Hà Nội - Hà Nội

Hà Nội

Hà Nội
Bài viết nổi bật
Bia Bà - Ngôi Đền cầu tài lộc linh thiêng nổi tiếng đất Hà Thành
DI TÍCH - DI SẢN 15/09/2026
Bia Bà - Ngôi Đền cầu tài lộc linh thiêng nổi tiếng đất Hà Thành

Bia Bà thờ ai? Bia Bà nằm trong cụm di tích Đình – Chùa – Bia Bà La Khê, thờ Đức Thánh Bà Trần Thị Hiền (1511 – 1538). Bà là Đệ nhị Cung phi của vua Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh). Bà sinh năm 1511 tại làng La Ninh (nay là La Khê), là con gái của Đô lực sĩ Thiết Sơn bá Trần Chân. Bà nổi tiếng với vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, nết na, thông minh và được vua tin tưởng giao quản lý tài chính trong cung. Bà không chỉ phò vua giúp nước mà còn dành nhiều tâm sức giúp đỡ người nghèo, dạy dân làng nghề dệt the lụa truyền thống. Năm 1538, bà qua đời khi mới 28 tuổi do bị hậu sản lúc sinh vị Hoàng tử đầu lòng và là vị Hoàng tử thứ 5 trong triều, bà xin về quê an dưỡng sau đó mất tại quê nhà. Sau khi bà mất ở tuổi 28, vua Mạc Thái Tông đã thương tiếc lập bia ghi danh công đức. Sự linh thiêng của “Bà Chúa Kho” đất Hà Thành Bia Bà nổi tiếng linh thiêng nhất về việc cầu tài lộc, kinh doanh và tiền bạc. Nhiều tiểu thương và giới kinh doanh ví bà như “Bà Chúa Kho” của Hà Nội. Bởi vậy mà dân gian có câu: “Cầu duyên thì đến chùa Hà/ Cầu tài, cầu lộc thì đi Bia Bà”. Người ta tin rằng vì lúc sinh thời bà là người quản lý tài chính cho nhà vua và luôn rộng lòng cứu giúp chúng sinh về vật chất, nên khi hiển thánh, bà sẽ phù hộ cho những người thành tâm cầu mong sự hanh thông trong làm ăn, tiền tài sung túc. Hàng năm, đặc biệt là dịp đầu xuân năm mới hoặc ngày rằm, mùng một, Đền Bia Bà luôn tấp nập du khách thập phương đến dâng hương “xin lộc” đầu năm và “tạ lễ” cuối năm. Kiến trúc Đền Bia Bà có gì đặc biệt? Đền Bia Bà là một phần của cụm di tích La Khê, mang đậm nét kiến trúc đền chùa cổ của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Quần thể di tích này bao gồm Chùa, Đình và Đền, được quy hoạch hài hòa trong một không gian thanh tịnh với kiến trúc chủ đạo là kiểu chữ Đinh, chữ Công gồm 3 hạng mục chính: Cổng Tam quan: Cổng vào khu di tích được xây dựng bề thế, cổ kính. Chùa La Khê (Diên Khánh tự): Là nơi thờ Phật, du khách thường vào làm lễ ở chùa trước khi sang lễ ở Đền Bia Bà. Đền Bia Bà: Nằm ở bên trái của chùa, gồm tòa Đại bái và Hậu cung. Hậu cung là nơi trang nghiêm nhất, đặt tấm bia đá cổ của Đức Bà trong một khám thờ sơn son thiếp vàng Kinh nghiệm đi lễ Bia Bà Để chuyến hành hương được trọn vẹn và linh ứng, bạn nên lưu ý: Sắm lễ: Lễ vật không cần quá cầu kỳ nhưng phải sạch sẽ và thành tâm. Thường gồm: hương, hoa tươi (cúc, hồng), trầu cau têm cánh phượng, bánh kẹo, quả tươi và sớ cầu tài lộc. Quy trình lễ: Theo trình tự, du khách nên lễ tại đình làng La Khê (thờ các vị Thành hoàng làng), sau đó lễ chùa Diên Khánh rồi mới sang Đền thờ Đức Thánh Bà (nơi đặt Bia Bà) để khấn nguyện tài lộc. Nguyên tắc “Có xin có trả”: Đây là một nét văn hóa tâm linh đặc biệt tại đây. Người dân quan niệm nếu đã đến xin lộc đầu năm và đạt được sở nguyện, thì cuối năm (thường vào tháng Chạp) nhất định phải quay lại để tạ lễ bà. Lưu ý: Tuyệt đối giữ thái độ trang nghiêm, ăn mặc kín đáo và không quay phim, chụp ảnh tại khu vực Hậu cung nơi đặt tấm bia đá linh thiêng. Bài khấn xin lộc cầu tài tại Đền Bia Bà Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần) Con kính lạy Đức Bà Thánh Mẫu Trần Thị Hiền. Tín chủ con là: ……………………, sinh năm: …………………… Ngụ tại: …………………… Hôm nay là ngày …… tháng …… năm ……, tín chủ con thành tâm sắm sửa lễ vật, dâng lên trước án thiêng. Cúi xin Đức Bà chứng giám lòng thành. Con đang có dự định/đang kinh doanh (kể tên công việc, dự án): …………………….. Nay con kính cẩn cúi xin Đức Bà ban cho con chút lộc để làm vốn liếng may mắn, hanh thông cho công việc. Kính xin Đức Bà phù hộ độ trì cho con được đầu óc minh mẫn, gặp được đối tác tốt, khách hàng tin tưởng, mọi sự thuận lợi, vốn liếng sinh sôi, tài lộc dồi dào. Con xin hứa sẽ kinh doanh chân chính, tạo phúc giúp đời. Đến cuối năm, con xin giữ lễ quay về đền tạ ơn đầy đủ. Cẩn cáo! Vị trí và thời điểm đi lễ Địa chỉ: Phường La Khê, quận Hà Đông, Hà Nội (cách trung tâm thành phố khoảng 10-12km). Thời điểm: Đông nhất là vào những ngày Tết Nguyên Đán, rằm tháng Giêng hoặc ngày hội làng La Khê (14-16 tháng Giêng âm lịch). Ngoài ra, những người kinh doanh thường đến đây vào những ngày mùng 1 hàng tháng để cầu may mắn cho công việc của mình. Đến với Bia Bà, du khách không chỉ để cầu xin phú quý mà còn để tìm thấy sự thanh tịnh trong tâm hồn giữa một không gian kiến trúc cổ kính, thâm nghiêm đậm chất làng quê Bắc Bộ.                              Theo Bạch Liên                                                                                                                                   https://bachlien.vn/bia-ba-ngoi-den-cau-tai-loc-linh-thieng-noi-tieng-dat-ha thanh.html                                                                                                                                                                                     

15/09/2026
Cầu Thê Húc – dải lụa giữa lòng Hà Nội
DI TÍCH - DI SẢN 29/09/2026
Cầu Thê Húc – dải lụa giữa lòng Hà Nội

Lịch sử hình thành Năm 1865 dưới triều Tự Đức, Nguyễn Văn Siêu cho xây cầu nối bờ với đền Ngọc Sơn và đặt tên nó là Thê Húc (nghĩa là “giọt ánh sáng đậu lại” hay “Ngưng tụ hào quang”). Cầu gồm 15 nhịp, có 32 chân cột gỗ tròn xếp thành 16 đôi, mặt cầu lát ván, thành sơn màu đỏ sẫm, chữ Thê Húc được thếp vàng. Cầu đã trải qua hai lần tái thiết kể từ khi hoàn tất. Lần thứ nhất là vào năm 1865 triều Thành Thái. Cầu Thê Húc năm 1884 Lần thứ nhì là vào năm 1952 dưới thời thị trưởng Thẩm Hoàng Tín (nhiệm kỳ 2/1950-8/1952) sau khi một nhịp cầu gãy vào đêm Giao thừa năm Nhâm Thìn 1952 vì khách đi lễ đền Ngọc Sơn quá đông.[1] Dưới sự giám sát của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng cầu được xây lại thay vì bằng gỗ thì móng cầu được đúc lại bằng xi măng năm 1953 dưới thời thị trưởng Đỗ Quang Giai (nhiệm kỳ 8/1952-10/1954). Kiến trúc Cầu Thê Húc xưa kia được làm bằng gỗ rất thô sơ và sơn màu đỏ. Năm 1952 thị trưởng Hà Nội lúc đó là Thẩm Hoàng Tín đã cho phá bỏ cầu cũ, xây cầu mới sau vụ cầu sập, sử dụng thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Diệm. Cầu được thiết kế vẫn với dáng cầu vòng nhưng độ cong lớn hơn cầu cũ, vẫn giữ nguyên 16 hàng cọc; các dầm ngang và dọc đúc bằng bê tông. Mặt cầu và thành cầu vẫn là gỗ. Cầu Thê Húc hướng về phía đông, hướng về phía mặt trời mọc để đón được toàn vẹn nguồn dưỡng khí. Với ý nghĩa nên xưa nay cây cầu mang màu đỏ – màu của sự sống, của mọi nguồn hạnh phúc, của ước vọng truyền đời từ thời cổ đại đến nay – cây cầu Thê Húc – biểu tượng của thần mặt trời. Cầu Thê Húc ngày nay Cả một quần thể di tích nằm trong không gian đầy huyền thoại của Hồ Gươm đều mang dấu ấn về tín ngưỡng thờ thần mặt trời. Từ Đài nghiên, Tháp bút cho đến cây cầu Thê Húc… từ việc chọn hướng đến cấu trúc, màu sắc, biểu tượng cho đến sự liên hoàn giữa các di tích đều ẩn chứa yếu tố linh thiêng này. Một góc nhìn khác – góc nhìn của thẩm mỹ dân gian thì cây cầu Thê Húc chỉ có thể có một cách chọn lựa duy nhất là sơn màu đỏ, không thể khác. Với điều này, xin được lược trích ý kiến của ông cháu nhà phê bình mỹ học Vũ Ngọc Anh: “… Đúng là cái cầu này đứng giữa thanh thiên bạch nhật thì lúc nào nó chẳng có ánh nắng rọi vào. Tứ thời bát tiết, trong những khung cảnh riêng nào đấy, hình bóng nó cũng mỗi lúc một khác…” Khánh An https://hoidisanvanhoa.vn/cau-the-huc-dai-lua-giua-long-ha-noi/

29/09/2026
Chào Mừng Đến Với Di Tích Chùa Phổ Am - Thôn Cát Bi - Phú Xuyên - Hà Nội
DI TÍCH - DI SẢN 30/05/2026 Tour 3D
Chào Mừng Đến Với Di Tích Chùa Phổ Am - Thôn Cát Bi - Phú Xuyên - Hà Nội

Thôn Cát Bi, xã Nam Tiến, huyện Phú Xuyên có 2 di tích đã được xếp hạng cấp Quốc gia đó là đình và chùa Cát Bi. Chùa Cát Bi có tên chữ là Phổ Am tự. Chùa Phổ Am thờ Phật theo phái Đại thừa và còn thờ hệ thống tứ pháp trong tín ngưỡng dân gian của người Việt. Chùa được thiết kế theo kiểu “Tiền Thánh hậu Phật”. Chùa có kiến trúc hình chữ nhật, với toàn tiền đường và thượng điện. Tiền đường là nơi thờ tứ pháp, gồm 5 gian, 2 chái, mái chảy lợp ngói ri. Thân mái trang trí rồng quần tụ, mang dấu ấn nghệ thuật thời hậu Lê. Về kiến trúc ngôi chùa, mặt bằng tổng thể hình chữ “nhị” với toà Tiền đường và Thượng điện. Trong khám thờ có đặt 2 pho tượng tròn Pháp Vân và Pháp Vũ, mang dấu ấn thời Nguyễn. Toà Thượng điện thờ Phật, gồm 2 hạng mục là Tam bảo và Thượng điện hậu. Thượng điện có kết cấu kiểu: “Thượng chồng rường, hạ kẻ truyền, bảy hiên”. Trong Thượng điện còn lưu giữ 3 pho Tam thế, pho Di Đà Tam tôn, hàng thứ 3 là Quan Âm chuẩn đề, cuối cùng là pho Thích Ca sơ sinh. Các pho Tam thế, Quan Âm chuẩn đề và bộ Di Đà Tam tôn có niên đại thời Lê, rất quý… Hàng năm vào ngày Phật đản mùng 8 tháng 4 âm lịch, làng Cát Bi lại tổ chức hội chùa, với các nghi lễ: Lễ Phật, lễ tứ pháp; rước kiệu, múa rồng…Ấn tượng nhất của Lễ hội là lễ rước kiệu trên thuyền rồng bơi ra sông Hồng, lấy nước vào choé đưa lên kiệu rước về đình và chùa làm nước thánh. Lễ rước nước thu hút hàng ngàn người dân của địa phương và tỉnh Hưng Yên bên kia sông tham dự.  Chùa Cát Bi đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1993. Trải qua thời gian, ngôi chùa đã bị xuống cấp. Thể theo nguyện vọng của Nhân dân, huyện Phú Xuyên và UBND xã Nam Tiến đã đầu tư tu bổ, tôn tạo ngôi chùa với tổng trị giá 19 tỷ đồng. Ngày 05/1/2025 Lễ khánh thành công trình tu bổ, tôn tạo chùa Phổ Am, làng Cát Bi đã được địa phương long trọng tổ chức.

30/05/2026 Tour 3D
Chào Mừng Đến Với Di Tích Đền Thờ Bà Ả Lanh (Nga My Công Chúa) - Phú Xuyên - Hà Nội
DI TÍCH - DI SẢN 30/05/2026 Tour 3D
Chào Mừng Đến Với Di Tích Đền Thờ Bà Ả Lanh (Nga My Công Chúa) - Phú Xuyên - Hà Nội

Cuốn thần phả lưu giữ tại đền còn ghi rất rõ về hành trạng và công lao của Bà Ả Lanh. Bà là vị nữ tướng đã tham gia trong cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Khi ấy, đất nước ta bị giặc Hán đô hộ, Tô Định là kẻ gian ác và bạo ngược khiến nhân dân lầm than và đau khổ. Là người yêu nước và căm thù giặc, muốn báo thù cho chồng, Bà Trưng đã đứng lên phát động cuộc khởi nghĩa chống giặc Hán vào năm 40. Bà Ả Lãnh, người con gái yêu nước, trung dũng, đã theo bà Trưng và chiến đấu kiên cường trên mảnh đất quê nhà. Sau khi bà hoá, nhân dân thôn Đại Đồng Nam đã tướng nhớ án đức mà suy tôn bà làm thần bảo trợ cho đời sống tinh thần của dân làng. Ngôi đền toạ lạc trên khu đất ven sông, nay gọi là Máng Bảy, cách cầu Guột khoảng 1km. Khuôn viên di tích nằm cách xa nơi dân cư sinh sống với quy mô vừa phải trên mặt bằng kết cấu kiểu chữ “đỉnh” với 2 toà Đại bái và Hậu cung. Đại bái gồm 3 gian 2 chái, hệ mái kiểu 1 lầng 4 mái với đao uốn cong. Các bộ vì trên kết cấu 4 hàng chân cột, liên kết kiểu: “Thượng ván mê, hạ cốn mê, bảy hiên”. Hậu cung nối với gian giữa toà Đại bái thành hình “chuôi về”. Các mảng chạm trang trí kiến trúc tại toà này tương tự như các mảng chạm kiến trúc tại toà Đại bái, các bộ vì toà này kết cấu giống toà Đại bái kiểu: “Thượng ván mê, hạ cốn mê”. Phía trước toà Hậu cung bài trí một bộ cửa võng, hương án chạm hình phượng với kĩ thuật chạm thủng có giá trị về điêu khắc. Đền thờ Bà Ả Lanh đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1992. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích tập 01 https://nguoihanoi.vn/den-tho-ba-a-lanh-68533.html

30/05/2026 Tour 3D
Chào Mừng Đến Với Di Tích Đình Lam Sơn - Phú Xuyên - Hà Nội
DI TÍCH - DI SẢN 01/06/2026 Tour 3D
Chào Mừng Đến Với Di Tích Đình Lam Sơn - Phú Xuyên - Hà Nội
01/06/2026 Tour 3D
Chùa Ngòi - ngôi chùa với kiến trúc nghệ thuật độc đáo
DI TÍCH - DI SẢN 03/10/2026
Chùa Ngòi - ngôi chùa với kiến trúc nghệ thuật độc đáo

Chùa Ngòi, tên hiệu là Phúc Khê. Không biết rõ ngôi chùa do ai đặt tên, chỉ biết rằng nhân dân trong vùng đã quen với cái tên gọi này (Phúc Khê nghĩa là nguồn hạnh phúc, thái bình, thịnh vượng). Theo lời kể của trụ trì và các tài liệu còn ghi lại, chùa Ngòi vốn có từ lâu đời, chùa được hội Linh Cảm – hội của Nhiếp Chính Ỷ Lan đời Lý xây dựng vào khoảng trước thế kỷ 17. Trải qua bao thăng trầm, biến cố của thời gian, cùng với chiến tranh tàn phá chùa trước đây gần như bị phá hủy toàn bộ, năm Bính Tý (1636) Hưng Công làm mới lại hai tòa Thiêu hương, Tiền đường. Đến năm Kỷ Mão (1639) làm lại tòa Hậu đường, vật liệu xây dựng toàn làm bằng gỗ tốt. Năm 1989 xây dựng Tam quan. Năm 1990, khu nhà Tổ đường được khởi công xây dựng và đến năm 1992 xây dựng Điện thờ Mẫu và tổng thể chùa đã được phục dựng lại như cũ. Đặc biệt, từ khi có chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, cùng với Chương trình Mục tiêu quốc gia chống xuống cấp và tôn tạo di tích, chùa Ngòi cũng nằm trong hệ thống di tích văn hóa cần được bảo vệ cả về vật thể và phi vật thể. Do đó, năm 1996 chùa được tu sửa hoành mái ở Hậu cung và 4 cột trụ chính ở tòa Tam bảo. Đến năm 2001, để hợp với cảnh quan khuân viên di tích dãy nhà Tổ đường và Tam quan được xây dựng lại lần 2, năm 2006 Điện thờ Mẫu cũng được tu sửa lại. Đến nay, chùa Ngòi sở hữu vẻ đẹp khang trang, bề thế, xứng là chốn thiền tôn nghiêm thanh tịnh, là nơi để Phật tử cùng du khách thập phương đến tham quan, chiêm bái. Ngôi chùa tọa lạc trên khuôn viên khá rộng và thoáng với diện tích khoảng 2000m2, nằm hướng ra dòng sông Nhuệ, với nhiều cây xanh, không khí trong lành, yên tĩnh, tạo nên phong cảnh thoáng đãng, êm đềm cho ngôi chùa mà bất cứ ai đã từng đặt chân đến đây đều cảm nhận được điều đó. Chùa Ngòi được thiết kế theo lối kiến trúc điển hình của những ngôi chùa ở miền Bắc. Nhìn một cách tổng thể từ ngoài vào, hệ thống kiến trúc chùa được kết cấu chặt chẽ theo hình chữ U bao gồm nhiều lớp: Cổng tam quan, tòa tam bảo, hậu cung, nhà thờ tổ, thờ mẫu, nhà khách và các công trình kiến trúc được bố cục hài hòa trong một không gian rộng thoáng, những cây xanh tỏa bóng bốn mùa tạo thêm vẻ u tịch tĩnh lặng nơi cửa thiền. Ngay sát mặt đường Ngô Thì Nhậm đi vào là Tam quan chùa, Tam quan cũng chính là gác chuông với kiến trúc hai tầng tám mái với đầu đao cong vút. Tầng trên có lan can bao xung quanh, làm bằng gỗ được chạm trổ rồng, phượng, hoa lá, chim thú…, bên trong treo quả chuông lớn đúc năm 1801. Qua Tam quan là sân rộng được lát gạch đỏ, bên phải, bên Ttrái trước tiền đường là khuôn viên được trồng nhiều cây bóng mát, có ghế đá để cho du khách thập phương nghỉ ngơi khi vãn cảnh chùa. Từ cổng chính đi qua vườn bên phải là khu Lăng tháp Tổ với 5 ngọn tháp thờ các vị Tổ Sư (Tháp này chứa xá lợi của các vị Tổ sư trước đây đã từng ở chùa). Xưa nay, vườn tháp được xem như một công trình kiến trúc góp phần tôn vinh giá trị cho ngôi chùa mang đậm bản sắc văn hóa Việt. Tòa Tam Bảo được tu sửa đầu năm 2008 với tổng diện tích 300m2, gồm 5 gian và 2 dĩ kết nối với hậu cung thành hình chuôi vồ. Bộ khung nhà có kết cấu, kiểu dáng đơn giản được liên kết theo kiểu “giá chiêng, chồng rường”, nhưng toàn bộ khung nhà được làm bằng gỗ lim bền chắc, có nhiều mảng chạm khắc tinh tế. Xung quanh chùa có mái hiên chạy quanh. Chùa được thiết kế theo kiến trúc kiểu mới mà không mất đi vẻ cổ kính, trang nghiêm vốn có. Trên bờ nóc được lát bằng gạch hộp, trổ hoa tranh, bên trong rỗng để trọng lượng mái không bị nặng. Hai bên đầu bờ nóc được đắp hai con rồng đăng đối với nhau. Nhà thờ Mẫu đối diện với tòa Tam bảo và được bài trí rất linh thiêng. Phía trong cùng là dãy nhà tổ, tại đây treo các câu đối và trên bệ thờ là tượng các vị sư từng trụ trì ở chùa. Các tượng Phật trong Hậu cung khá phong phú, nhiều những pho tượng quý hiếm, đáng kể đến nhất đó là bộ Tam thế nhỏ làm bằng một khối đá, hình thức mập mạp mang chất dân gian. Ba pho Tam thế thể hiện ba tư thế khác nhau; một chắp tay trước bụng kết án tam muội (thiền định), một với tay kết ấn vô úy, một để tay lên lòng đùi kiểu vọng thiên địa chứng giám. Bộ tượng A Di Đà trong tư thế thiền định, bằng gỗ, là mực chuẩn của tượng phật đầu thế kỷ XVIII. Tượng mang nhiều nét mềm mại uyển chuyển của tâm hồn Việt Nam, áo cà sa kết vân mây soắn âm dương. Bên trái có tượng Bồ tát mang nghệ thuật thế kỷ XVIII. Pho tượng Di Lặc bồ tát cũng là một tượng hiếm gặp với mắt tròn, bụng phệ, vẻ mặt tươi vui tạo từ thế kỷ XVIII. Ngoài ra, chùa còn bảo lưu bộ sưu tập di vật khá phong phú, trong đó có nhiều di vật có giá trị đặc sắc về nghệ thuật như: Hoành phi, cuốn thư sơn son thiếp vàng, chạm khắc hình tứ quí, tứ linh, bát hương,… cùng với hai tấm bia cổ niên hiệu Vĩnh Thọ (1658 – 1662), Chính Hòa (1680 – 1705) trang trí rồng chầu mặt nguyệt trên trán bia, riềm bên lá hoa cúc dây, nội dung bia có nhiều thông tin về lịch sử xây dựng chùa Ngòi. Chùa Ngòi là một công trình kiến trúc nghệ thuật cần được trân trọng và bảo tồn. Nhằm tôn vinh những giá trị văn hóa cũng như tín ngưỡng sâu sắc mà chùa Ngòi để lại cho đến ngày nay. Di tích chùa Ngòi đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử năm 1989. Theo Tạp chí người Hà Nội https://nguoihanoi.vn/chua-ngoi-ngoi-chua-voi-kien-truc-nghe-thuat-doc-dao-65186.html  

03/10/2026
Chùa Trấn Quốc - Địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng ở Hà Nội
DI TÍCH - DI SẢN 23/01/2026
Chùa Trấn Quốc - Địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng ở Hà Nội

Chùa Trấn Quốc soi bóng lung linh giữa Hồ Tây Hà Nội (Ảnh: Sưu tầm) Thủ đô Hà Nội vẫn nổi danh là vùng đất với bề dày văn hoá, lịch sử cùng vô vàn danh lam thắng cảnh nổi tiếng và các công trình đền chùa, miếu mạo linh thiêng. Khi đến du lịch Hà Nội, du khách hãy dành chút thời gian ghé thăm chùa Trấn Quốc - ngôi chùa với tuổi đời 1500 năm mang nét đẹp kiến trúc lẫn giá trị lịch sử, tâm linh lâu đời.  1. Chùa Trấn Quốc thờ ai?  Nếu bạn đang có kế hoạch du lịch tâm linh ghé thăm các ngôi chùa Hà Nội thì không thể không tham quan chùa Trấn Quốc. Từng là trung tâm Phật giáo của Thăng Long thời Lý - Trần, chùa Trấn Quốc Hồ Tây hiện nay đã trở thành điểm đến tâm linh hấp dẫn, thu hút đông đảo du khách tới vãn cảnh, lễ bái hàng năm.  Chùa Trấn Quốc theo hệ phái Bắc Tông. Bên trong điện chùa thờ Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật Bà Quan Âm. Chùa cũng có ban thờ Quan Bình, Quan Vũ, Chu Thương, Đức Ông và các thị giả.  Lối cổng vào chùa Trấn Quốc (Ảnh: Sưu tầm) 2. Lịch sử chùa Trấn Quốc Theo sử sách, các tài liệu ghi lại, Trấn Quốc tự được xây dựng năm 541 thời Tiền Lý và có tên gọi ban đầu là chùa Khai Quốc. Thuở ban đầu, chùa nằm tại bãi đất làng Yên Hoà là làng Yên Phụ ngày nay.  Đến năm 1440, vua Lê Thái Tông đã đổi tên chùa thành chùa An Quốc với mong muốn đất nước được bình an, lâu bền. Năm 1615, dưới triều vua Lê Kính Tông, chùa được dời sang khu vực đê Yên Phụ, xây dựng trên nền cũ là điện Hàn Nguyên của nhà Trần và cung Thuý Hoa của nhà Lý. Năm 1639, chúa Trịnh đã cho xây dựng hành lang hai bên tả hữu và tu sửa lại cổng tam quan. Đến thời vua Lê Hy Tông, chùa được đổi tên một lần nữa thành chùa Trấn Quốc. Chùa được đúc chuông, đắp thêm tượng và tôn tạo lại vô cùng hoành tráng vào đầu đời nhà Nguyễn. Năm 1821, vua Minh Mạng đã ngự giá tới tham quan chùa và ban 20 lạng bạc để mở rộng và trùng tu chùa. Tới năm 1842, vua Thiệu Trị ban 200 quan tiền và 1 đồng vàng lớn đồng thời cũng đổi tên chùa thành chùa Trấn Bắc. Nhưng dân chúng từ xưa vẫn quen gọi chùa với cái tên Trấn Quốc, nhờ vậy mà cái tên này vẫn được giữ mãi đến ngày nay. Trải qua bao thăng trầm, chùa Trấn Quốc tiếp tục được đời sau bảo tồn, gìn giữ và tôn tạo để xây dựng vẻ đẹp trang nghiêm cho ngôi chùa này. Tên gọi chính thức của chùa Trấn Quốc là chùa Trấn Bắc, tuy nhiên dân chúng vẫn quen với tên gọi trước kia hơn (Ảnh: Sưu tầm) 3. Giá trị và ý nghĩa của chùa Trấn Quốc Theo lịch sử ghi chép lại, dưới thời Pháp thuộc, Viện Viễn Đông Bác cổ đã có những nghiên cứu sâu sắc và đánh giá cao ngôi chùa cổ kính này. Đặc biệt, chùa Trấn Quốc còn được xếp hàng vào một trong 10 công trình lịch sử toàn cõi Đông Dương. Trải qua nhiều biến động của lịch sử, ngôi chùa vẫn được bảo vệ, tôn tạo, giữ gìn nét đẹp kiến trúc, văn hóa. Năm 1962, chùa Trấn Quốc được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia. Đối với Phật giáo Việt Nam, chùa Trấn Quốc thực sự là một niềm tự hào, là di sản quý giá sở hữu nét đẹp về kiến trúc, lịch sử và văn hóa. Đến nay, công trình này vẫn là một trong những chốn cửa Phật linh thiêng, điểm đến tâm linh nổi tiếng của Hà Nội, thu hút đông đảo khách du lịch và các tăng ni, Phật tử đến hành lễ.  4. Chùa Trấn Quốc ở đâu? Cách di chuyển Nằm trên hòn đảo phía Đông Hồ Tây, chùa Trấn Quốc là ngôi cổ tự linh thiêng bậc nhất Hà Nội có tuổi đời lên đến 1500 năm. Trấn Quốc Tự tọa lạc tại số 46 đường Thanh Niên, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội (nay là số 46 đường Thanh Niên, phường Tây Hồ, Hà Nội).  Chỉ cách trung tâm thành phố khoảng 4km, bạn có thể dễ dàng di chuyển đến Chùa Trấn Quốc bằng các phương tiện cá nhân như xe máy, ô tô hoặc các phương tiện công cộng như taxi, grab, xe bus. Nếu di chuyển bằng xe bus, bạn có thể lựa chọn xe tuyến số 33 và tuyến số 50 đều có điểm dừng rất gần chùa.  Chùa Trấn Quốc tọa lạc tại số 46 đường Thanh Niên, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội (Ảnh: Sưu tầm) 5. Giờ mở cửa và giá vé vào chùa Trấn Quốc  Chùa Trấn Quốc mở cửa đón du khách tới tham quan, chiêm bái từ 8h - 16h hàng ngày. Riêng ngày mùng 1 và ngày Rằm hàng tháng, chùa mở cửa từ 6h - 18h và Giao thừa Tết Nguyên đán chùa mở cửa cả đêm.  Chùa Trấn Quốc không thu vé tham quan đối với cả người dân Thủ đô và khách du lịch. Vì vậy, bạn có thể tự do tham quan, ngắm cảnh, lễ bái tại chùa.  6. Chiêm bái chùa Trấn Quốc có gì? 6.1. Khám phá kiến trúc chùa Trấn Quốc Hình ảnh chùa Trấn Quốc hiện lên thể hiện rõ các nét hoạ tiết phương Đông cùng cảnh quan thiên nhiên được sắp xếp dựa theo nguyên tắc và trình tự khắt khe của Phật giáo. Trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, chùa Trấn Quốc hiện nay có tổng diện tích khoảng hơn 3000m2 gồm 3 nếp nhà chính: Thiêu hương, Thượng điện và Tiền đường nối với nhau thành hình chữ Công.  Khung cảnh bình dị, trang nghiêm bên trong chùa Trấn Quốc (Ảnh: Sưu tầm) Nhà Tiền đường xây theo hướng Tây nằm giữa khuôn viên chùa. Hai bên là Thiêu hương và Thượng điện có hai dãy hành lang nối dài. Đằng sau là ngôi nhà ba gian có mái chồng diêm, sau đó là gác chuông nằm trên trục sảnh đường chính. Bên trái là nhà bia lưu giữ 14 tấm bia mang nhiều giá trị văn hoá, lịch sử và bên phải là nhà tổ. Thế kỷ 18 dưới thời vua Lê Ý Tông, ở phía sau chùa Trấn Quốc được xây thêm rất nhiều tháp.  Đến năm 1998, Viện chủ Tổ đình chùa Trấn Quốc là Hòa thượng Kim Cương Tử đã cho xây dựng Bảo Tháp Lục Độ Đài Sen nổi bật giữa vườn tháp cổ. Bảo tháp được đặt đối xứng với cây bồ đề - quà tặng của Tổng thống Ấn Độ Rajendra Prasad trao tặng vào năm 1959 khi ông có chuyến thăm Thủ đô. Với những giá trị lịch sử đồ sộ và nét kiến trúc độc đáo này, năm 1989, chùa Trấn Quốc vinh dự được công nhận là Di tích Lịch sử Văn hoá cấp quốc gia. Phía sau chùa Trấn Quốc được xây rất nhiều bảo tháp (Ảnh: Sưu tầm)  6.2. Dâng hương lễ Phật cầu bình an Chùa Trấn Quốc là chốn linh thiêng để mọi người cầu may mắn, bình an. Đi lễ chùa Trấn Quốc từ lâu đã trở thành thói quen của người dân Hà Nội mỗi dịp Tết đến xuân về hay mỗi ngày mùng 1, ngày Rằm hàng tháng. Dù đi tham quan hay đi lễ chùa vào dịp nào thì bạn cũng cần sắm hương, sắm lễ và chuẩn bị văn khấn kĩ lưỡng, bài bản trước các ban thờ trong chùa để thể hiện tấm lòng thành kính. Một số bài văn khấn phổ biến tại chùa bạn có thể tham khảo: văn khấn cầu an, văn khấn Đức Ông, văn khấn ban Tam Bảo… Chùa Trấn Quốc thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước ghé thăm (Ảnh: Sưu tầm) 6.3. Chiêm ngưỡng cây bồ đề chùa Trấn Quốc  Mỗi khi nhắc đến chùa Trấn Quốc, chắc chắn mọi người sẽ nghĩ ngay đến cây bồ đề lớn được chiết từ cây Đại bồ đề Đạo Tràng. Đây là nơi đức Phật Thích Ca đã ngồi hành đạo từ cách đây 25 thế kỷ. Cây bồ đề chùa Trấn Quốc còn mang rất nhiều ý nghĩa tâm linh. Đó là biểu tượng của tấm lòng nhân ái, vị tha đối với con người và là biểu trưng cho trí tuệ của Đức Phật. Mỗi năm có rất nhiều du khách tới chùa Trấn Quốc để lễ bái, hành hương khấn Phật trước cây bồ đề này.  Chiêm ngưỡng cây bồ đề nổi tiếng tại chùa Trấn Quốc (Ảnh: Sưu tầm)  Trải qua gần 60 năm từ ngày ông Prasat trao tặng, cây bồ đề được các vị sư trụ trì trong chùa chăm sóc vô cùng cẩn thận, kỹ lưỡng để có thể tươi tốt như ngày hôm nay. Bóng mát của cây bồ đề khiến khung cảnh chùa trở nên thơ mộng, yên bình và không khí cũng vô cùng trong lành, mát mẻ. 6.4. Ngắm nhìn nét đẹp độc đáo của các pho tượng Phật và Bồ Tát Du khách có thể ngắm nhìn nét đẹp độc đáo của các pho tượng Phật và Bồ Tát tại Bảo Tháp chùa Trấn Quốc hay nhà Tiền đường. Tòa Bảo Tháp cao 11 tầng có diện tích khoảng 10.5m2. Tòa Bảo Tháp bên trong có tượng Phật A Di Đà được làm từ đá quý. Bên trong tháp còn có khoảng 66 pho tượng khác. Trên cùng tòa tháp là toà sen 9 tầng tựa như bông hoa sen đang nở rộ toả ngát hương thơm được làm bằng đá quý sáng lung linh. Bảo Tháp tại chùa Trấn Quốc (Ảnh: Sưu tầm) Sau khi tham quan tòa Bảo Tháp, du khách có thể di chuyển đến khấn Phật, hành hương tại nhà Tiền đường. Tại đây thờ rất nhiều quan công và các pho tượng đẹp. Nổi bật nhất là tượng Phật Thích Ca Nhập Niết được sơn son thếp vàng. Các pho tượng Phật khác được đúc bằng đồng sáng lấp lánh. 7. Du lịch chùa Trấn Quốc cần lưu ý gì? Trấn Quốc Tự là ngôi chùa cổ đẹp và linh thiêng bậc nhất Thủ đô. Chính vì vậy, chùa lúc nào cũng tấp nập du khách và các Phật tử đến tham quan, chiêm bái. Ngày mùng 1 và ngày 15 Âm lịch hàng tháng là thời điểm khách đến chùa cực kỳ đông. Bên cạnh đó, dịp Tết Nguyên đán cũng là thời điểm mọi người tề tựu về chùa lễ bái cầu may đầu năm. Du khách có thể ghé tham quan chùa bất kỳ thời điểm nào. Tuy nhiên, để cảm nhận hết vẻ đẹp yên bình cũng như để tìm kiếm sự an yên, tĩnh lặng nơi cửa Phật, bạn nên đến chùa vào ngày thường. Nên đến thăm chùa Trấn Quốc vào ngày thường để cảm nhận sự bình yên, lắng đọng ở nơi đây (Ảnh: Sưu tầm)  Chùa là chốn linh thiêng, vì vậy bạn cần lựa chọn trang phục lịch sự, nhã nhặn, không mặc đồ phản cảm hoặc hở hang. Giữ im lặng, tránh gây ồn ào hoặc có thái độ khiếm nhã, đảm bảo sự tôn nghiêm khi đến chùa.  Theo VinPearl https://vinpearl.com/vi/chua-tran-quoc-ha-noi

23/01/2026
Chùa Văn Quán (Linh Quang Tự)
DI TÍCH - DI SẢN 03/10/2026
Chùa Văn Quán (Linh Quang Tự)

Xưa kia, chùa Văn Quán nằm gần bờ sông Nhuệ, nhưng cách đây hơn 100 năm, do những tác động và biến thiên của lịch sử, ngôi chùa chuyển về vị trí như hiện nay. Chùa quay hướng đông bắc, trước toà Tiền đường là Tam quan mang nhiều triết lý nhà Phật. Qua một khoảng sân lát gạch Bát Tràng là tới chùa chính. Toà Tiền đường được xây theo kiểu 2 tầng 4 mái. Phần nối giữa tầng trên và tầng dưới gọi là cổ diêm được chia thành ba để lát gạch hoa trang trí và cũng để thông quang cho di tích. Kết cấu các bộ vì được làm theo kiểu thức “chồng rường” trốn cột, trên 3 hàng chân gỗ. Lối kiến trúc này đã tạo một không gian rộng và thoáng, nghệ thuật điêu khắc không có nhiều, các phần gỗ được bào trơn đóng bén trên chất liệu gỗ tứ thiết. Các hoạ tiết hoa văn chủ yếu là hoa lá cách điệu tập trung ở các kẻ ngoài hiên. Do vậy, các bức hoành phi, câu đối, cửa võng sơn son thếp vàng được trang trí trong nội thất Tiền đường đã đem lại cho ngôi chùa một vẻ lộng lẫy và thâm nghiêm. Bên trái Tiền đường là nơi toạ lạc của tượng Đức Ông, đối diện bên kia là đức Thánh hiền, hai bên hồi là hai hàng Thập điện, đó là tượng Diêm vương, Địa tạng, Thổ địa... Nối từ gian giữa Tiền đường là Thượng điện tạo thành kiểu kiến trúc chữ “đinh” với các bộ vì đơn giản hơn toà Tiền đường. Nhưng tại đây là nơi bài trí hệ thống tượng tròn từ thấp lên cao. Bộ Tam thế gồm 3 pho được tạo tác bằng gỗ, sơn son thếp vàng, mỗi pho cao 85cm ngồi trên toà sen. Lớp thứ 2 là tượng A Di Đà, hai bên là Quan Thế Âm (bên trái) và Đại thế chí (bên phải). Pho A Di Đà được tạo tác bằng gỗ có chiều cao 134cm, với tư thế ngồi trên đài sen, mặt nhìn xuống chúng sinh, tay kết định ấn. Tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí trong tư thế đứng, mỗi pho cao 137cm. Tiếp đến là tượng Thích Ca mâu ni, hai bên có A Nan và Ca Diếp. Tượng Thích Ca tay cầm hoa sen, nên có người gọi là Thế tôn niêm hoa, tượng cao 132cm trong tư thế ngồi xếp bằng trên toà sen, tay trái cầm hạt ngọc đặt trong lòng, tay phải giơ lên cầm đoá hoa sen, các lớp hoá tạc liền vào thân, các đường nét uyển chuyển và mềm mại. Lớp thứ 4 là tượng Diêm vương được cổ nhân tạo theo chân dung hoàng đế, mình mặc áo long cổn, tay cầm hốt, đầu đội mũ miện. Tượng Cửu long Thích Ca sơ sinh được bài trí ở hàng cuối cùng, hai bên có Đế Thích và Phạm vương. Những pho tượng này được tạc bằng gỗ mít, sơn son thếp vàng lộng lẫy. Hệ thống tượng chùa Văn Quán có bố cục đường nét hài hoà, cân đối. Nhiều pho tượng cao trên 100cm và đều mang phong cách nghệ thuật cuối Lê đầu Nguyễn. Chùa đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1993./. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích tập 02 https://nguoihanoi.vn/chua-van-quan-quan-ha-dong-76967.html

03/10/2026
Cụm di tích quốc gia đặc biệt Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn – Di tích đền Bà Kiệu
DI TÍCH - DI SẢN 30/09/2026
Cụm di tích quốc gia đặc biệt Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn – Di tích đền Bà Kiệu

Hồ Hoàn Kiếm: ở giữa lòng thành phố, có diện tích khoảng 12ha, được bao quanh bởi các đường phố Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ, Hàng Khay dài khoảng 1.800m. Mặt nước là tấm gương lớn soi bóng la đà những cây cổ thụ, những rặng liễu thướt tha bóng rủ, những mái đền, chùa cổ kính, tháp cũ rêu phong, các toà nhà mới cao tầng vươn lên trời xanh. Hồ là dấu tích của một khúc sông Nhị Hà; từng có tên gọi là Hồ Lục Thủy vì nước có màu xanh quanh năm. Hồ Hoàn Kiếm có nghĩa là hồ trả gươm, dân gian gọi tắt là Hồ Gươm. Tên gọi đó xuất hiện từ một truyền thuyết thời vua Lê Thái Tổ, thế kỷ XV. Tương truyền rằng, nhà vua trước đây đã được trời ban cho thanh gươm báu để giúp đánh thắng giặc Minh giải phóng non sông đất nước. Một năm sau khi đuổi giặc Minh, một hôm vua Lê Lợi cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng, Long Quân sai rùa vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi chiếc thuyền rồng tiến ra giữa hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi mặt nước. Rùa vàng nhô đầu lên cao, tiến về phía thuyền vua và nói: “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!”. Vua rút gươm quẳng về phía rùa vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước. Từ đó hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm. Tháp Rùa: là một công trình kiến trúc được coi là dấu ấn đặc trưng của hồ Gươm. Tháp có tên chữ là: Quy Sơn tháp, tức là Tháp Núi Rùa (vì là đảo đất tự nhiên, vào ngày hè rùa thường lên đây phơi nắng và đẻ trứng). Xưa kia, từ thời vua Lê Thánh Tông đã dựng Điếu Đài ở đó để nhà vua ra câu cá. Sang thời Lê Trung Hưng (khoảng thế kỷ 17-18), chúa Trịnh cho xây đình Tả Vọng trên gò nhưng sang thời Nguyễn thì không còn dấu tích. Tháp Rùa được khởi công xây dựng vào khoảng năm 1884-1886. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Tháp Rùa đã trở thành hình ảnh quen thuộc đối với mỗi người dân Hà Nội và du khách thập phương. Ngôi tháp được xây dựng trên một gò đất rộng khoảng 350m2, theo hình vuông có 3 tầng, tầng dưới xây rộng hơn, rồi thu nhỏ dần lên tầng trên, là sự kết hợp phong cách kiến trúc châu Âu với hàng cửa cuốn gô-tích hai tầng dưới nhưng phần mái cong giữ quy thức kiến trúc Việt Nam. Đền Ngọc Sơn Đền Ngọc Sơn toạ lạc trên đảo Ngọc trong Hồ Hoàn Kiếm. Đền Ngọc Sơn là di tích văn hoá tín ngưỡng tôn giáo, nơi thờ Thánh Trần Hưng Đạo và Quan Vũ Đế cùng hai vị võ tướng được xếp vào hàng “Thánh” và cũng là nơi chứng kiến những buổi tập thuỷ chiến của quân đội Đại Việt. Năm 1864, nhà nho yêu nước là Nguyễn Văn Siêu đã đứng ra tu sửa lại toàn cảnh. Trong đền, ông đề cao việc thờ thần Văn Xương, vị sao chủ trông nom khoa cử theo tín ngưỡng Đạo giáo. Ông cho xây kè đá ở chân đảo, dựng đình Trấn Ba ngay trước đền và trông thẳng ra đảo Rùa. Kiến trúc hiện nay của đền Ngọc Sơn về cơ bản vẫn giữ được quy mô, kiểu dáng từ thời Nguyễn Văn Siêu tu sửa. Từ ngoài vào, các công trình kiến trúc gồm: Nghi Môn ngoại, Tháp Bút, Nghi Môn nội, Đài Nghiên, cầu Thê Húc, cổng Đắc Nguyệt, đình Trấn Ba, nhà Tiền Tế, Trung đường, Hậu cung, Tả hữu vu, nhà Kính thư, nhà Hậu (phòng Rùa). Cầu Thê Húc: Dẫn vào đền Ngọc Sơn có hệ thống cổng và một cây cầu có tên là “Thê Húc” nối đảo Ngọc với bờ Đông của Hồ Hoàn Kiếm. Thê Húc nghĩa là “Nơi đậu ánh nắng ban mai”, tên cầu đã gợi lên bao điều thơ mộng. Nguồn: Sở Du lịch Hà Nội https://banqldtdthanoi.vn/di-tich-do-ban-quan-ly-truc-tiep/cum-di-tich-quoc-gia-dac-biet-ho-hoan-kiem-va-den-ngoc-son-di-tich-den-ba-kieu/

30/09/2026
Di tích Nhà tù Hỏa Lò - Đổi mới, sáng tạo để hấp dẫn du khách
DI TÍCH - DI SẢN 29/01/2026
Di tích Nhà tù Hỏa Lò - Đổi mới, sáng tạo để hấp dẫn du khách

Cổng vào Di tích Hỏa Lò. Ảnh: VGP/Minh Anh Với khuôn viên rộng hơn 2.000m2 còn giữ lại, cùng với những khối kiến trúc, di vật, hiện vật gốc, Đài Tưởng niệm và hệ thống trưng bày thường xuyên tại Di tích lịch sử Nhà tù Hỏa Lò đã giới thiệu tới công chúng về lịch sử Nhà tù Hỏa Lò từ khi bắt đầu được thực dân Pháp xây dựng (năm 1896) cho đến khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (tháng 10/1954); thời kỳ thực dân Pháp sử dụng Nhà tù Hỏa Lò để giam giữ các chiến sĩ yêu nước, cách mạng Việt Nam và giai đoạn 1964 - 1973, khi Chính phủ Việt Nam tạm sử dụng một phần nhà tù Hỏa Lò để giam giữ tù binh phi công Mỹ. Thời gian qua, Ban Quản lý di tích Nhà tù Hỏa Lò luôn quan tâm nâng cấp trải nghiệm tham quan của du khách tại hệ thống trưng bày thường xuyên bằng việc xây dựng những bài thuyết minh trưng bày phù hợp với từng lứa tuổi; nội dung lịch sử được truyền tải đến du khách qua lời dẫn chuyện của thuyết minh viên, kết hợp với âm thanh sống động, phù hợp. Du khách Ấn Độ tham quan Di tích Hỏa Lò. Ảnh: VGP/Minh Anh Để tạo điểm nhấn, đơn vị cũng tích cực tìm tòi, đổi mới hình thức thể hiện, tăng cường trải nghiệm thực tế không gian trưng bày chuyên đề với nội dung, đề tài phong phú gắn liền với các sự kiện lịch sử hay các ngày lễ trọng đại của đất nước; xây dựng các hoạt động trải nghiệm thực tế và biểu diễn các hoạt cảnh tái hiện lại sự kiện lịch sử liên quan đến nội dung trưng bày…. nhằm giúp công chúng có cái nhìn chi tiết trong từng giai đoạn lịch sử đấu tranh cách mạng của đất nước. Mỗi không gian, chủ đề trưng bày cùng nhiều hiện vật, tài liệu minh chứng tại Nhà tù Hoả Lò thực sự cuốn hút du khách, giúp du khách trong và ngoài nước hiểu rõ hơn về lòng yêu nước, sự dũng cảm, ý chí kiên cường của những chiến sĩ cách mạng Việt Nam trong lao tù thực dân, đế quốc. Ban Quản lý di tích Nhà tù Hoả Lò đã triển khai hệ thống thuyết minh tự động để phục vụ du khách. Với thiết bị này, du khách có thể tự trải nghiệm 35 câu chuyện lịch sử qua chính lời kể của những người tù chính trị về cuộc sống khó khăn trong chốn lao tù… Du khách cũng có thể tham quan di tích Nhà tù Hỏa Lò trên hai nền tảng Spotify và Apple Podcasts. Tại đây, 3 chương trình trưng bày trực tuyến mang tên "Thắp lửa yêu thương", "Sắt – Son", "Lời thề quyết tử" được truyền tải qua giọng đọc cảm xúc khiến khán, thính giả dễ dàng tiếp cận câu chuyện lịch sử hơn. Tận dụng sức hút, tầm ảnh hưởng của mạng xã hội Facebook, đội ngũ truyền thông của di tích Nhà tù Hỏa Lò đã xây dựng trang Facebook "Di tích Nhà tù Hỏa Lò – Hoa Lo Prison Relic" với những bài viết hấp dẫn vừa đảm bảo tính lịch sử, vừa gần gũi, đại chúng, mỗi bài viết trên trang Facebook đều thu hút lượng lớn người thích và bình luận. Trải nghiệm lịch sử khi thăm Di tích Hỏa Lò. Ảnh: VGP Cùng với đó, Ban Quản lý di tích Nhà tù Hỏa Lò cũng xây dựng thêm nhiều chương trình tham quan với nội dung hấp dẫn. Đến nay, di tích Nhà tù Hỏa Lò đã tổ chức được 3 tour Đêm thiêng liêng: Đêm thiêng liêng 1 – Sáng ngời tinh thần Việt, tái hiện những câu chuyện tiêu biểu về cuộc sống lao ngục tối tăm, khắc nghiệt, bị tra tấn, đàn áp dã man trong "địa ngũ trần gian". Đó là những câu chuyện về tình yêu đôi lứa, tình mẫu tử thiêng liêng hay tình đồng chí gắn bó, keo sơn. Đêm thiêng liêng 2 – Sống như những đóa hoa, là lời tri ân đối với công lao, đóng góp và sự hi sinh to lớn của các nữ chiến sĩ yêu nước, cách mạng bị bắt giam tại Nhà tù Hỏa Lò (giai đoạn 1930 – 1954). Qua những câu chuyện, hình ảnh các bà, các mẹ, các chị hiện lên như những đóa hoa kiên cường trong bão táp. Đêm thiêng liêng 3 – Lửa thanh xuân, với nhiều hoạt cảnh tái hiện chân thực cuộc sống khắc nghiệt của những chiến sĩ cách mạng trong Nhà tù Hỏa Lò. Tiêu biểu như hoạt cảnh về đồng chí Nguyễn Hoàng Tôn đón nhận cái chết bởi máy chém trước cổng chính Nhà tù Hỏa Lò năm 1931; cuộc đấu tranh tuyệt thực năm 1933; cuộc gặp gỡ cuối cùng của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh và mẹ; biến nhà tù thành trường học cách mạng; vượt ngục năm 1945… Các hoạt cảnh được dàn dựng chân thực, góp phần làm nổi bật hình tượng những người con ưu tú của dân tộc trong khó khăn, gian khổ vẫn giữ vững khí tiết kiên trung đến giây phút cuối cùng. Đoàn Thanh niên Trung đoàn Cảnh sát cơ động, Công an TP Hà Nội tham quan Di tích Nhà tù Hỏa Lò.Ảnh: VGP Có thể thấy, chương trình Đêm Thiêng liêng đã mang đến cho khách tham quan những trải nghiệm chưa từng có. Từ việc tham gia lễ dâng hương tri ân các anh hùng liệt sĩ, cho đến việc khám phá không gian phòng giam chật chội, xem hoạt cảnh…, mỗi chi tiết trong chương trình đều góp phần khơi gợi cảm xúc và lòng biết ơn từ du khách. "Chúng tôi rất cảm động khi nhận được những chia sẻ của khách tham quan về cảm xúc mạnh mẽ khi tham dự chương trình - nhiều người nói rằng họ đã rơi nước mắt, xúc động đến nghẹn ngào khi chứng kiến những hoạt cảnh tái hiện về sự hy sinh và kiên cường của các chiến sĩ cách mạng", bà Nguyễn Thị Bích Thủy, Giám đốc Ban Quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò bày tỏ. Năm 2024, Ban Quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò vinh dự được UBND thành phố Hà Nội tặng bằng khen cho tập thể, đã có thành tích trong phong trào "Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thi đua thực hiện văn hóa công sở và nơi công cộng"; bằng khen đã có thành tích trong việc triển khai, thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2024 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về phát triển văn hóa con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đổi mới. Thời gian tới, Ban Quản lý Di tích Nhà tù Hỏa Lò tiếp tục tuyên truyền, phổ biến các nội dung quy tắc ứng xử nhằm nâng cao nhận thức, tinh thần, thái độ làm việc, các chuẩn mực giao tiếp, ứng xử, đạo đức, lối sống... tạo chuyển biến mạnh mẽ cho cán bộ, viên chức, người lao động. Song song với đó, tích cực học tập nâng cao lý luận chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao; gương mẫu trong thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính; tiếp tục đổi mới, không ngừng sáng tạo trong thực hiện mô hình Di tích lịch sử văn hóa - Điểm đến an toàn, hấp dẫn. Từ ngày 01/01/2024 đến ngày 31/10/2024, Di tích Nhà tù Hỏa Lò đón 646.264 lượt khách. Trong đó khách Việt Nam là 341.515 lượt khách, khách Quốc tế là 304.749 lượt khách. Ước tính cả năm 2024, Di tích đón hơn 750 nghìn lượt khách đến tham quan, học tập và trải nghiệm. Theo Báo điện tử Chính Phủ https://thanglong.chinhphu.vn/di-tich-nha-tu-hoa-lo-doi-moi-sang-tao-de-hap-dan-du-khach-103241212092935973.htm

29/01/2026
Đền Bạch Mã, di sản sống động giữa lòng phố cổ Hà Nội
DI TÍCH - DI SẢN 02/02/2026
Đền Bạch Mã, di sản sống động giữa lòng phố cổ Hà Nội

Đền Bạch Mã giữa phố Hàng Buồm, ghi dấu ấn sâu sắc của kiến trúc xưa giữa lòng phố cổ Hà Nội. Ảnh: Thành Văn Phương đình, khu vực chính để khách hành hương dâng hương, trở nên sống động với dòng người nối tiếp nhau, tay cầm nén nhang đỏ, ánh mắt thành kính hướng về tượng thần Long Đỗ. Khói hương hòa quyện cùng ánh sáng dịu từ những ngọn đèn, tạo nên một khung cảnh vừa huyền ảo vừa ấm áp, như lời nguyện cầu gửi gắm vào cõi thiêng. Ảnh: Thành Văn Ngày 24/3/1994, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã có Quyết định xếp hạng Đền Bạch Mã là di tích lịch sử văn hóa - kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia. Đến ngày 18/6/2022, Quận Ủy – HĐND - UBND – UBMTTQ quận Hoàn Kiếm (cũ) long trọng Tổ chức Lễ đón nhận bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt Thăng Long tứ trấn đền Bạch Mã. Ảnh: Nguyễn Phong Tượng ngựa trắng được thờ tại Đại bái của Đền Bạch Mã, biểu tượng của thần Long Đỗ - vị thần bảo hộ phương Đông Thăng Long. Với dáng đứng oai phong, được chế tác tinh xảo từ gỗ sơn son thếp vàng, ngựa trắng như tái hiện huyền thoại dẫn lối cho vua Lý Thái Tổ dựng kinh thành. Ảnh: Thành Văn Đỉnh cổng tam quan của Đền Bạch Mã. Ảnh: Thành Văn Bàn thờ Bạch Mã Đại Vương trong gian Tiền tế của Đền Bạch Mã. Ảnh: Nguyễn Phong Cung cấm của Đền Bạch Mã, nơi được coi là linh thiêng nhất thờ Đức Long Đỗ Đại Vương, vị thần bảo hộ phương Đông Thăng Long. Khu vực này nổi bật với không gian tĩnh lặng, nơi tượng thần Long Đỗ đặt trên ngai vàng. Ảnh: Thành Văn Dù nằm giữa khu vực Hàng Buồm sầm uất, Đền Bạch Mã vẫn giữ được sự tĩnh tại. Những tòa nhà kính sáng lấp lánh, những con phố tấp nập xe cộ bao quanh càng làm nổi bật vẻ cổ kính của ngôi đền. Ảnh: Thành Văn   Khu vực Điện thờ Mẫu trong Đền Bạch Mã phản ánh tín ngưỡng thờ Mẫu đặc sắc của người Việt. Ảnh: Thành Văn Theo Báo Dân Việt https://danviet.vn/den-bach-ma-di-san-song-dong-giua-long-pho-co-ha-noi-d1343065.html

02/02/2026
Đền Ngọc Sơn: Di sản độc đáo giữa lòng Hà Nội
DI TÍCH - DI SẢN 29/09/2026
Đền Ngọc Sơn: Di sản độc đáo giữa lòng Hà Nội

Đi qua cầu Thê Húc, không gian đền Ngọc Sơn mở ra một thế giới hoàn toàn khác biệt với sự ồn ào của phố thị. Được xây dựng từ thế kỷ XIX, ngôi đền là sự kết hợp hài hòa giữa kiến trúc cổ kính và phong cảnh thiên nhiên hữu tình. Nhiều người dân, du khách đến Đền Ngọc Sơn tham quan, dâng hương. Ảnh: Hân Nghiên Ngay từ cổng vào, Tháp Bút và Đài Nghiên sừng sững hiện ra, khẳng định tinh thần hiếu học và trọng chữ nghĩa của người Hà Nội xưa. Bước vào bên trong, hệ thống kiến trúc gồm Đắc Nguyệt Lâu, đình Trấn Ba và cung thờ chính hiện lên với những đường nét chạm khắc tinh xảo. Đền thờ thần Văn Xương Đế Quân và Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Giữa nhịp sống hối hả của năm 2026, đền Ngọc Sơn vẫn giữ nguyên sức hút mãnh liệt đối với người dân địa phương. Sáng sớm hôm nay, dưới cái nắng trong veo của tiết trời cuối xuân, rất đông người dân đã tìm về đây để dâng hương, vãn cảnh. Đang chậm rãi ngắm cảnh, bác Nguyễn Văn Hùng (68 tuổi, phường Thanh Xuân, Hà Nội) chia sẻ: “Cứ mỗi dịp rằm hay lễ tết, tôi lại đến đây. Với tôi, đền Ngọc Sơn không chỉ là nơi cầu khấn mà là một phần ký ức của Hà Nội. Ngồi ở đình Trấn Ba nhìn ra tháp Rùa, tôi thấy lòng mình tĩnh lại giữa những biến động của cuộc sống hiện đại”. Đền Ngọc Sơn mang nét đẹp cổ kính giữa lòng thủ đô hiện đại. Ảnh: Hân Nghiên Không chỉ người cao tuổi, đền Ngọc Sơn giờ đây còn là điểm đến của giới trẻ yêu văn hóa. Bạn Minh Anh (22 tuổi, sinh viên) chia sẻ: “Em đến đây để cầu mong cho kỳ thi sắp tới được suôn sẻ. Không gian ở đây rất đặc biệt, từ những mái ngói rêu phong đến hàng cây cổ thụ soi bóng xuống mặt hồ, tất cả đều mang lại cảm giác tự hào về cội nguồn và di sản của cha ông”. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đền Ngọc Sơn vẫn đứng vững như một biểu tượng của trí tuệ và lòng tự tôn dân tộc. Giữa lòng Thủ đô ngày càng hiện đại, ngôi đền vẫn là một khoảng lặng cần thiết, nơi văn hóa truyền thống và đời sống đương đại gặp gỡ, tạo nên một bản sắc riêng biệt và thanh tao.

29/09/2026
Đình Đồng Lạc: Không gian văn hóa mới cho người yêu Di sản
DI TÍCH - DI SẢN 21/01/2026
Đình Đồng Lạc: Không gian văn hóa mới cho người yêu Di sản

 Lãnh My A và bộ sưu tập Vẹt giấy được trưng bày trong không gian di sản đình Đồng Lạc (Ảnh: TTXVN) Trở thành không gian văn hóa mới của những người yêu di sản và là điểm đến mới của khách du lịch, đình Đồng Lạc sau khi được trung tu hiện được trưng bày, giới thiệu những sản phẩm thủ công cao cấp kết tinh từ vốn sống phong phú và tay nghề tài khéo của những nghệ nhân xuất sắc của Việt Nam, như: sơn mài, lãnh Mỹ A, giấy dó, đồ thêu tay... Ngôi đình cổ 38 Hàng Đào đã được xếp hạng là di sản văn hóa, một điểm đến quan trọng của những tour du lịch khám phá văn hóa lịch sử Hà Nội. Ngôi đình di sản này là một di tích quan trọng chứng minh cho các hoạt động buôn bán tơ lụa, hoạt động sản xuất thủ công truyền thống và văn hóa trong trang phục của người Thăng Long-Hà Nội. Hiện ngôi đình 38 Hàng Đào vẫn còn giữ lại tấm bia đá cách đây hơn 150 năm tuổi và một số họa tiết trang trí. Du khách đến nhà 38 Hàng Đào sẽ được chiêm ngưỡng toàn bộ kiến trúc của một ngôi nhà từ cánh cửa mang đậm dấu vết của thời gian với dòng chữ “Đồng Lạc quyến yếm thị” đến những câu đối cổ được đặt khắp nơi trong nhà. Khoảng sân sau trồng hoa cỏ hẹp và thắt lại theo kiến trúc chung của những ngôi nhà ở phố Hàng Đào. Kết cấu mái với cột đỡ hình đầu rồng nguyên bản vẫn còn được giữ nguyên vẹn.  Góc tôn vinh sản phẩm thủ công sơn mài (Ảnh: TTXVN) Với cách bài trí tinh tế, những người đến thưởng lãm sẽ được thấy tinh hoa sơn mài Việt hiện diện trên những chiếc bàn sơn mài tuyệt mỹ, những chiếc bình cẩn trứng cầu kỳ, những bộ nữ trang tinh tế chăm chút vô cùng tỉ mỉ, những hộp trà mang bên trong hình khối và chất liệu là cả câu chuyện kể bất tận về ký ức và một vùng văn hóa… Du khách cũng sẽ gặp những câu chuyện kể về ký ức được nối dài trong hiện tại qua bàn tay tài khéo của các nghệ nhân. Đó là góc giấy dó. Trải qua mấy thập kỷ bị mai một, giấy dó ngày nay đang dần trở lại trong những sản phẩm có tính mỹ thuật cao, với những sản phẩm sổ tay và quạt độc đáo. Hay góc trưng bày gần như duy nhất ở Hà Nội thứ lụa cầu kỳ duy mỹ số một trên dải đất Việt, lãnh Mỹ A được hiện diện bằng bộ sưu tập qua bàn tay của nhà thiết kế Công Trí. Đây là loại lụa được dệt từ tơ tằm hảo hạng, nhuộm đi nhuộm lại hàng trăm lần nhựa trái mặc nưa trong suốt gần nửa năm trời biết bao vất vả và tinh hoa tay nghề thủ công của nghệ nhân dệt. Bên cạnh đó, đình Đồng Lạc sẽ thường xuyên diễn ra chuỗi chương trình được thực hiện các buổi đàm đạo xoay quanh các câu chuyện về văn hóa và phong cách sống, khách mời là các học giả-nhà nghiên cứu-nghệ sỹ... Cụ thể, ngày 13/1, họa sỹ, nhà sưu tập cổ vật Nguyễn Mạnh Đức sẽ trò chuyện về nhu cầu giao hòa, gắn kết mật thiết giữa thế giới hữu tình và thế giới tâm linh thiêng liêng của người Việt – qua chủ đề “Bàn thờ Ngày Tết và những bài khấn gia tiên.” Ngày 9/2, diễn giả Bùi Quang Thắng (chuyên gia nghiên cứu và phục dựng các lễ hội dân gian) sẽ trò chuyện về cách chơi Hội ngày Xuân. Đi những lễ hội cầu danh, cầu lộc, cầu tài, cầu tình… trong cuộc sống hiện đại như thế nào cho đúng, cho vui. Ngày 9/3, họa sỹ Bùi Hữu Hùng và nhà Điêu khắc Đinh Công Đạt sẽ có buổi nói chuyện về nghệ thuật sơn mài trong cuộc sống đương đại. Sản phẩm giấy dó (Ảnh: TTXVN)  Với mục đích kiến tạo một không gian lưu giữ và giới thiệu những vẻ đẹp truyền thống đã bị lãng quên, những vẻ đẹp mới trong sáng tạo; giao lưu và liên kết giữa các trí thức, nghệ sỹ và những công chúng quan tâm đến văn hóa nghệ thuật, tinh hoa truyền thống và phong cách sống… di tích đình Đồng Lạc chắc chắn sẽ trở thành một điểm đến thú vị cho du khách Việt Nam và quốc tế./. Theo TRANG THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI ĐIỆN TỬ - BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG VỀ CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI https://ttdn.vn/hoi-nhap-va-phat-trien/van-hoa-xa-hoi/dinh-dong-lac-khong-gian-van-hoa-moi-cho-nguoi-yeu-di-san-9298

21/01/2026
Đình Văn Nội (phường Hà Đông)
DI TÍCH - DI SẢN 15/09/2026
Đình Văn Nội (phường Hà Đông)

Đình làng Văn Nội, Phú Lương, Hà Đông. Đầu thế kỷ XIX, Văn Nội thuộc tổng Thắng Lãm, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng. Sau các thời kỳ thay đổi địa giới hành chính thì hiện nay Văn Nội thuộc phường Phú Lương, quận Hà Đông. Di tích được gọi theo tên thôn là đình Văn Nội. Theo truyền thuyết, đình Văn Nội có từ lâu đời thờ Đổng Xá đại vương, hay còn gọi là Chu Bá, một vị tướng thời Hai Bà Trưng. Đến thời vua Lê Đại Hành thân chinh đánh giặc, có hành quân qua vùng đất này và dừng chân hành lễ cầu đảo và được thần âm phù đánh giặc. Sau khi thắng giặc trở về, Lê Đại Hành ban thưởng 10 hốt vàng kim để nhân dân nơi đây sửa lại đình để “ức niên hương hoả” và ban mỹ tự “bảo quốc khang dân”. Đến thời Lê, niên hiệu Bảo Thái 2 (1721) đình Văn Nội được xây dựng bằng gỗ và gạch quay hướng tây. Tháng 3 năm 1854, niên hiệu Tự Đức thứ 7, đình được tu sửa như ngày nay. Đình gồm các hạng mục công trình kiến trúc Nghi môn, Tả hữu mạc, Đại bái và Hậu cung có kết cấu theo kiểu chữ “đinh”. Nghi môn làm theo kiểu cột trụ đèn lồng, trên đỉnh là 4 chim phượng, kết đuôi chụm lại thành hoa danh, ô lồng đèn trang trí tứ quý, hai bên cột trụ là tường bao, cổng pháo 2 tầng 8 mái lợp ngói ống, bức tường lửng trang trí chữ thọ. Tả hữu mạc là hai dãy nhà, mỗi dãy 3 gian tường xây hồi bít đốc, các bộ vì chủ yếu bào trơn đóng bén, thiên về độ bền chắc, đảm nhiệm chức năng là nơi củ soát lễ vật trước khi vào dâng thành hoàng. Từ sân đình bước qua 3 bậc là tới Đại bái có kích thước 10m x 20m, chiều cao từ nền lên nóc đình là 5m với hệ thống cột chịu lực gồm 30 cột quân cao 3,15m. 6 bộ vì kèo kết cấu theo kiểu thức “giá chiêng kép” liên kết từ cột cái ra cột quân là một cốn chồng rường chạm nổi tích tứ linh. Hệ thống cửa được làm theo kiểu bức bàn. Cửa võng được chạm thủng trang trí đề tài lưỡng long chầu nguyệt, xung quanh chạm tứ linh, phía dưới cửa võng là hoành phi nền gấm chữ vàng mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Hiện trạng kiến trúc đình Văn Nội mang đậm dấu ấn thời Nguyễn. Ngoài ra đình còn bảo tồn nhiều di vật có giá trị như cuốn thần tích của làng do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572) và 30 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến phong tặng đức thành hoàng. Trong thời kỳ tổng khởi nghĩa giành chính quyền, tại di tích này đã diễn ra mít tinh, biểu tình, thành lập Uỷ ban Cách mạng lâm thời. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đình Văn Nội là nơi sơ tán của Tổng cục Hậu cần và đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm và nói chuyện với chiến sĩ và nhân dân. Đình đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1986./. Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích tập 02 https://nguoihanoi.vn/dinh-van-noi-quan-ha-dong-74624.html

15/09/2026
Đình, miếu Xa La (phường Hà Đông)
DI TÍCH - DI SẢN 15/09/2026
Đình, miếu Xa La (phường Hà Đông)

Khu di tích đình, miếu Xa La Khu phố Xa La trước đây là một làng cổ. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Xa La thuộc Trung Thanh Oai, tổng Thượng Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hoà. Nay thuộc thành phố Hà Nội. Đình Xa La toạ lạc đầu phía đông của làng. Theo cuốn lịch sử văn hóa làng Xa La thì ngôi đình được dựng từ rất sớm, trên mảnh đất rộng ở đầu phía tây bắc của làng, bên bờ sông Nhuệ, giáp với chùa và miếu ngày nay. Vào đời Nguyễn (vua Thành Thái 1889 - 1907), dân làng chuyển đình đến đầu phía đông của làng như hiện nay. Đại bái đình là một toà nhà ngang, 5 gian rộng, đầu hồi bít đốc, hai mái chảy lợp ngói ri. Trên bờ nóc, ở hai đầu đắp hai con kìm, còn ở giữa đắp hình tượng lưỡng long chầu nguyệt. Nét khác biệt ở hình tượng lưỡng long chầu nguyệt trên nóc đình là hình nguyệt đứng trên một tấm biển đắp hình chữ nhật nằm, có ghi 3 chữ Hán “Linh Lang từ”. Vào trong toà Đại bái, 5 gian rộng, các bộ vì đứng trên 4 hàng chân cột gỗ có những chân đá tảng ở dưới, 6 bộ vì có các kiểu thức khác nhau từng đôi một. Bộ vì 1 và bộ vì 6 (hai bộ vì giáp tường hồi) được làm theo kiểu thức “thượng giá chiêng chồng rường con nhị, hạ chồng rường” trên xà nách, đầu bẩy vươn ra ngoài gánh mái hiên. Đây là hai bộ vì ở ngôi đình cũ còn giữ lại khi dân làng chuyển ngôi đình sang vị trí mới vào thời vua Thành Thái. Hai bộ vì 2 và 5 được làm theo kiểu thức “thượng giá chiêng, chồng rường, hạ kẻ, bẩy” mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, cuối thế kỷ XIX. Bộ vì 3 và 4 (hai bộ vì gian giữa) được làm theo kiểu thức “thượng chồng rường giá chiêng, hạ mê cốn”. Những bức mê cốn này đều được đục chạm trang trí ở cả hai mặt. Mặt trong mỗi mê cốn, nơi hướng vào gian giữa là bức chạm bong kênh theo tích tứ linh, có đủ long, ly, quy, phượng trong đó hình tượng long (rồng) được đặc tả to hơn, chiếm giữ phần lớn bề mặt cốn. Hậu cung đình là một ngôi nhà 3 gian, đầu hồi bít đốc, hai mái chảy lợp ngói ri. Quá giang bắc suốt, đội cột lửng, cột lửng đội kèo cầu. Kết cấu bộ vì đơn giản, thiên về bào trơn đóng bén, chỉ cốt bền vững mà không cần hoa mỹ. Ngôi miếu nằm ở phía tây của làng, ngay bên bờ sông Nhuệ, tiếp giáp với chùa Xa La. Nhìn tổng thể, toà miếu có mặt nền hình chữ “đinh”, gồm toà Đại bái và Hậu cung. Đại bái 3 gian đầu hồi bít đốc, 2 mái chảy lợp ngói ri. Bờ nóc đắp nổi tấm biển chữ nhật nằm ngang có đề ba chữ Hán: Linh Lang từ. Đầu bờ nóc đắp đấu vuông. Vào trong nhà, bộ vì theo kiểu “chồng rường, giá chiêng”. Đại bái không có cửa, thay vào đó là ba cánh giại tre như thể tôn lên vẻ giản dị cổ kính của ngôi miếu. Hậu cung nằm dọc, kết nối với mái sau gian giữa toà Đại bái, có 3 cửa nhỏ, 2 cửa tả hữu dùng làm lối đi, cửa giữa trên tường cao 0,80m dùng làm nơi hành lễ và thông thoáng cho bên trong. Vào bên trong, bộ vì theo kiểu “thượng chồng rường giá chiêng, hạ mê cốn”. Hoa văn trang trí trên các cấu kiện gỗ đơn giản, những nét chạm mây xoắn, lá lật thông thoáng mà đẹp. Bức cốn trong Hậu cung là những hoạ tiết trang trí cách điệu hình chữ thọ. Đình, miếu Xa La là nơi thờ Linh Lang đại vương, tức Hoàng tử Hoằng Chân nhà Lý, người đã có công đánh giặc Tống xâm lược ở thế kỷ XI. Tương truyền, Hoàng tử Hoằng Chân hay ăn, mau lớn, chưa đầy tuổi nghe tin có giặc Trinh Vĩnh ở phía Nam bèn vươn vai lớn bổng, thành một tráng sĩ, cưỡi voi ra trận, chỉ trong chớp mắt đánh tan quân giặc. Đến khi quân xâm lược nhà Tống kéo sang xâm lược nước ta, bị Lý Thường Kiệt chặn lại ở phòng tuyến sông Cầu. Theo kế hoạch của Lý Thường Kiệt, hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn dùng 400 chiến hạm đổ bộ quân sang bờ Bắc, tiến công vào trận tuyến của quân Tống ở quãng sông Kháo Túc (sông Cầu gần núi Nham Biền). Hai hoàng tử thúc quân đánh mạnh nhằm thu hút lực lượng của chúng, tạo điều kiện cho Lý Thường Kiệt bất ngờ vượt sông đánh úp vào doanh trại quân giặc. Quân Tống không kịp trở tay, đại bại. Quân ta thắng lớn. Trong trận chiến đấu quan trọng ấy hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn đều hy sinh anh dũng. Lễ hội truyền thống làng Xa La mở 3 ngày, từ ngày 9 đến ngày 11 tháng giêng âm lịch hàng năm. Đình, miếu Xa La đã được UBND tỉnh Hà Tây xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá năm 2004./. Theo Tạp Chí Người Hà Nội  https://nguoihanoi.vn/dinh-mieu-xa-la-quan-ha-dong-74753.html

15/09/2026
Hoàng thành Thăng Long - Biểu tượng của văn hóa Thủ đô: Bảo vệ tính toàn vẹn và giá trị nổi bật toàn cầu của di sản
DI TÍCH - DI SẢN 30/01/2026
Hoàng thành Thăng Long - Biểu tượng của văn hóa Thủ đô: Bảo vệ tính toàn vẹn và giá trị nổi bật toàn cầu của di sản

Đây không chỉ là một di sản của đất nước và dân tộc Việt Nam mà còn là tài sản của thế giới. Vì vậy, công tác quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị của di sản này luôn là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ và thành phố Hà Nội. Tòa nhà Cục tác chiến dự kiến được hạ giải để phục vụ việc tái dựng trục Thần Đạo, điện Kính Thiên và không gian điện Kính Thiên. Ảnh: Linh Tâm Tầm vóc của di sản Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích gắn với lịch sử Thăng Long - Hà Nội suốt chiều dài lịch sử 13 thế kỷ, bắt đầu từ thời kỳ tiền Thăng Long (thế kỷ VII - IX) qua thời Đinh - Tiền Lê (thế kỷ X), đặc biệt phát triển mạnh dưới thời Lý - Trần - Lê (thế kỷ XI - XVIII), qua thời Nguyễn (thế kỷ XIX - XX) cho đến ngày nay. Năm 1010, khi dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, đức vua Thái Tổ Lý Công Uẩn đã cho xây dựng kinh thành Thăng Long theo mô hình “tam trùng thành quách” gồm 3 vòng thành: Kinh thành (nơi thị dân ở), Hoàng thành (khu quan lại ở, làm việc) và Cấm thành (nơi chỉ dành cho hoàng gia). Suốt từ thế kỷ XI - XVIII, nơi đây luôn là trung tâm chính trị, hành chính của nhà nước quân chủ, là kinh đô của quốc gia Đại Việt. Đến thế kỷ XIX, nhà Nguyễn chuyển kinh đô vào Phú Xuân (Huế), Thăng Long bị hạ cấp là Bắc Thành (tức thành Hà Nội), nhưng điện Kính Thiên và Hậu Lâu trong Cấm thành vẫn được giữ làm hành cung cho các vua Nguyễn khi ngự giá Bắc Thành. Khi thực dân Pháp chiếm hoàn toàn Đông Dương, Hà Nội trở thành trung tâm hành chính của Liên bang Đông Dương. Thành cổ Hà Nội được sử dụng làm Sở chỉ huy tối cao của quân đội Pháp. Lúc này, các công trình đền đài, cung điện hầu như đều bị phá hủy, chỉ còn Bắc Môn và Kỳ Đài được giữ lại. Thay vào đó là các tòa nhà kiểu Pháp được xây trên nền điện Kính Thiên và sân Long Trì. Năm 1954, sau ngày giải phóng Thủ đô, Thành Hà Nội trở thành Tổng hành dinh của Quân đội nhân dân Việt Nam cho đến năm 2004. Ngày nay, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, bao gồm di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và di tích Thành cổ Hà Nội, nằm trong khu trung tâm chính trị Ba Đình, nơi làm việc của các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, là khu vực có nhiều giá trị mang tầm quốc gia về văn hóa, lịch sử và không gian kiến trúc gắn với sự phát triển của đất nước. Đây là trung tâm quan trọng của Thủ đô, nơi tổ chức các hoạt động chính trị, văn hóa trọng đại của đất nước. Như vậy, trải qua 13 thế kỷ, Hoàng thành Thăng Long luôn đóng vai trò trung tâm chính trị của đất nước và là di tích quan trọng bậc nhất trong hệ thống di tích của Việt Nam. Tại kỳ họp lần thứ 34 của Ủy ban Di sản thế giới tại Brazil, diễn ra vào ngày 31-7-2010, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội đã được ghi danh Di sản văn hóa thế giới. Nét đặc trưng nổi bật của di sản này là chiều dài lịch sử văn hóa suốt 13 thế kỷ; tính liên tục của di sản với tư cách là một trung tâm quyền lực trong suốt nhiều thế kỷ và sở hữu các tầng văn hóa, di tích, di vật đa dạng. Đây cũng là nơi ghi đậm dấu ấn những giá trị biểu đạt văn hóa và những sự kiện mang tầm vóc lớn lao. Hình mẫu trong công tác bảo tồn di sản Sau khi được UNESCO ghi danh, năm 2013, UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt Kế hoạch quản lý di sản Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội kèm theo Quyết định số 8038/QĐ-UBND ngày 31-12-2013. Kế hoạch này đã đáp ứng cơ bản các yêu cầu của quốc gia và quốc tế trong công tác quản lý di sản Hoàng thành Thăng Long và trở thành một công cụ quan trọng cho việc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị của di sản. Kế hoạch bao gồm 7 mục tiêu mang tính lâu dài, xuyên suốt, và 6 nhiệm vụ chính cần tập trung thực hiện: Quản lý di sản; Bảo tồn di tích, di vật và cảnh quan; Nghiên cứu tìm hiểu về di sản; Tăng cường năng lực cho cán bộ quản lý di sản; Phát huy giá trị di sản. Những di vật được khai quật tại Hoàng thành Thăng Long minh chứng cho các tầng văn hóa xếp chồng tại di sản này. Ảnh: Linh Tâm Một trong những mục tiêu xuyên suốt trong quá trình quản lý khu di sản Hoàng thành Thăng Long được Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội Nguyễn Thanh Quang chia sẻ, là xây dựng nơi đây trở thành Công viên văn hóa, lịch sử nhằm phát huy giá trị nổi bật mang tính toàn cầu của Khu di tích, thể hiện được một khu vực có ý nghĩa lịch sử quan trọng nhất, tồn tại và phát triển từ ngàn năm của đất nước. Mục tiêu này được xác định trong các quy hoạch đã được thành phố Hà Nội phê duyệt, trong đó giai đoạn 1 (đến năm 2020) tăng cường nghiên cứu khảo cổ học, nghiên cứu dữ liệu khoa học để phục dựng một số di tích quan trọng, trong đó nhấn mạnh trục không gian từ Kỳ Đài đến Bắc Môn; hạ giải những công trình tạm, không có giá trị kiến trúc cũng như giá trị sử dụng, hoàn trả lại không gian cây xanh phục vụ công tác nghiên cứu khảo cổ học... Giai đoạn 2 (sau năm 2020), triển khai các công tác tái dựng, tôn tạo trên cơ sở nghiên cứu của giai đoạn trước đó; triển khai các đề án phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của Khu di sản; kết nối với các không gian, điểm di tích lân cận... Tuy nhiên, những hạng mục quan trọng thể hiện giá trị nổi bật toàn cầu của khu di sản đến nay đã được bảo tồn nhưng chưa xứng tầm, tiêu biểu như di tích điện Kính Thiên và khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu... Vì nhiều lý do, việc khôi phục điện Kính Thiên chưa thể thực hiện do vướng mắc trong các quy định pháp luật theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam và các cam kết theo Công ước Bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới của UNESCO (Công ước 1972). Đáng mừng là, trong kỳ họp thứ 46 diễn ra vào tháng 7-2024, UNESCO đã đồng thuận với đề xuất của Việt Nam về định hướng, tầm nhìn nghiên cứu, bảo tồn và phát triển Di sản thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long, trong đó có việc đồng ý cho hạ giải một số công trình ít có giá trị được xây dựng vào thế kỷ XIX. Lý do để UNESCO đồng ý với phương án hạ giải là bởi những công trình này “không đóng góp vào Giá trị phổ quát nổi bật (OUV) và đang xâm phạm Trục trung tâm”, và từ đó tiến tới phục dựng không gian điện Kính Thiên. Đây cũng là nỗ lực của thành phố Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, các chuyên gia trong nước và quốc tế cùng phái đoàn cố vấn chung của UNESCO/ICOMOS đã đến thăm di sản vào tháng 7-2023 để đánh giá tính khả thi của các đề xuất này. Để nhận được cái gõ búa đồng ý của Chủ tịch Ủy ban Di sản thế giới thông qua Quyết định số 46 COM 7B.43 chấp thuận với các nội dung đề xuất của Việt Nam là cả một quá trình chuẩn bị hồ sơ khoa học công phu, lâu dài. Chia sẻ về vấn đề này, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội Nguyễn Thanh Quang cho biết, bên cạnh việc chứng minh cho Ủy ban Di sản thế giới thấy được Chính phủ Việt Nam đã tuân thủ, thực hiện đúng các cam kết với UNESCO theo Công ước 1972 trong hơn 10 năm qua, Trung tâm đã phối hợp với các chuyên gia trong nước và quốc tế để xây dựng một hồ sơ khoa học chặt chẽ, thể hiện chiến lược về khảo cổ và tầm nhìn cho Trục trung tâm cũng như việc tái hiện không gian và chính điện Kính Thiên. Khẳng định tầm quan trọng của hồ sơ, Giám đốc Trung tâm Di sản thế giới Lazare Eloundou Assomo cho rằng, hồ sơ này không chỉ có ý nghĩa với Việt Nam mà còn với thế giới vì nó gắn với những vấn đề mới liên quan tới tiến trình phát triển của di sản. Ông cũng coi đây là hình mẫu hợp tác giữa quốc gia thành viên với UNESCO và cơ quan tư vấn, đồng thời là điển hình của việc bảo tồn di sản thế giới. Để thực hiện tốt việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong giai đoạn tới, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch quản lý Di sản văn hóa thế giới Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội giai đoạn 2024 - 2028, định hướng tới năm 2035, tầm nhìn năm 2045 kèm theo Quyết định số 261/QĐ-UBND ngày 15-1-2024. Kế hoạch này nhằm xây dựng chiến lược lâu dài để bảo vệ tính toàn vẹn và các giá trị nổi bật toàn cầu của Khu di sản, thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý, bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa, tinh thần ẩn chứa trong các thành phần của khu di sản; đưa di sản trở thành biểu tượng văn hóa của Thủ đô và góp phần phát triển công nghiệp văn hóa gắn với du lịch di sản. Bên cạnh đó, kế hoạch này còn là cơ sở pháp lý và khoa học quan trọng giúp các cơ quan quản lý, các bên liên quan đưa ra chính sách và hành động cụ thể nhằm thực hiện tốt cam kết, nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam trong việc bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị và chuyển giao di sản cho thế hệ tương lai theo đúng tinh thần của Công ước Bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên thế giới. Theo Báo Hà Nội Mới https://hanoimoi.vn/hoang-thanh-thang-long-bieu-tuong-cua-van-hoa-thu-do-bao-ve-tinh-toan-ven-va-gia-tri-noi-bat-toan-cau-cua-di-san-679043.html

30/01/2026
Miếu Đồng Cổ
DI TÍCH - DI SẢN 06/02/2026
Miếu Đồng Cổ

Ngài là Đương Cảnh thành hoàng giám thệ vương Đồng Cổ Sơn thần, tức vị thần Hộ dân bảo quốc. Vào năm 1908, đây là nơi Lương Văn Can - thủ lĩnh phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục chọn làm nơi giảng bài, giác ngộ tinh thần yêu nước cho binh lính và người dân. Từ xa xưa, Nguyên Xá là vùng có dân tụ cư lâu đời. Những năm 1970, tại đây đã phát hiện di tích Ngọa Long thuộc nền văn hóa Phùng Nguyên, có niên đại cách ngày nay khoảng 4.000 năm. Đến cuối năm 2007, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với ngành Văn hóa Hà Nội khai quật di tích miếu Đồng Cổ và tìm thấy dấu tích của các tầng văn hóa, mộ táng giai đoạn Đông Sơn (2.500 - 2.000 năm trước Công nguyên). Đặc biệt là phế tích lò nung thời Lê Trung hưng thế kỷ XVII còn nguyên vẹn kiến trúc. Miếu Đồng Cổ được xây dựng theo thế “quy xà” với gò cao ở giữa, quay hướng về phía Đông, xung quanh có nhiều cây muỗm cổ thụ. Sau tam quan, hai bên có tượng đôi voi quỳ bên bức bình phong đắp cuốn thư. Tiếp đến là hai chiếc cầu cong nhỏ bắc qua ao sen dẫn vào một sân gạch rộng. Trước đây miếu Đồng Cổ có kết cấu kiểu “Nội công ngoại quốc”. Trải qua nhiều thế kỷ và nhiều lần trùng tu, tôn tạo, tổng thể mặt bằng kiến trúc miếu ngày nay mang hình chữ “Quốc” với 5 gian tiền tế, cung thượng, 2 dãy nhả tả mạc - hữu mạc song song. Bên trong tiền tế, các cấu kiện được trang trí nhiều mảng hoa văn, họa tiết tinh xảo mang phong cách kiến trúc thời Lê. Tòa cung thượng (hậu cung) hình vuông, xây kiểu mái chồng diêm 2 tầng 8 mái với những đầu đao uốn cong đắp nổi hình rồng. Hậu cung kết nối với tòa tiền tế tạo thành hình chữ “Đinh”. Vị thần Đồng Cổ đã được các đời vua Lý, Trần, Lê, Nguyễn ghi nhận công lao qua hơn 40 đạo sắc phong, nhưng nay một số chỉ còn được ghi lại trong ngọc phả cùng 13 đạo sắc còn được lưu giữ, trong đó đạo sắc cổ nhất là năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801), đạo sắc có niên đại muộn nhất là năm Duy Tân thứ 3 (1909). Ngoài ra, tại đây còn lưu giữ nhiều di vật quý như một số bát sứ chân cao hiệu Thanh Hòa (thế kỷ XV), 4 đôi lọ lục bình đời Khang Hy (thế kỷ XVIII), các đồ sứ men trang trí thế kỷ XVIII - XIX... Miếu Đồng Cổ đã được xếp hạng Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật quốc gia năm 1989. Năm 2016, 14 cây muỗm cổ thụ nằm trong khuôn viên cụm di tích miếu Đồng Cổ - chùa Thanh Lâm được công nhận là Cây di sản Việt Nam. Theo Nhịp sống Hà Nội https://nhipsonghanoi.hanoimoi.vn/mieu-dong-co-681189.html

06/02/2026
Tháp Rùa Hồ Gươm - biểu tượng thiêng liêng của Thủ đô văn hiến
DI TÍCH - DI SẢN 29/09/2026
Tháp Rùa Hồ Gươm - biểu tượng thiêng liêng của Thủ đô văn hiến

Dạo quanh hồ Hoàn Kiếm khi du lịch Hà Nội, bạn sẽ dễ dàng quan sát thấy hình ảnh Tháp Rùa Hồ Gươm nằm trên một gò đất nổi. Công trình văn hóa, lịch sử này tọa lạc ngay tuyến phố Hàng Trống – một trong những tuyến phố trung tâm của Thủ đô, vì vậy, việc di chuyển tham quan cũng rất dễ dàng, thuận lợi. 1. Lịch sử Tháp Rùa Hồ Gươm  Sự tích Tháp Rùa Hồ Gươm gắn liền với nhiều giai đoạn lịch sử (Ảnh: sưu tầm) Tháp Rùa Hồ Gươm có từ bao giờ? Hẳn rất nhiều người có chung suy nghĩ này khi đặt chân đến Hồ Gươm – một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của mảnh đất Hà thành. Lịch sử của Tháp Rùa Hồ Gươm trải qua nhiều giai đoạn:  Thời vua Lê Thánh Tông: tháp đã được xây dựng trên gò Rùa – đây là nơi từ xưa đã được dựng Điếu Đài để nhà vua có thể câu cá Khoảng thế kỷ 17 – 18, thời Lê Trung Hưng: chúa Trịnh quyết định xây Tả Vọng trên gò. Dù vậy, khi đến thời nhà Nguyễn, những công trình này gần như không còn dấu tích gì  Năm 1883: khi Pháp hạ thành Hà Nội, đa số người dân vùng ven hồ đều xiêu tán, các quán bỏ sở nhiệm. Lúc bấy giờ, chỉ có Nguyễn Ngọc Kim được cử làm trung gian giữa Việt và quân Pháp. Lâu dần, ông được chính quyền tín nhiệm và trở thành bá hộ, còn được gọi là bá hộ Kim.  Năm 1886: khi thấy huyệt đất trên gò Rùa hợp phong thủy thành, ngọn tháp 3 tầng được hoàn tất, ban đầu tháp được gọi với tên của bá hộ, tức là “Tháp Bá Hộ Kim”. Công trình này với ưu thế về vị trí, kiến trúc đã trở thành một thắng tích của Hà Nội lúc bấy giờ Năm 1890 – 1896: vào thời Pháp thuộc, Tháp Rùa Hồ Gươm được dựng một phiên bản Nữ Thần Tự Do, người dân gọi đây là tượng Đầm Xòe. Tuy nhiên, mãi đến năm 1950, công trình này bị phá bỏ  Theo lịch sử thì đến nay Hồ Gươm Tháp Rùa đã có tuổi đời gần 150 năm. Dù vậy, nếu tính theo mốc xây dựng thì công trình này đã được vua Lê Thái Tông thực hiện từ những năm 1453, tức là cách đây tầm 500 – 600 năm. Vì vậy, Tháp Rùa đến nay vẫn mang trong mình một nét đẹp xưa cũ, trở thành điểm đến hút khách của Hà Nội mà bạn không nên bỏ lỡ.  2. Khám phá kiến trúc Tháp Rùa Hà Nội Tháp Rùa ở Hồ Gươm được xây dựng với lối kiến trúc độc đáo, giao thoa giữa kiến trúc bản địa và kiến trúc Pháp. Đây cũng là công trình lịch sử có kiến trúc độc đáo giữa lòng Hà Nội: 2.1. Tầng dưới cùng  Tháp Rùa ở hồ Hoàn Kiếm cao khoảng 8.8m (Ảnh: sưu tầm) Tầng dưới được xây dựng trên nền móng cao khoảng 0.8m, tổng chiều dài ở mức 6.28m và chiều rộng đạt 4.54m. Tầng này được xây dựng theo hình chữ nhật vì vậy chiều dài mở ra ba cửa, chiều ngang mở hai cửa, tổng tất cả 4 mặt là 10 cửa. Vào bên trong, tầng dưới được phân làm ba gian, giữa các gian có vách cửa ngăn, tổng cộng có tới 14 cửa.  2.2. Tầng hai Tầng hai được thiết kế lùi vào bên trong một chút, có chiều dài 4.8m, chiều rộng 3.64m. Tầng này được chia làm 3 gian, thiết kế giống với tầng dưới với tổng 14 cửa nhưng nhỏ hơn.  2.3. Tầng ba Càng lên cao, thiết kế của tháp càng được thu nhỏ lạ, chiều dài của tầng 3 là 2.97m, chiều rộng 1.9m. Ở tầng này chỉ có một cửa hình tròn ở mặt phía Đông, có đường kính khoảng 0.68m. Phần tường phía Tây đặt một bàn thờ. Rất nhiều người băn khoăn rằng Tháp Rùa Hồ Gươm thờ ai, theo nhiều nguồn tin được lưu truyền thì khu vực này thờ cha của Nguyễn Ngọc Kim.  Giới thiệu về Tháp Rùa Hồ Gươm với nét đẹp kiến trúc cổ kính (Ảnh: sưu tầm) 2.4. Tầng đỉnh Thiết kế của tầng đỉnh như một vọng lâu, có hình vuông, mỗi bề dài 2m. Ở mặt tường phía Đông, bên trên cửa tròn có đường kính khoảng 0.68m. Bên ngoài tháp có chữ Quy Sơn Tháp – tức là tháp Núi Rùa. Tổng chiều dài từ gồ đất lên đến tầng đỉnh là 8.8m.  2.5. Ngọn tháp Phần ngọn tháp được xây dựng theo kiến trúc châu Âu, có hàng cửa cuốn gothic ở hai tầng dưới nhưng ở phía mái cong vẫn giữ được kiểu kiến trúc cổ của Việt Nam.  3. Tháp Rùa - nét chấm phá tuyệt mỹ giữa Hồ Hoàn Kiếm Từ lâu, hình ảnh Tháp Rùa Hồ Gươm Hà Nội đã trở thành biểu tượng du lịch quen thuộc với người dân và du khách. Đây cũng là công trình sở hữu nét đẹp riêng biệt, vừa mang nét hoài cổ, vừa có ý nghĩa đặc trưng về văn hóa, lịch sử:  3.1. Vẻ đẹp cổ kính, toát lên sự linh thiêng giữa lòng Hồ Gươm  Phong cách kiến trúc Tháp Rùa Hồ Gươm tạo điểm nhấn thu hút du khách (Ảnh: sưu tầm) Dù là một điểm tham quan nổi tiếng, thế nhưng khi đến với Tháp Rùa, bạn chỉ được ngắm nhìn từ xa chứ không thể tới gần, điều này cũng khiến cho nhiều du khách trở nên hiếu kỳ. Công trình có tuổi đời hàng trăm năm, tọa lạc giữa một gò đất nhỏ giữa lòng hồ, tạo nên một nét đẹp trung tâm, vừa nhuốm màu thời gian, cổ kính, vừa toát lên sự linh thiêng, huyền bí. Dọc theo bờ hồ, bạn còn có thể đi qua cầu Thê Húc, chiêm bái, tham quan tại đền Ngọc Sơn cũng tọa lạc giữa lòng hồ Hoàn Kiếm.  3.2. Tạo nên background sống ảo đẹp như tranh Hồ Gươm từ lâu đã là một địa điểm chụp ảnh đẹp ở Hà Nội. Điều làm nên sức hút của địa điểm này không chỉ bởi không gian xanh, mặt hồ thoáng đãng mà còn là nhiều công trình kiến trúc lân cận, trong đó có Tháp Rùa. Biểu tượng Hồ Gươm in bóng Tháp Rùa sẽ giúp bạn có được những bức hình đẹp, mang màu sắc riêng khi du lịch Hà Nội.  3.3. Tháp Rùa Hồ Gươm về đêm huyền ảo, mỹ lệ Ý nghĩa của Tháp Rùa Hồ Gươm gắn liền với văn hóa, lịch sử của Thủ đô (Ảnh: sưu tầm) Nếu bạn muốn tìm kiếm một địa điểm vui chơi Hà Nội về đêm thì có thể ghé qua Tháp Rùa Hồ Gươm. Vào buổi tối, công trình sẽ được thắp sáng bởi những ánh đèn vàng mang màu sắc cổ điển. Những công trình xung quanh hồ như cầu Thê Húc cũng được thắp sáng. Một khung cảnh lung linh, mỹ lệ giữa lòng thành phố sẽ để lại nhiều ấn tượng khó quên trong lòng du khách.  4. Những địa điểm tham quan quanh Tháp Rùa Hà Nội Thông thường, du khách tham quan, chụp ảnh tại Tháp Rùa Hồ Gươm sẽ kết hợp với nhiều địa điểm lân cận để có một hành trình khám phá Thủ đô ý nghĩa. Dưới đây là một vài điểm đến lân cận giúp bạn có một chuyến đi trọn vẹn tại Hà Nội:  4.1. Tháp Bút Tháp Bút tọa lạc ngay bên cạnh hồ Hoàn Kiếm (Ảnh: sưu tầm) Tháp Bút là một trong những công trình kiến trúc thuộc di tích đền Ngọc Sơn. Tháp được xây dựng trên một ngọn núi có tên là núi Độc Tôn, có chiều cao 4m, đường kính khoảng 12m. Công trình này được xây dựng với dụng ý đề cao giá trị Nho giáo, nền văn hóa dân tộc. Vì vậy, dù không nguy nga tráng lệ nhưng tháp Bút vẫn trở thành biểu tượng ý nghĩa về văn hóa, nghệ thuật và lịch sử.  4.2. Đền Ngọc Sơn Đền Ngọc Sơn là một trong những địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng của Hà Nội. Cũng tương tự với Tháp Rùa, đền được xây trên một gò đất của Hồ Gươm, gắn liền với nhiều giai đoạn lịch sử, thăng trầm của đất nước. Du khách có thể đến tham quan, vãn cảnh và hành hương tại đền vào bất kỳ thời điểm nào trong năm.  4.3. Đền Bà Kiệu Nét đẹp cổ kính giữa lòng thành phố của đền Bà Kiệu (Ảnh: sưu tầm) Đền Bà Kiệu tọa lạc tại số 59 phố Đinh Tiên Hoàng, trước mặt đền là Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn và gần với quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Đây là công trình thờ các vị nữ thần bao gồm: hai thị nữ Quế Hoa – Quỳnh Hoa, công chúa Liễu Hạnh. Trải qua nhiều lần trùng tu, đến nay, công trình vẫn giữ được nét đẹp hoài cổ và phong cách kiến trúc độc đáo.  4.4. Cửa hàng kem Tràng Tiền Thưởng thức kem Tràng Tiền khi du lịch Hà Nội là trải nghiệm mà bạn nhất định không thể bỏ lỡ. Du khách có thể ghé qua cửa hàng kem Tràng Tiền gần khu vực Hồ Gươm, lựa chọn các loại kem với hương vị đa dạng, sau đó vừa dạo quanh hồ, vừa thưởng thức kem mát lạnh, thơm ngon.  4.5. Vườn hoa Lý Thái Tổ Địa điểm tổ chức nhiều sự kiện của Hà Nội (Ảnh: sưu tầm) Một trong những điểm đến yên bình giữa lòng thành phố nhộn nhịp đó chính là vườn hoa Lý Thái Tổ. Nơi đây có không gian thoáng đãng, mát mẻ vì vậy trở thành địa điểm tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, giải trí của Thủ đô. Người dân Hà thành cũng thường xuyên lựa chọn địa điểm này để tập thể dục, vui chơi, check in với không gian xanh của những vườn hoa rực rỡ.  4.6. Nhà Hát Lớn Hà Nội Nhà Hát Lớn Hà Nội được biết đến là biểu tượng của di sản kiến trúc và nghệ thuật Pháp. Đến đây, bạn sẽ được chiêm ngưỡng nhiều tuyệt tác nghệ thuật đặc trưng từ hàn lâm đến cổ điển. Đây cũng là một trong những điểm check in tuyệt đẹp, là địa điểm du lịch không thể bỏ qua khi ghé thăm Hà Nội.  4.7. Chợ Đồng Xuân Khám phá khu chợ mua sắm bậc nhất tại phố cổ Hà Nội (Ảnh: sưu tầm) Chợ Đồng Xuân là khu chợ sầm uất bậc nhất ở miền Bắc. Đây là nơi du khách lựa chọn để thỏa sức mua sắm, khám phá nét đẹp trong đời sống sinh hoạt của người dân Hà thành. Đến với chợ Đồng Xuân, bạn còn có thể khám phá “thiên đường ẩm thực” với nhiều món ăn ngon như: bún riêu sườn sụn, bánh tôm, chè, bún chả que tre, bánh rán mặn…  4.8. Phố cổ Hà Nội Phố cổ Hà Nội cũng là lựa chọn tham quan của nhiều du khách. Những dãy nhà cổ kính nằm san sát nhau tạo nên một bức tranh hoài niệm, nhuốm màu thời gian. Dọc theo các tuyến phố cổ Hà Nội, bạn có thể thoải mái mua sắm các mặt hàng lưu niệm hay thưởng thức nhiều món ngon đặc sản Hà thành.  5. Thời gian đẹp nhất tham quan Tháp Rùa Hồ Gươm Du khách có thể đến với Tháp Rùa vào nhiều thời điểm khác nhau (Ảnh: sưu tầm) Mỗi mùa, Tháp Rùa Hồ Gươm đều có một nét đẹp riêng, vì vậy bạn có thể đến đây vào bất kỳ thời điểm nào. Đặc biệt, vào mùa thu Hà Nội, khi đi dạo quanh bờ hồ, bạn sẽ cảm nhận được mùi hoa sữa nồng nàn, hương thơm cốm mới thoang thoảng. Ngoài ra, khung cảnh những hàng cây thay lá vàng cũng tạo nên một background lãng mạn để bạn có thể chụp ảnh, tận hưởng sự yên bình giữa lòng thành phố. Theo Vinpearl https://vinpearl.com/vi/cam-nang-kham-pha-thap-rua-ho-guom

29/09/2026
Tượng vua Lê bên hồ Hoàn Kiếm
DI TÍCH - DI SẢN 30/09/2026
Tượng vua Lê bên hồ Hoàn Kiếm

Tượng đài vua Lê Thái Tổ nằm trong quần thể kiến trúc ở số 16 phố Lê Thái Tổ (phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm), là một trong những tượng đài cổ nhất ở Hà Nội. Tượng vua Lê và quần thể kiến trúc tưởng niệm do Kinh lược sứ Bắc Kỳ Hoàng Cao Khải dựng vào năm 1894 để tưởng nhớ công ơn của vị vua đã đánh thắng giặc, giành độc lập cho dân tộc và ghi dấu truyền thuyết trả gươm cho Rùa thần ở hồ Hoàn Kiếm. Nơi dựng tượng trước kia từng có một đền thờ vua Lê Thái Tổ, nhưng sau không còn nữa. Quần thể công trình gồm 3 hạng mục chính, được bố cục đăng đối theo một trục thần đạo. Từ ngoài vào là cổng, nhà phương đình, trong cùng là tượng đài. Cổng được xây gạch theo kiểu tam quan – tứ trụ sát với hè đường; phương đình mở bốn phía, có dạng cổ diêm với hai tầng mái, trang trí hình rồng ở các cột trụ và đầu đao mái, đỉnh mái có thiên hồ. Tượng đài vua Lê nằm ở trong cùng, có kiến trúc theo kiểu trụ biểu phương Tây với bức tượng đặt trên đỉnh trụ đá, được đúc bằng đồng, cao khoảng 1,2m, tay phải cầm kiếm hơi chúc xuống (trong tư thế trả gươm), tay trái chống vào hông, đầu đội mũ bình thiên, mặc áo long bào. Bức tượng tuy nhỏ nhưng được đúc tinh tế, thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc. Kể từ khi tượng được dựng, việc hương khói do các quan nhà Nguyễn ở Hà Nội chịu trách nhiệm. Nhưng từ khi chính phủ Pháp xóa bỏ Nha Kinh lược thì khu di tích bị bỏ hoang. Tháng 8-1964, Mỹ ném bom miền Bắc, khu tưởng niệm vua Lê bị đóng cửa đến năm 1998. Tháng 7-2000, Hà Nội hoàn thành việc trùng tu, tôn tạo di tích đúng dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội. Ngày nay, tượng đài – khu tưởng niệm vua Lê cùng với đình Nam Hương (ngôi đình cổ vừa được tu bổ, tôn tạo nằm trong khuôn viên) là một di tích quan trọng của quần thể danh thắng hồ Hoàn Kiếm, điểm đến không thể bỏ qua đối với du khách khi đến Hà Nội. Theo BQLDTDT Hà Nội https://banqldtdthanoi.vn/di-tich-do-ban-quan-ly-truc-tiep/tuong-vua-le-ben-ho-hoan-kiem/

30/09/2026
Văn miếu Quốc Tử Giám: Ngôi trường Đại học đầu tiên
DI TÍCH - DI SẢN 27/01/2026
Văn miếu Quốc Tử Giám: Ngôi trường Đại học đầu tiên

Lịch sử Văn Miếu Quốc Tử Giám Lịch sử hình thành, sơ đồ tham quan Từ năm 1070, Văn Miếu được xây dựng vào năm thần vũ thứ hai đời vua Lý Thánh Tông. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử Giám nằm bên cạnh Văn Miếu. Trường đại học đầu tiên ở Việt Nam ra đời. Thời kì đầu, trường là nơi chỉ dành riêng cho con vua và con của các bậc quyền quý đại thần theo học nên có tên gọi là Quốc Tử. Người đầu tiên theo học tại đây là hoàng tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông với Nguyên Phi Ỷ Lan. Văn Miếu được vua Lý Anh Tông cho sửa lại vào năm 1156 và chỉ thờ Khổng Tử. Năm 1253, Vua Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc Học Viện, mở rộng và cho phép thu nhận cả con của các nhà thường dân học hành xuất sắc. Chu Văn An được cử làm Quốc Tử Giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) vào đời vua Trần Minh Tông và là thầy giảng dạy trực tiếp cho các hoàng tử. Ông mất năm 1370, sau đó vua Trần Nghệ Tông cho thờ ông ở Văn Miếu bên cạnh nơi thờ Khổng Tử. Ban thờ Chu Văn An Nho Giáo rất thịnh hành vào thời Hậu Lê. Vua Lê Thánh Tông đã cho dựng các tấm bia đá của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi năm 1442. Mỗi tấm bia đều được đặt trên lưng rùa. Đời vua Lê Tháng Tông (1460-1497), nhà Lê đều đặn 3 năm một lần tổ chức các khoa thi, tổng cộng có 12 khoa thi. Các khoa thi hoàn thành xong không phải lúc nào cũng được khắc bia ngay. Có những tấm bia bị hư hỏng, mất mát theo thời gian. Trong lịch sử cũng đá có rất nhiều đợt trùng tu, dựng lại bia lớn, điển hình như năm 1653 – năm Thịnh Đức thứ nhất hay năm 1717 – năm Vĩnh Thịnh thứ 13. Bia vẫn được khắc đều đặn vào cuối Triều Lê, thời Cảnh Hưng. Vào năm 1802, vua Gia Long đổi tên thành Văn Miếu Hà Nội. Vì vậy vào thời nhà Nguyễn, Văn Miếu chỉ còn là Văn Miếu của trấn Bắc Thành. Thực dân Pháp đã nã đại bác vào năm 1947 làm đổ sập căn nhà, chỉ còn lại nền và hai cột đá, 4 nghiên đá. Toàn bộ khu Thái Học ngày nay với diện tích 1530m2 được xây dựng trên tổng diện tịc 6150m2. Kiến trúc của Văn Miếu Lê Quý Đôn đã miêu tả Văn Miếu thời nhà Lê trong cuốn Kiến văn tiểu lục rằng: Cửa Đại Thành Nhà 3 gian 2 chái, lợp bằng ngói đồng, Tây Vũ và Đông vũ 2 dãy đều 7 gian, cửa nhỏ 1 gian phía sau, điện canh phục gồm 1 gian 2 chái, 2 gian nhà bếp, kho tế khí 3 gian 2 chái, cửa Thái học 3 gian, có tường ngang lợp bằng ngói đồng (ngói ống), nhà bia phía đông và tây đều 12 gian, kho để ván khắc sách 4 gian, ngoại nghi môn 1 gian, xung quanh đắp tường, cửa hành mã ngoài tường ngang 3 gian, nhà Minh Luân 3 gian 2 chái, Cánh cửa nhỏ bên tả và bên hữu đều 1 gian và có tường ngang. nhà giảng dạy nằm ở phía đông và phía tây, có 2 dãy, mỗi dãy đều 14 gian. Phòng học của học sinh tam xá nằm ở phía tây và phía đông đều ba dãy, mỗi dãy có 25 gian, mỗi gian ở 2 người. Kiến trúc của toàn bộ Văn Miếu hiện nay đều là kiến trúc của thời đầu nhà Nguyễn. Khuôn viên là bốn bức tường được xây bằng gạch vồ. Ngày nay, kiến trúc Văn Miếu được chia làm ba khu vực chính: Văn Hồ, vườn Giám và cuối cùng là nội tự Văn Miếu. Văn Miếu môn Phía trước Văn Miếu môn gồm có tứ trụ (nghi môn) và hai tấm bia Hạ mã(下馬) nằm ở hai bên, đó chính là mốc ranh giới chiều ngang ở phía trước mặt cổng. Thời xưa đã quy định rằng: Dù là công hầu hay khanh tướng, dù cho đi bằng võng lọng hay xe ngựa, cứ hễ đi qua Văn Miếu đều phải xuống đi bộ từ tấm bia Hạ mã bên này cho tới tấm bia Hạ mã bên kia, sau đó mới được lên lại xe ngựa. Tứ trụ được xây dựng bằng gạch, ở hai trụ giữa được xây cao hơn và có hình hai con nghê chầu vào. Theo quan niệm tâm linh thì đây chính là vật linh thiêng có khả năng nhìn ra kẻ ác hay người thiện. Hai trụ phía ngoài được đắp nổi bốn con chim phượng chắp đuôi vào nhau. Trên tứ trụ có câu đối chữ Hán được tạm dịch là: “Đông, tây, nam, bắc cùng đạo này” – “Công, khanh, sĩ phu xuất thân từ đường này” Văn miếu môn có ý nghĩa là cổng tam quan phía ngoài. Cổng gồm có ba cửa, cửa ở giữa cao to và được xây 2 tầng. Tầng trên của cửa có ba chữ 文廟門 (Văn miếu môn). Kiến trúc của Văn Miếu môn rất độc đáo. Nhìn bên ngoài cửa tam quan là ba kiến trúc riêng biệt. Cửa chính giữa thực chất được xây hai tầng, mặt bừng hình vuông, tầng dưới to, tầng trên nhỏ chồng lên tầng dưới. Đại Trung môn Không gian thứ nhất đi từ cổng chính Văn Miếu môn được gọi là khu Nhập đạo, đi theo đường thẳng tới cánh cổng thứ hau là Đại Trung môn. Bên trái ngang hàng với Đại Thành môn là Thành Đức môn, bên phải là Đạt Tài môn. Ngày nay, hai bên là không gian xanh của cây cối và thảm cỏ. Hai bên tả hữu của toàn bộ khu Văn Miếu, cùng với tường ngang của Văn Miếu môn tạo thành một khu hình gần vuông, tường vây khép kín ra vào bằng Văn Miếu môn. Có hai chiếc hồ hình chữ nhật nằm sát theo chiều dọc bên ngoài. Cảnh vật ở đây tạo một cảm giác thanh tịnh, trang nhã. Cửa Đại Trung môn có kiến trúc 3 gian, xây trên một nền gạch cao, mái lợp ngói mũi hài, gồm hai hàng cột hiên trước và sau, ơt giữa có một cột chống nóc. Một tấm biển nhỏ đề 3 chữ Đại Trung môn. Khuê Văn Các Bước qua Đại Trung môn, đi sâu vào phía bên trong, các bạn sẽ được chiêm ngưỡng môt biểu tượng của thủ đô Hà Nội, đó chính là Khuê Văn Các. Khuê Văn Các – gác vẻ đẹp của sao Khuê là một lầu vuông gồm tám mái, bốn mái thượng và bốn mái hạ. Khuê Văn Các cao gần chin thước, được Tổng trấn Nguyễn Văn Thành triều nhà Nguyễn cho xây dựng vào năm 1805. Gác được dựng trên một nền vuông lát gạch Bát tràng cao cân xứng, mỗi bề có chiều dài 6,8m. Phải đi qua ba bậc thang đá mới bước lên được nền vuông này. Khuê Văn Các có kiến trúc rất hài hòa và độc đáo. Tầng dưới có 4 trụ gạch vuông, mỗi trụ dài 1m và trên mặt trụ đều được trạm chỗ hoa văn tinh xảo. Tầng trên có kiến trúc gỗ sơn son thếp vàng, trừ mái lợp và những phần góc mái được làm bằng chất liệu vôi cát hoặc đất nung có độ bền cao. Có hai khoảng trống được chừa lại trên sàn gỗ để bắc thang lên gác. Bốn cạnh sàn là diềm gỗ được trạm chổ tỉ mỉ, tinh vi. Bố góc sàn cũng được làm bằng gỗ. Bốn mặt tường của Khuê Văn Các được bịt ván gỗ, mỗi mặt có một cửa tròn có thanh gỗ chống tỏa ra bốn phía. Những thanh gỗ và cửa tượng trưng cho sao Khuê và tia sáng của sao. Sát mái phía trên cửa ngoài vào có treo một biển sơn son thếp vàng khắc ba chữ 奎文閣(Khuê Văn Các). Trên mỗi mặt tường gỗ đều được chạm một câu đối chữ Hán. Cả bốn câu đối đều rất có ý nghĩa. Bia Tiến sĩ, giếng Thiên Quang Tại Văn Miếu, di tích có giá trị bậc nhất có lẽ là 82 tấm bia Tiến sĩ được dựng ở hai bên của giếng Thiên Quang. Mỗi bên có 41 tấm dựng thành hai hàng ngang, mặt bia quay về phía giếng. Mỗi vườn bia hai bên xây một tòa đình vuông, 4 mặt đều bỏ trống, có nền cao ở giữa, có bệ, cửa trông thẳng xuống giếng. Thời xưa, hàng năm vào xuân thu nhị kỳ, tại Văn Miếu đều làm lễ tế, soạn sửa lễ vật cúng bái các vị tiên nho của nước ta mà quý danh còn khắc trên bia đá. Trong 82 tấm bia, tấm sớm nhất được dựng vào năm 1484, tấm cuối cùng vào năm 1780. Có nhiều tấm bia nọ lắp vào rùa của tấm bia khác, nhiều tấm bị nứt vỡ phải hàn gắn lại. Thiên Quang mang ý nghĩa là ánh sáng bầu trời. Người xây dựng đã đặt tên này cho giếng có ý nói là con người đều thu nhận được tinh túy của vũ trụ, tri thức soi sáng, tô đẹp nhân văn. Giếng có hình vuông, quanh giếng được xây hàng lan can cao ngang lưng. Người xưa quan niệm rằng, giếng hình vuông tượng trưng cho đát, cửa tròn Khuê Văn Các tượng trưng cho trời. Tinh hoa của cả đất trời đều tập trung về đây. Bước qua cửa Đại Thành, các bạn sẽ bước vào không gian thứ ba, là khu vực chính của Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Cửa Đại Thành có kiến trúc 3 gian cùng với hai hàng cột hiên trước và sau, một hàng cột ở giữa. Trên giáp nóc chính giữa có treo một bức hoành khắc 3 chữ 大成門 (Đại thành môn). Cánh Cửa Đại Thành là nơi mở đầu cho khu vực của những nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Thất Thập nhị hiền… Đây cũng chính là nơi giảng dạy của trường giám ngày xưa. Đại Thành là một cái tên mang đầy ý nghĩa – cửa của sự thành đạt lớn lao. Sân của Đại Thành môn rất rộng được lát gạch Bát Tràng. Hai bên là Tả vu và Hữu vu, trước mặt là tòa Đại Bái Đường trang nghiêm, rộng rãi và trải dài suốt chiều rộng của sân. Phía sau Đại Bái Đường là tòa Thượng Điện. Đền Khải Thánh Đền Khải Thánh nằm ở phía sau cùng của Văn Miếu. Để đi từ Đại Thành môn, các bạn có thể đi theo hai con đường lát gạch phía Tả Vu và Hữu vu, hoặc đi từ sau lưng Thượng Điện qua cửa Tam quan. Cha mẹ Khổng Tử là Thúc Lương Ngột và Nhan Thị được thờ tại đền Khải Thánh. Nửa phần diện tích của khu là phía sân trước, sân bị một con đường lát gạch ngăn đôi dẫn từ tam quan lên chính giữa điện thờ. Kiến trúc của đền Khải Thánh khá sơ sài nhưng vẫn có Tả vu, Hữu vu và điện thờ ở giữa. Xưa đền Khải Thánh vốn là Quốc Tử Giám hay còn được gọi là nhà Thái Học, nơi rèn luyện nhân tài cho nhiều triều đại. Theo như văn tịch thì khu Khải Thánh xưa có 150 gian phòng dành cho giám sinh, hay còn gọi là khu cư xá. Thực dân Pháp đã bắn đại bác phá hủy toàn bộ khu giám sinh vào năm 1946, không còn sót lại một kiến trúc nào. Ngày nay hoàn toàn là kiến trúc mới. Toàn bộ mái của đền được lớp hai lớp ngói lót. Các cột giữa nhà và chân đá tảng đặt một tấm chì dày 1,5mm để chống ẩm từ dưới lên. Nền sân được lát gạch có kích thước 30x30x4cm. Xung quanh đều được bó vỉa bằng đá xanh. Quy mô của khu Thái Học mới hiện nay rất bề thế, trang nghiêm và hài hòa với kiến trúc chung của Văn Miếu. Hiện có rất nhiều những cổ vật con đang được lưu giữ tại đây. Theo Hội Di sản Văn hoá Việt Nam https://hoidisanvanhoa.vn/van-mieu-quoc-tu-giam-ngoi-truong-dai-hoc-dau-tien/

27/01/2026