Bia Bà thờ ai? Bia Bà nằm trong cụm di tích Đình – Chùa – Bia Bà La Khê, thờ Đức Thánh Bà Trần Thị Hiền (1511 – 1538). Bà là Đệ nhị Cung phi của vua Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh). Bà sinh năm 1511 tại làng La Ninh (nay là La Khê), là con gái của Đô lực sĩ Thiết Sơn bá Trần Chân. Bà nổi tiếng với vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, nết na, thông minh và được vua tin tưởng giao quản lý tài chính trong cung. Bà không chỉ phò vua giúp nước mà còn dành nhiều tâm sức giúp đỡ người nghèo, dạy dân làng nghề dệt the lụa truyền thống. Năm 1538, bà qua đời khi mới 28 tuổi do bị hậu sản lúc sinh vị Hoàng tử đầu lòng và là vị Hoàng tử thứ 5 trong triều, bà xin về quê an dưỡng sau đó mất tại quê nhà. Sau khi bà mất ở tuổi 28, vua Mạc Thái Tông đã thương tiếc lập bia ghi danh công đức. Sự linh thiêng của “Bà Chúa Kho” đất Hà Thành Bia Bà nổi tiếng linh thiêng nhất về việc cầu tài lộc, kinh doanh và tiền bạc. Nhiều tiểu thương và giới kinh doanh ví bà như “Bà Chúa Kho” của Hà Nội. Bởi vậy mà dân gian có câu: “Cầu duyên thì đến chùa Hà/ Cầu tài, cầu lộc thì đi Bia Bà”. Người ta tin rằng vì lúc sinh thời bà là người quản lý tài chính cho nhà vua và luôn rộng lòng cứu giúp chúng sinh về vật chất, nên khi hiển thánh, bà sẽ phù hộ cho những người thành tâm cầu mong sự hanh thông trong làm ăn, tiền tài sung túc. Hàng năm, đặc biệt là dịp đầu xuân năm mới hoặc ngày rằm, mùng một, Đền Bia Bà luôn tấp nập du khách thập phương đến dâng hương “xin lộc” đầu năm và “tạ lễ” cuối năm. Kiến trúc Đền Bia Bà có gì đặc biệt? Đền Bia Bà là một phần của cụm di tích La Khê, mang đậm nét kiến trúc đền chùa cổ của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Quần thể di tích này bao gồm Chùa, Đình và Đền, được quy hoạch hài hòa trong một không gian thanh tịnh với kiến trúc chủ đạo là kiểu chữ Đinh, chữ Công gồm 3 hạng mục chính: Cổng Tam quan: Cổng vào khu di tích được xây dựng bề thế, cổ kính. Chùa La Khê (Diên Khánh tự): Là nơi thờ Phật, du khách thường vào làm lễ ở chùa trước khi sang lễ ở Đền Bia Bà. Đền Bia Bà: Nằm ở bên trái của chùa, gồm tòa Đại bái và Hậu cung. Hậu cung là nơi trang nghiêm nhất, đặt tấm bia đá cổ của Đức Bà trong một khám thờ sơn son thiếp vàng Kinh nghiệm đi lễ Bia Bà Để chuyến hành hương được trọn vẹn và linh ứng, bạn nên lưu ý: Sắm lễ: Lễ vật không cần quá cầu kỳ nhưng phải sạch sẽ và thành tâm. Thường gồm: hương, hoa tươi (cúc, hồng), trầu cau têm cánh phượng, bánh kẹo, quả tươi và sớ cầu tài lộc. Quy trình lễ: Theo trình tự, du khách nên lễ tại đình làng La Khê (thờ các vị Thành hoàng làng), sau đó lễ chùa Diên Khánh rồi mới sang Đền thờ Đức Thánh Bà (nơi đặt Bia Bà) để khấn nguyện tài lộc. Nguyên tắc “Có xin có trả”: Đây là một nét văn hóa tâm linh đặc biệt tại đây. Người dân quan niệm nếu đã đến xin lộc đầu năm và đạt được sở nguyện, thì cuối năm (thường vào tháng Chạp) nhất định phải quay lại để tạ lễ bà. Lưu ý: Tuyệt đối giữ thái độ trang nghiêm, ăn mặc kín đáo và không quay phim, chụp ảnh tại khu vực Hậu cung nơi đặt tấm bia đá linh thiêng. Bài khấn xin lộc cầu tài tại Đền Bia Bà Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần) Con kính lạy Đức Bà Thánh Mẫu Trần Thị Hiền. Tín chủ con là: ……………………, sinh năm: …………………… Ngụ tại: …………………… Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……, tín chủ con thành tâm sắm sửa lễ vật, dâng lên trước án thiêng. Cúi xin Đức Bà chứng giám lòng thành. Con đang có dự định/đang kinh doanh (kể tên công việc, dự án): …………………….. Nay con kính cẩn cúi xin Đức Bà ban cho con chút lộc để làm vốn liếng may mắn, hanh thông cho công việc. Kính xin Đức Bà phù hộ độ trì cho con được đầu óc minh mẫn, gặp được đối tác tốt, khách hàng tin tưởng, mọi sự thuận lợi, vốn liếng sinh sôi, tài lộc dồi dào. Con xin hứa sẽ kinh doanh chân chính, tạo phúc giúp đời. Đến cuối năm, con xin giữ lễ quay về đền tạ ơn đầy đủ. Cẩn cáo! Vị trí và thời điểm đi lễ Địa chỉ: Phường La Khê, quận Hà Đông, Hà Nội (cách trung tâm thành phố khoảng 10-12km). Thời điểm: Đông nhất là vào những ngày Tết Nguyên Đán, rằm tháng Giêng hoặc ngày hội làng La Khê (14-16 tháng Giêng âm lịch). Ngoài ra, những người kinh doanh thường đến đây vào những ngày mùng 1 hàng tháng để cầu may mắn cho công việc của mình. Đến với Bia Bà, du khách không chỉ để cầu xin phú quý mà còn để tìm thấy sự thanh tịnh trong tâm hồn giữa một không gian kiến trúc cổ kính, thâm nghiêm đậm chất làng quê Bắc Bộ. Theo Bạch Liên https://bachlien.vn/bia-ba-ngoi-den-cau-tai-loc-linh-thieng-noi-tieng-dat-ha thanh.html
Chùa Ngòi, tên hiệu là Phúc Khê. Không biết rõ ngôi chùa do ai đặt tên, chỉ biết rằng nhân dân trong vùng đã quen với cái tên gọi này (Phúc Khê nghĩa là nguồn hạnh phúc, thái bình, thịnh vượng). Theo lời kể của trụ trì và các tài liệu còn ghi lại, chùa Ngòi vốn có từ lâu đời, chùa được hội Linh Cảm – hội của Nhiếp Chính Ỷ Lan đời Lý xây dựng vào khoảng trước thế kỷ 17. Trải qua bao thăng trầm, biến cố của thời gian, cùng với chiến tranh tàn phá chùa trước đây gần như bị phá hủy toàn bộ, năm Bính Tý (1636) Hưng Công làm mới lại hai tòa Thiêu hương, Tiền đường. Đến năm Kỷ Mão (1639) làm lại tòa Hậu đường, vật liệu xây dựng toàn làm bằng gỗ tốt. Năm 1989 xây dựng Tam quan. Năm 1990, khu nhà Tổ đường được khởi công xây dựng và đến năm 1992 xây dựng Điện thờ Mẫu và tổng thể chùa đã được phục dựng lại như cũ. Đặc biệt, từ khi có chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, cùng với Chương trình Mục tiêu quốc gia chống xuống cấp và tôn tạo di tích, chùa Ngòi cũng nằm trong hệ thống di tích văn hóa cần được bảo vệ cả về vật thể và phi vật thể. Do đó, năm 1996 chùa được tu sửa hoành mái ở Hậu cung và 4 cột trụ chính ở tòa Tam bảo. Đến năm 2001, để hợp với cảnh quan khuân viên di tích dãy nhà Tổ đường và Tam quan được xây dựng lại lần 2, năm 2006 Điện thờ Mẫu cũng được tu sửa lại. Đến nay, chùa Ngòi sở hữu vẻ đẹp khang trang, bề thế, xứng là chốn thiền tôn nghiêm thanh tịnh, là nơi để Phật tử cùng du khách thập phương đến tham quan, chiêm bái. Ngôi chùa tọa lạc trên khuôn viên khá rộng và thoáng với diện tích khoảng 2000m2, nằm hướng ra dòng sông Nhuệ, với nhiều cây xanh, không khí trong lành, yên tĩnh, tạo nên phong cảnh thoáng đãng, êm đềm cho ngôi chùa mà bất cứ ai đã từng đặt chân đến đây đều cảm nhận được điều đó. Chùa Ngòi được thiết kế theo lối kiến trúc điển hình của những ngôi chùa ở miền Bắc. Nhìn một cách tổng thể từ ngoài vào, hệ thống kiến trúc chùa được kết cấu chặt chẽ theo hình chữ U bao gồm nhiều lớp: Cổng tam quan, tòa tam bảo, hậu cung, nhà thờ tổ, thờ mẫu, nhà khách và các công trình kiến trúc được bố cục hài hòa trong một không gian rộng thoáng, những cây xanh tỏa bóng bốn mùa tạo thêm vẻ u tịch tĩnh lặng nơi cửa thiền. Ngay sát mặt đường Ngô Thì Nhậm đi vào là Tam quan chùa, Tam quan cũng chính là gác chuông với kiến trúc hai tầng tám mái với đầu đao cong vút. Tầng trên có lan can bao xung quanh, làm bằng gỗ được chạm trổ rồng, phượng, hoa lá, chim thú…, bên trong treo quả chuông lớn đúc năm 1801. Qua Tam quan là sân rộng được lát gạch đỏ, bên phải, bên Ttrái trước tiền đường là khuôn viên được trồng nhiều cây bóng mát, có ghế đá để cho du khách thập phương nghỉ ngơi khi vãn cảnh chùa. Từ cổng chính đi qua vườn bên phải là khu Lăng tháp Tổ với 5 ngọn tháp thờ các vị Tổ Sư (Tháp này chứa xá lợi của các vị Tổ sư trước đây đã từng ở chùa). Xưa nay, vườn tháp được xem như một công trình kiến trúc góp phần tôn vinh giá trị cho ngôi chùa mang đậm bản sắc văn hóa Việt. Tòa Tam Bảo được tu sửa đầu năm 2008 với tổng diện tích 300m2, gồm 5 gian và 2 dĩ kết nối với hậu cung thành hình chuôi vồ. Bộ khung nhà có kết cấu, kiểu dáng đơn giản được liên kết theo kiểu “giá chiêng, chồng rường”, nhưng toàn bộ khung nhà được làm bằng gỗ lim bền chắc, có nhiều mảng chạm khắc tinh tế. Xung quanh chùa có mái hiên chạy quanh. Chùa được thiết kế theo kiến trúc kiểu mới mà không mất đi vẻ cổ kính, trang nghiêm vốn có. Trên bờ nóc được lát bằng gạch hộp, trổ hoa tranh, bên trong rỗng để trọng lượng mái không bị nặng. Hai bên đầu bờ nóc được đắp hai con rồng đăng đối với nhau. Nhà thờ Mẫu đối diện với tòa Tam bảo và được bài trí rất linh thiêng. Phía trong cùng là dãy nhà tổ, tại đây treo các câu đối và trên bệ thờ là tượng các vị sư từng trụ trì ở chùa. Các tượng Phật trong Hậu cung khá phong phú, nhiều những pho tượng quý hiếm, đáng kể đến nhất đó là bộ Tam thế nhỏ làm bằng một khối đá, hình thức mập mạp mang chất dân gian. Ba pho Tam thế thể hiện ba tư thế khác nhau; một chắp tay trước bụng kết án tam muội (thiền định), một với tay kết ấn vô úy, một để tay lên lòng đùi kiểu vọng thiên địa chứng giám. Bộ tượng A Di Đà trong tư thế thiền định, bằng gỗ, là mực chuẩn của tượng phật đầu thế kỷ XVIII. Tượng mang nhiều nét mềm mại uyển chuyển của tâm hồn Việt Nam, áo cà sa kết vân mây soắn âm dương. Bên trái có tượng Bồ tát mang nghệ thuật thế kỷ XVIII. Pho tượng Di Lặc bồ tát cũng là một tượng hiếm gặp với mắt tròn, bụng phệ, vẻ mặt tươi vui tạo từ thế kỷ XVIII. Ngoài ra, chùa còn bảo lưu bộ sưu tập di vật khá phong phú, trong đó có nhiều di vật có giá trị đặc sắc về nghệ thuật như: Hoành phi, cuốn thư sơn son thiếp vàng, chạm khắc hình tứ quí, tứ linh, bát hương,… cùng với hai tấm bia cổ niên hiệu Vĩnh Thọ (1658 – 1662), Chính Hòa (1680 – 1705) trang trí rồng chầu mặt nguyệt trên trán bia, riềm bên lá hoa cúc dây, nội dung bia có nhiều thông tin về lịch sử xây dựng chùa Ngòi. Chùa Ngòi là một công trình kiến trúc nghệ thuật cần được trân trọng và bảo tồn. Nhằm tôn vinh những giá trị văn hóa cũng như tín ngưỡng sâu sắc mà chùa Ngòi để lại cho đến ngày nay. Di tích chùa Ngòi đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử năm 1989. Theo Tạp chí người Hà Nội https://nguoihanoi.vn/chua-ngoi-ngoi-chua-voi-kien-truc-nghe-thuat-doc-dao-65186.html
Xưa kia, chùa Văn Quán nằm gần bờ sông Nhuệ, nhưng cách đây hơn 100 năm, do những tác động và biến thiên của lịch sử, ngôi chùa chuyển về vị trí như hiện nay. Chùa quay hướng đông bắc, trước toà Tiền đường là Tam quan mang nhiều triết lý nhà Phật. Qua một khoảng sân lát gạch Bát Tràng là tới chùa chính. Toà Tiền đường được xây theo kiểu 2 tầng 4 mái. Phần nối giữa tầng trên và tầng dưới gọi là cổ diêm được chia thành ba để lát gạch hoa trang trí và cũng để thông quang cho di tích. Kết cấu các bộ vì được làm theo kiểu thức “chồng rường” trốn cột, trên 3 hàng chân gỗ. Lối kiến trúc này đã tạo một không gian rộng và thoáng, nghệ thuật điêu khắc không có nhiều, các phần gỗ được bào trơn đóng bén trên chất liệu gỗ tứ thiết. Các hoạ tiết hoa văn chủ yếu là hoa lá cách điệu tập trung ở các kẻ ngoài hiên. Do vậy, các bức hoành phi, câu đối, cửa võng sơn son thếp vàng được trang trí trong nội thất Tiền đường đã đem lại cho ngôi chùa một vẻ lộng lẫy và thâm nghiêm. Bên trái Tiền đường là nơi toạ lạc của tượng Đức Ông, đối diện bên kia là đức Thánh hiền, hai bên hồi là hai hàng Thập điện, đó là tượng Diêm vương, Địa tạng, Thổ địa... Nối từ gian giữa Tiền đường là Thượng điện tạo thành kiểu kiến trúc chữ “đinh” với các bộ vì đơn giản hơn toà Tiền đường. Nhưng tại đây là nơi bài trí hệ thống tượng tròn từ thấp lên cao. Bộ Tam thế gồm 3 pho được tạo tác bằng gỗ, sơn son thếp vàng, mỗi pho cao 85cm ngồi trên toà sen. Lớp thứ 2 là tượng A Di Đà, hai bên là Quan Thế Âm (bên trái) và Đại thế chí (bên phải). Pho A Di Đà được tạo tác bằng gỗ có chiều cao 134cm, với tư thế ngồi trên đài sen, mặt nhìn xuống chúng sinh, tay kết định ấn. Tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí trong tư thế đứng, mỗi pho cao 137cm. Tiếp đến là tượng Thích Ca mâu ni, hai bên có A Nan và Ca Diếp. Tượng Thích Ca tay cầm hoa sen, nên có người gọi là Thế tôn niêm hoa, tượng cao 132cm trong tư thế ngồi xếp bằng trên toà sen, tay trái cầm hạt ngọc đặt trong lòng, tay phải giơ lên cầm đoá hoa sen, các lớp hoá tạc liền vào thân, các đường nét uyển chuyển và mềm mại. Lớp thứ 4 là tượng Diêm vương được cổ nhân tạo theo chân dung hoàng đế, mình mặc áo long cổn, tay cầm hốt, đầu đội mũ miện. Tượng Cửu long Thích Ca sơ sinh được bài trí ở hàng cuối cùng, hai bên có Đế Thích và Phạm vương. Những pho tượng này được tạc bằng gỗ mít, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Hệ thống tượng chùa Văn Quán có bố cục đường nét hài hoà, cân đối. Nhiều pho tượng cao trên 100cm và đều mang phong cách nghệ thuật cuối Lê đầu Nguyễn. Chùa đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1993./. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích tập 02 https://nguoihanoi.vn/chua-van-quan-quan-ha-dong-76967.html
Đình làng Văn Nội, Phú Lương, Hà Đông. Đầu thế kỷ XIX, Văn Nội thuộc tổng Thắng Lãm, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng. Sau các thời kỳ thay đổi địa giới hành chính thì hiện nay Văn Nội thuộc phường Phú Lương, quận Hà Đông. Di tích được gọi theo tên thôn là đình Văn Nội. Theo truyền thuyết, đình Văn Nội có từ lâu đời thờ Đổng Xá đại vương, hay còn gọi là Chu Bá, một vị tướng thời Hai Bà Trưng. Đến thời vua Lê Đại Hành thân chinh đánh giặc, có hành quân qua vùng đất này và dừng chân hành lễ cầu đảo và được thần âm phù đánh giặc. Sau khi thắng giặc trở về, Lê Đại Hành ban thưởng 10 hốt vàng kim để nhân dân nơi đây sửa lại đình để “ức niên hương hoả” và ban mỹ tự “bảo quốc khang dân”. Đến thời Lê, niên hiệu Bảo Thái 2 (1721) đình Văn Nội được xây dựng bằng gỗ và gạch quay hướng tây. Tháng 3 năm 1854, niên hiệu Tự Đức thứ 7, đình được tu sửa như ngày nay. Đình gồm các hạng mục công trình kiến trúc Nghi môn, Tả hữu mạc, Đại bái và Hậu cung có kết cấu theo kiểu chữ “đinh”. Nghi môn làm theo kiểu cột trụ đèn lồng, trên đỉnh là 4 chim phượng, kết đuôi chụm lại thành hoa danh, ô lồng đèn trang trí tứ quý, hai bên cột trụ là tường bao, cổng pháo 2 tầng 8 mái lợp ngói ống, bức tường lửng trang trí chữ thọ. Tả hữu mạc là hai dãy nhà, mỗi dãy 3 gian tường xây hồi bít đốc, các bộ vì chủ yếu bào trơn đóng bén, thiên về độ bền chắc, đảm nhiệm chức năng là nơi củ soát lễ vật trước khi vào dâng thành hoàng. Từ sân đình bước qua 3 bậc là tới Đại bái có kích thước 10m x 20m, chiều cao từ nền lên nóc đình là 5m với hệ thống cột chịu lực gồm 30 cột quân cao 3,15m. 6 bộ vì kèo kết cấu theo kiểu thức “giá chiêng kép” liên kết từ cột cái ra cột quân là một cốn chồng rường chạm nổi tích tứ linh. Hệ thống cửa được làm theo kiểu bức bàn. Cửa võng được chạm thủng trang trí đề tài lưỡng long chầu nguyệt, xung quanh chạm tứ linh, phía dưới cửa võng là hoành phi nền gấm chữ vàng mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Hiện trạng kiến trúc đình Văn Nội mang đậm dấu ấn thời Nguyễn. Ngoài ra đình còn bảo tồn nhiều di vật có giá trị như cuốn thần tích của làng do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) và 30 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến phong tặng đức thành hoàng. Trong thời kỳ tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tại di tích này đã diễn ra mít tinh, biểu tình, thành lập Uỷ ban Cách mạng lâm thời. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đình Văn Nội là nơi sơ tán của Tổng cục Hậu cần và đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm và nói chuyện với chiến sĩ và nhân dân. Đình đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1986./. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích tập 02 https://nguoihanoi.vn/dinh-van-noi-quan-ha-dong-74624.html
Khu di tích đình, miếu Xa La Khu phố Xa La trước đây là một làng cổ. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Xa La thuộc Trung Thanh Oai, tổng Thượng Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hoà. Nay thuộc thành phố Hà Nội. Đình Xa La toạ lạc đầu phía đông của làng. Theo cuốn lịch sử văn hóa làng Xa La thì ngôi đình được dựng từ rất sớm, trên mảnh đất rộng ở đầu phía tây bắc của làng, bên bờ sông Nhuệ, giáp với chùa và miếu ngày nay. Vào đời Nguyễn (vua Thành Thái 1889 - 1907), dân làng chuyển đình đến đầu phía đông của làng như hiện nay. Đại bái đình là một toà nhà ngang, 5 gian rộng, đầu hồi bít đốc, hai mái chảy lợp ngói ri. Trên bờ nóc, ở hai đầu đắp hai con kìm, còn ở giữa đắp hình tượng lưỡng long chầu nguyệt. Nét khác biệt ở hình tượng lưỡng long chầu nguyệt trên nóc đình là hình nguyệt đứng trên một tấm biển đắp hình chữ nhật nằm, có ghi 3 chữ Hán “Linh Lang từ”. Vào trong toà Đại bái, 5 gian rộng, các bộ vì đứng trên 4 hàng chân cột gỗ có những chân đá tảng ở dưới, 6 bộ vì có các kiểu thức khác nhau từng đôi một. Bộ vì 1 và bộ vì 6 (hai bộ vì giáp tường hồi) được làm theo kiểu thức “thượng giá chiêng chồng rường con nhị, hạ chồng rường” trên xà nách, đầu bẩy vươn ra ngoài gánh mái hiên. Đây là hai bộ vì ở ngôi đình cũ còn giữ lại khi dân làng chuyển ngôi đình sang vị trí mới vào thời vua Thành Thái. Hai bộ vì 2 và 5 được làm theo kiểu thức “thượng giá chiêng, chồng rường, hạ kẻ, bẩy” mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, cuối thế kỷ XIX. Bộ vì 3 và 4 (hai bộ vì gian giữa) được làm theo kiểu thức “thượng chồng rường giá chiêng, hạ mê cốn”. Những bức mê cốn này đều được đục chạm trang trí ở cả hai mặt. Mặt trong mỗi mê cốn, nơi hướng vào gian giữa là bức chạm bong kênh theo tích tứ linh, có đủ long, ly, quy, phượng trong đó hình tượng long (rồng) được đặc tả to hơn, chiếm giữ phần lớn bề mặt cốn. Hậu cung đình là một ngôi nhà 3 gian, đầu hồi bít đốc, hai mái chảy lợp ngói ri. Quá giang bắc suốt, đội cột lửng, cột lửng đội kèo cầu. Kết cấu bộ vì đơn giản, thiên về bào trơn đóng bén, chỉ cốt bền vững mà không cần hoa mỹ. Ngôi miếu nằm ở phía tây của làng, ngay bên bờ sông Nhuệ, tiếp giáp với chùa Xa La. Nhìn tổng thể, toà miếu có mặt nền hình chữ “đinh”, gồm toà Đại bái và Hậu cung. Đại bái 3 gian đầu hồi bít đốc, 2 mái chảy lợp ngói ri. Bờ nóc đắp nổi tấm biển chữ nhật nằm ngang có đề ba chữ Hán: Linh Lang từ. Đầu bờ nóc đắp đấu vuông. Vào trong nhà, bộ vì theo kiểu “chồng rường, giá chiêng”. Đại bái không có cửa, thay vào đó là ba cánh giại tre như thể tôn lên vẻ giản dị cổ kính của ngôi miếu. Hậu cung nằm dọc, kết nối với mái sau gian giữa toà Đại bái, có 3 cửa nhỏ, 2 cửa tả hữu dùng làm lối đi, cửa giữa trên tường cao 0,80m dùng làm nơi hành lễ và thông thoáng cho bên trong. Vào bên trong, bộ vì theo kiểu “thượng chồng rường giá chiêng, hạ mê cốn”. Hoa văn trang trí trên các cấu kiện gỗ đơn giản, những nét chạm mây xoắn, lá lật thông thoáng mà đẹp. Bức cốn trong Hậu cung là những hoạ tiết trang trí cách điệu hình chữ thọ. Đình, miếu Xa La là nơi thờ Linh Lang đại vương, tức Hoàng tử Hoằng Chân nhà Lý, người đã có công đánh giặc Tống xâm lược ở thế kỷ XI. Tương truyền, Hoàng tử Hoằng Chân hay ăn, mau lớn, chưa đầy tuổi nghe tin có giặc Trinh Vĩnh ở phía Nam bèn vươn vai lớn bổng, thành một tráng sĩ, cưỡi voi ra trận, chỉ trong chớp mắt đánh tan quân giặc. Đến khi quân xâm lược nhà Tống kéo sang xâm lược nước ta, bị Lý Thường Kiệt chặn lại ở phòng tuyến sông Cầu. Theo kế hoạch của Lý Thường Kiệt, hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn dùng 400 chiến hạm đổ bộ quân sang bờ Bắc, tiến công vào trận tuyến của quân Tống ở quãng sông Kháo Túc (sông Cầu gần núi Nham Biền). Hai hoàng tử thúc quân đánh mạnh nhằm thu hút lực lượng của chúng, tạo điều kiện cho Lý Thường Kiệt bất ngờ vượt sông đánh úp vào doanh trại quân giặc. Quân Tống không kịp trở tay, đại bại. Quân ta thắng lớn. Trong trận chiến đấu quan trọng ấy hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn đều hy sinh anh dũng. Lễ hội truyền thống làng Xa La mở 3 ngày, từ ngày 9 đến ngày 11 tháng giêng âm lịch hàng năm. Đình, miếu Xa La đã được UBND tỉnh Hà Tây xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá năm 2004./. Theo Tạp Chí Người Hà Nội https://nguoihanoi.vn/dinh-mieu-xa-la-quan-ha-dong-74753.html