ trở thành kinh đô của nước Đại Ngu - quốc hiệu nước Việt Nam dưới triều nhà Hồ. Công trình này còn được gọi bằng nhiều tên khác như Tây Đô, An Tôn, Tây Kinh hay Tây Giai. Với kỹ thuật xây dựng bằng đá quy mô và độc đáo hiếm có, tòa thành được xem là một trong những di sản kiến trúc đá ấn tượng nhất của Việt Nam và thế giới. Thành nhà Hồ Vĩnh Lộc Thanh Hoá là kinh đô cũ của Việt Nam (Ảnh: Sưu tầm) 1.2. Giờ mở cửa và giá vé tham quan Thành nhà Hồ Giờ mở cửa: 7:00 – 17:30 (Mùa hè) | 7:00 – 17:00 (Mùa đông) Giá vé tham quan tham khảo: Người lớn: 40.000 VNĐ/lượt Trẻ em 7 – 12 tuổi: 20.000 VNĐ/lượt Lưu ý: Thông tin về giờ mở cửa và giá vé nêu trên chỉ mang tính tham khảo và có thể thay đổi tùy theo chính sách của đơn vị quản lý. Du khách nên liên hệ trực tiếp Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ để cập nhật thông tin chính xác nhất trước khi tham quan. 1.3. Thành nhà Hồ được UNESCO công nhận vào năm nào? Vào năm 1962, di tích thành nhà Hồ đã được Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích cấp Quốc gia, có giá trị đặc biệt quan trọng của dân tộc. Đến ngày 27 tháng 6 năm 2011, tổ chức UNESCO đã chính thức công nhận thành nhà Hồ là di sản văn hoá thế giới thông qua hai tiêu chí: Thể hiện được sự ảnh hưởng và các giá trị nhân văn qua một thời kỳ lịch sử của quốc gia hay khu vực trên thế giới. Thành nhà Hồ Vĩnh Lộc Thanh Hoá là công trình cổ xưa, khắc hoạ được giá trị của một hay nhiều giai đoạn trong lịch sử nhân loại. Thành nhà Hồ được công nhận là di sản văn hoá thế giới (Ảnh: Sưu tầm) 2. Lịch sử thành nhà Hồ Thanh Hóa Thành nhà Hồ, còn được gọi là Thành Tây Đô, được xây dựng vào năm 1397 dưới triều Trần, do Hồ Quý Ly trực tiếp chỉ huy. Công trình thành đá quy mô lớn này được thi công trong thời gian kỷ lục chỉ khoảng ba tháng, khởi công vào mùa xuân năm Đinh Sửu. Việc xây thành nằm trong chiến lược buộc triều đình Trần dời kinh đô từ Thăng Long vào Thanh Hóa, tạo điều kiện để Hồ Quý Ly củng cố quyền lực và từng bước thay thế triều Trần. Đến năm 1400, khi ông lên ngôi và đặt quốc hiệu Đại Ngu, Thành nhà Hồ chính thức trở thành kinh đô của vương triều mới. Thành được đặt trên địa thế hiểm trở, “tựa sơn hướng thủy”, vừa có núi non bao bọc, vừa có hệ thống sông ngòi thuận tiện cho giao thông thủy – bộ. Đây là vị trí mang tính phòng thủ quân sự vượt trội hơn là trung tâm chính trị hay kinh tế. Chính bối cảnh lịch sử đầy biến động cùng những cải cách mạnh mẽ của vương triều Hồ đã khiến Thành nhà Hồ trở thành một dấu ấn văn hoá đặc sắc, đại diện cho một giai đoạn tuy ngắn ngủi nhưng giàu giá trị trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Sau hơn 600 năm, phần lớn cung điện và dinh thự trong thành đã không còn, song các hạng mục như bốn cổng thành đá cuốn vòm, tường thành và đặc biệt là Đàn tế Nam Giao vẫn được bảo tồn khá tốt. Trong số các phế tích còn lại, nổi bật nhất là nền chính điện với đôi rồng đá dài 3,62 m được chạm khắc tinh xảo, phản ánh trình độ nghệ thuật và kiến trúc của thời kỳ này. Thành nhà Hồ Thanh Hoá là địa điểm check-in của nhiều bạn trẻ yêu thích lịch sử (Ảnh: Báo VnEconomy) 3. Kiến trúc độc đáo của thành nhà Hồ Thành nhà Hồ được xây dựng chỉ trong vòng 3 tháng, sau đó được tiếp tục hoàn thiện cho đến năm 1402. Nơi này có địa thế khá hiểm trở với núi non dựng đứng, sông nước bao quanh, vừa có ý nghĩa chiến lược trong phòng thủ quân sự, vừa phát huy được ưu thế giao thông đường thuỷ. 3.1. Thành nội Thành nội có hình chữ nhật dài 870,5m theo chiều Bắc - Nam và 883,5m chiều Đông - Tây. Bốn cổng thành Nam - Bắc - Tây - Đông gọi là tiền - hậu - tả - hữu. Các cổng của thành nội đều xây kiểu vòm cuốn, đá xếp múi, các phiến đá được xây dựng đặc biệt lớn. Thành nhà Hồ có trình độ kỹ thuật xây vòm đá rất cao. Các phiến đá nặng hàng chục tấn được ráp với nhau một cách tự nhiên, không chất kết dính mà vẫn còn tồn tại sau 600 năm. Thành nội (Ảnh: Sưu tầm) 3.2. Hào thành Hào thành rộng khoảng hơn 90m với phần đáy rộng 52m, sâu hơn 6.5m. Để giữ độ chắc chắn cho Hào thành, người xưa đã dùng đá hộc, đá dăm lót ở phía dưới. Phần Hào thành của thành nhà Hồ (Ảnh: Sưu tầm) 3.3. La thành Phía trước Hào thành là La thành. La thành hiện tại là tòa thành đất cao 6m, bề mặt rộng 9.2m, mặt ngoài dốc đứng, phía trong thoai thoải, mỗi bậc cao 1.5m, một số vị trí có lát thêm sỏi để gia cố. Toàn bộ La thành xây dựng dựa theo địa hình tự nhiên, tạo nên bức tường thiên nhiên hùng vĩ, có chức năng bảo vệ tòa thành và phòng chống lũ lụt. Phần La thành (Ảnh: Sưu tầm) 3.4. Đàn tế Nam Giao Đàn tế Nam Giao được xây dựng ở phía Nam thành nhà Hồ, phía bên trong của La thành với diện tích là 155,5 ha. Đàn tế được chia làm nhiều tầng, trong đó tầng đàn trung tâm cao 21.7m. Chân đàn cao khoảng 10.5m. Phần đàn tế trung tâm bao gồm ba vòng tường bao bọc lẫn nhau. Đàn tế Nam Giao ở thành nhà Hồ ngày nay (Ảnh: Sưu tầm) Theo VinPearl https://vinpearl.com/vi/thanh-nha-ho-di-tich-lich-su-dia-diem-du-lich-noi-tieng-bac-nhat-xu-thanh