Nạn nhân 'hợp đồng kỳ nghỉ' có đòi được tiền?
23/06/2026 | Tác giả: Admin Lượt xem: 6
Sau khi hàng loạt đường dây bán hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ bị khởi tố vì dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hàng nghìn khách hàng trên cả nước đang cùng đặt câu hỏi: số tiền hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỉ đồng đã bỏ ra liệu có cơ hội được thu hồi?
Được xem là tài sản bị chiếm đoạt
Sau nhiều năm bung mạnh trên thị trường du lịch nghỉ dưỡng, mô hình sở hữu kỳ nghỉ đang bước vào giai đoạn bị rà soát và xử lý mạnh tay. Chỉ trong tháng 6.2026, cơ quan công an tại Hà Nội và TP.HCM đã đồng loạt công bố kết quả điều tra nhiều vụ án liên quan hoạt động bán thẻ nghỉ dưỡng, gói du lịch dài hạn và hợp đồng kỳ nghỉ có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Công an Hà Nội đã khởi tố 21 vụ án và 187 bị can liên quan việc lừa bán "hợp đồng kỳ nghỉ"
ẢNH: N.B
Tại Hà Nội, Công an TP.Hà Nội cho biết đã khởi tố 21 vụ án, khởi tố 187 bị can liên quan hoạt động bán các gói nghỉ dưỡng, du lịch. Bước đầu, cơ quan điều tra (CQĐT) xác định 493 người bị hại với tổng số tiền bị chiếm đoạt hơn 181 tỉ đồng. Theo điều tra, các đối tượng thường tổ chức hội thảo, chương trình tri ân khách hàng, mời nhận quà tặng hoặc kỳ nghỉ miễn phí để tiếp cận người dân. Sau đó, khách hàng được giới thiệu các gói nghỉ dưỡng dài hạn cùng những lời hứa về quyền lợi nghỉ dưỡng, khả năng chuyển nhượng hoặc gia tăng giá trị trong tương lai nhằm thuyết phục ký hợp đồng và thanh toán ngay tại chỗ. Tại TP.HCM, Công an TP.HCM cũng đã khởi tố 11 vụ án liên quan các đường dây bán hợp đồng kỳ nghỉ có dấu hiệu lừa đảo. CQĐT xác định các đối tượng đã ký hơn 5.500 hợp đồng với khách hàng, số tiền chiếm đoạt bước đầu hơn 612 tỉ đồng. Nhiều doanh nghiệp (DN) sử dụng dữ liệu khách hàng để gọi điện mời tham dự các sự kiện nhận quà, voucher nghỉ dưỡng hoặc chương trình tri ân, sau đó giới thiệu các gói nghỉ dưỡng cao cấp kéo dài nhiều năm với những quyền lợi hấp dẫn được quảng bá như có thể chuyển nhượng, đầu tư sinh lời hoặc gia tăng giá trị theo thời gian.
Khi các vụ án bước vào giai đoạn điều tra, vấn đề được nhiều người quan tâm nhất là liệu những khoản tiền đã nộp có cơ hội được lấy lại hay không?
Hợp đồng và chứng từ thanh toán là căn cứ quan trọng để đòi lại tiền
ẢNH: N.B
Trao đổi với PV Thanh Niên chiều 22.6, luật sư (LS) Trần Viết Hà, Giám đốc Công ty luật TNHH MTV Hà và cộng sự, cho biết việc DN bị khởi tố hoặc đang bị điều tra không đồng nghĩa tất cả các hợp đồng đã ký đương nhiên vô hiệu. Tuy nhiên, khách hàng vẫn có nhiều cơ sở pháp lý để yêu cầu hoàn trả tiền. Nếu DN vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, cung cấp thông tin sai sự thật, quảng cáo không đúng cam kết hoặc không thực hiện được các quyền lợi đã hứa, khách hàng có thể yêu cầu chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng và đòi lại khoản tiền đã thanh toán theo quy định của bộ luật Dân sự và luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong trường hợp CQĐT xác định DN có hành vi gian dối ngay từ đầu nhằm chiếm đoạt tài sản của khách hàng, khoản tiền người mua đã nộp có thể được xem là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án hình sự. Khi đó, khách hàng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị cơ quan tố tụng buộc bị can, bị cáo hoặc các tổ chức, cá nhân liên quan hoàn trả số tiền đã nhận. Đây là phần yêu cầu dân sự được giải quyết ngay trong vụ án hình sự.
Cùng quan điểm, LS Huỳnh Quốc Nhân (Giám đốc Công ty luật TNHH Nhân, Đoàn LS TP.HCM) khẳng định: Người mua không mất quyền đòi lại tiền chỉ vì DN bị điều tra. Nếu quan hệ giữa các bên được xác định là tranh chấp dân sự, khách hàng có thể khởi kiện yêu cầu hủy bỏ hoặc chấm dứt hợp đồng để đòi lại tiền. Nếu vụ việc có dấu hiệu lừa đảo hoặc huy động vốn trái pháp luật, khách hàng có quyền yêu cầu bồi thường và được xem xét hoàn trả từ các tài sản, khoản tiền mà cơ quan chức năng thu hồi được trong quá trình điều tra.
Điều quan trọng nhất lúc này là người mua cần lưu giữ đầy đủ hợp đồng, phụ lục, hóa đơn, phiếu thu, chứng từ chuyển khoản, thư điện tử, tin nhắn hoặc các tài liệu quảng cáo thể hiện nội dung tư vấn của DN. Đây là những căn cứ quan trọng để chứng minh thiệt hại và xác định số tiền đã giao dịch.
Nhiều khách hàng đã chi hàng trăm triệu đồng để mua các gói sở hữu kỳ nghỉ
ẢNH: N.B
Nên chủ động tham gia tố tụng
Một thực tế đáng chú ý là không ít khách hàng sau khi biết DN bị khởi tố thường chỉ chờ kết quả điều tra mà không chủ động thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết. LS Trần Viết Hà khuyến nghị, khách hàng nên nhanh chóng gửi đơn trình báo hoặc đơn đề nghị xác định tư cách người bị hại đến CQĐT đang thụ lý vụ án; trong đơn cần nêu rõ quá trình giao dịch, số tiền đã thanh toán, các quyền lợi được DN cam kết và thiệt hại thực tế đã phát sinh. Khi được xác định là người bị hại hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, khách hàng sẽ có quyền cung cấp chứng cứ, yêu cầu bồi thường, tiếp cận một số thông tin về quá trình giải quyết vụ án, khiếu nại các quyết định tố tụng và tham gia phiên tòa để bảo vệ quyền lợi của mình.
LS Đinh Thị Mai Phương (Đoàn LS TP.HCM) khuyến cáo, người mua cần chủ động trình báo, tố giác hành vi vi phạm đến CQĐT ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường. Trường hợp đủ căn cứ xác định tư cách bị hại, khách hàng sẽ được tham gia tố tụng theo quy định của bộ luật Tố tụng hình sự. Nếu CQĐT xác định số tiền khách hàng đã nộp là tài sản bị chiếm đoạt hoặc khoản thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội thì đây là cơ sở quan trọng để xem xét hoàn trả cho người bị hại trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, việc được tòa án tuyên buộc bồi thường không đồng nghĩa chắc chắn nhận lại toàn bộ số tiền đã mất.
LS Huỳnh Quốc Nhân cho hay yếu tố quyết định khả năng thu hồi tiền trong các vụ việc tương tự vẫn là việc cơ quan chức năng có kịp thời xác định, phong tỏa, kê biên và thu hồi được tài sản của DN hoặc các cá nhân liên quan hay không. Nếu tài sản được bảo toàn ngay từ giai đoạn đầu điều tra, cơ hội hoàn trả cho người bị hại sẽ cao hơn đáng kể.
LS Mai Phương thì nhấn mạnh, điều kiện thi hành án mới là nút thắt lớn nhất. Trong nhiều vụ án kinh tế, dù tòa án tuyên buộc bồi thường nhưng DN hoặc bị cáo không còn tài sản để thi hành án, hoặc tài sản đã được chuyển dịch qua nhiều chủ thể khác nhau trước khi bị phát hiện; khi đó việc thu hồi tài sản cho người bị hại trở nên vô cùng khó khăn. Bên cạnh đó, số lượng người bị hại và tổng thiệt hại thực tế cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bồi thường. Trong không ít vụ án, giá trị tài sản thu hồi được thấp hơn rất nhiều so với tổng thiệt hại, dẫn đến việc phân chia theo tỷ lệ thay vì hoàn trả đầy đủ cho tất cả các nạn nhân.


