Thánh địa Chùa Bà Đen trên núi Bà Đen (Ảnh ST) 1. Vị trí của ngôi chùa Chùa tọa lạc ở lưng chừng núi Bà Đen, thuộc địa bàn ấp Ninh Trung, xã Ninh Sơn, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Chùa theo phái Bắc tông. 2. Thăm quan chùa Bà Đen Bởi vị trí ở lưng chừng núi Bà Đen - đỉnh núi cao nhất Đông Nam Bộ, việc lên đến chùa có thể mất một khoảng thời gian. Du khách có ba phương tiện để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của chùa: đi bộ, sử dụng cáp treo hoặc trải nghiệm hệ thống máng trượt độc đáo tại đây. Hành trình bộ đường lên chùa (Ảnh ST) Sử dụng hệ thống cáp treo, chỉ mất 15-20 phút là bạn đã đến được chùa (Ảnh ST) Khám phá hệ thống máng trượt độc đáo tại đây (Ảnh ST) Khu di tích này gồm ba ngọn núi: Núi Bà. Núi Phụng. Hàng trăm hang động Núi Heo. Các chùa chiền. Trong số đó, nổi bật nhất là Linh Sơn Tiên Thạch, hay còn được biết đến với tên gọi chùa Bà Đen. Ngoài ra, còn có chùa Hang, chùa Trung... Bức tranh tĩnh lặng của chùa Bà Đen (Ảnh ST) Ngôi chùa này đã tồn tại hơn 300 năm, ban đầu chỉ là một miếu nhỏ, sau đó được tu sửa, xây dựng lại như ngày nay. Chùa Bà Đen chặt chẽ liên quan đến câu chuyện về Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen), nên khi đến đây, hãy ghé thăm Điện Bà - nơi thờ Bà Đen ở lưng chừng núi. Ngôi chùa nằm giữa dãy núi yên bình (Ảnh ST) Chùa Bà Đen khởi công xây dựng vào năm 1996 và hoàn thành vào năm 1997 với kiến trúc hòa quyện giữa nhiều dạng chùa truyền thống trong nước. Hiện nay, hai cột đá xanh từ thời Tổ Lâm hòa (khoảng năm 1919), cao 4,5 m, đường kính 0,45m vẫn được bảo tồn. Ngôi chùa nằm giữa dãy núi yên bình (Ảnh ST) Người dân thường xuyên đến hành hương và thưởng ngoạn vẻ đẹp của chùa (Ảnh ST) Người dân trong khu vực cũng như du khách từ xa thường đến hành hương, đặc biệt là vào tháng giêng và những ngày lễ vía Bà, diễn ra vào ngày 5, 6 tháng Năm âm lịch. 3. Những điều cần chú ý khi thăm chùa Trong lúc thăm chùa, hãy ăn mặc trang trọng, kín đáo, và điều trọng. Đối với những người tu theo Phật giáo, khi thăm chùa, hãy mặc áo lễ. Nên mang theo giày thể thao hoặc giày bệt để thuận tiện khi leo núi. Trong những ngày lễ hội, lưu ý rằng có nhiều người dân và du khách từ xa đến thăm chùa Bà Đen, vì vậy hãy chú ý đến trường hợp có người xấu trà trộn vào đám đông. Theo MyTour https://mytour.vn/vi/blog/bai-viet/chua-ba-den-den-tho-co-noi-bat-nhat-tai-tay-ninh.html
Lối mòn giữa rừng dẫn vào Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, nơi mỗi bước chân gợi nhớ một thời lịch sử hào hùng. Nơi ký ức lịch sử tiếp nối Con đường nhỏ xuyên rừng dẫn vào nơi từng là không gian làm việc của các lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam phủ một màu xanh trầm mặc rất riêng. Tiếng gió lùa qua tán lá, khe khẽ như lời thì thầm của lịch sử. Giữa không gian tưởng chừng chỉ còn dấu vết của thời gian, mỗi bước chân hôm nay lại chạm vào ký ức của một giai đoạn không thể nào quên. Những căn hầm chữ A thấp thoáng dưới tán rừng già, những căn nhà làm việc được lợp mái bằng lá trung quân giản dị. Không bảng vàng, không sự cầu kỳ nhưng chính sự giản đơn ấy khiến người ta lặng đi. Giữa rừng sâu, từ những căn nhà bé nhỏ, đơn sơ này, những quyết sách mang tầm vóc lịch sử đã được hình thành, dẫn dắt cả chiến trường miền Nam trong những năm tháng khốc liệt nhất. Những căn hầm làm việc giản dị tại Trung ương Cục miền Nam được bảo tồn giữa tán rừng già Tây Ninh. Dòng người tham quan đủ mọi lứa tuổi, từ những em học sinh lần đầu theo chân thầy cô về nguồn, các bạn sinh viên trẻ mang theo sự tò mò, đến những cựu chiến binh mái đầu đã bạc phơ, lặng lẽ trở lại chiến trường xưa. Tất cả cùng chậm rãi bước đi dưới tán rừng, lắng nghe từng câu chuyện được người thuyết minh kể lại. Có em học sinh khẽ cúi đầu trước tấm bia ghi danh các đồng chí lãnh đạo từng sống, làm việc và hy sinh tại mảnh đất này; có cựu chiến binh đứng lặng thật lâu bên những hiện vật thời kháng chiến, nơi từng đỏ lửa giữa mưa bom, bão đạn, như tìm lại một phần ký ức của chính mình... Bạn Nguyễn Minh Khoa, sinh viên năm ba đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, dừng lại trước căn nhà làm việc của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, giọng chùng xuống: “Em từng nghĩ lịch sử là những con số, mốc thời gian khô khan. Nhưng khi đứng ở đây, giữa rừng, em mới cảm nhận rõ sự gian khổ và ý chí phi thường của thế hệ đi trước. Mọi thứ rất thật và rất gần”. Cách đó không xa, Lê Thảo Nguyên, đoàn viên trẻ của tỉnh Tây Ninh, lau vội giọt mồ hôi sau quãng đường đi bộ dài, ánh mắt ánh lên niềm xúc động: “Em sinh ra ở Tây Ninh, nhưng đến khi tận mắt thấy những căn hầm, con suối, lối mòn này, em mới hiểu vì sao nơi đây được gọi là trái tim của cách mạng miền Nam. Cảm giác tự hào và biết ơn đến rất tự nhiên”. Không gian rừng xanh bao bọc Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, yếu tố gắn liền với lịch sử tồn tại của di tích. Trở về nơi từng in dấu những năm tháng chiến tranh, bà Phạm Thị Huê (77 tuổi, cựu chiến sĩ giao liên) lặng người giữa không gian rừng xanh. Ký ức xưa như ùa về. Bà kể, trong những năm tháng ấy, bà cùng đồng đội gùi trên lưng những thùng công văn, tài liệu, tiền bạc nặng trĩu, lặng lẽ băng rừng xuyên đêm. Có lần đơn vị bị bom đánh trúng, nhiều người đã nằm lại. Bà Huê là một trong số ít may mắn sống sót khi kịp thời đưa đồng đội bị thương vào bệnh xá. Nhắc lại quãng thời gian đó, bà không giấu được sự nghẹn ngào: “Đó là ký ức không thể nào quên”. Với bà, việc gìn giữ những "địa chỉ đỏ" như Căn cứ Trung ương Cục miền Nam không chỉ để tưởng nhớ quá khứ, mà còn để lớp trẻ hôm nay có cơ hội hiểu rằng nền độc lập, tự do được đánh đổi từ bao gian lao, mất mát và sự hy sinh thầm lặng của cha ông. Ở nơi đây, không cần những lời thuyết giảng dài dòng, chính không gian rừng, những hiện vật giản dị và câu chuyện của lịch sử đã tự kể bằng cách của mình. Căn cứ Trung ương Cục miền Nam vì thế trở thành “địa chỉ đỏ” đặc biệt - nơi quá khứ không nằm yên trong ký ức, mà tiếp tục lan tỏa, đánh thức trách nhiệm, lý tưởng và niềm tin trong mỗi thế hệ hôm nay. Lập quy hoạch tu bổ, phục hồi di tích Sự hòa quyện giữa di tích lịch sử và cảnh quan sinh thái tạo nên sức hút riêng cho Căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Ảnh: Giang Phương/TTXVN Với giá trị đặc biệt của di tích, thời gian qua, tỉnh Tây Ninh đã tập trung triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy hiệu quả Căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Riêng trong năm 2025, nhiều hạng mục quan trọng đã được hoàn thiện, nâng cấp, nổi bật là việc đưa vào sử dụng các thiết bị số hiện đại tại nhà trưng bày và ứng dụng công nghệ 3D mapping trong trình chiếu phim tư liệu, góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, đồng thời làm phong phú trải nghiệm cho du khách. Đặc biệt, ngày 15/1/2026, Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đã ký Quyết định số 88/QĐ-TTg phê duyệt Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Căn cứ Trung ương Cục miền Nam. Theo đó, phạm vi nghiên cứu quy hoạch có tổng diện tích khoảng 291,25 ha; quy mô lập quy hoạch khoảng 241,25 ha, bao gồm Di tích Căn cứ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (30 ha), Di tích Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (60 ha) và Di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (151,25 ha). Mục tiêu của quy hoạch nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa, cảnh quan – sinh thái của khu di tích, thông qua việc phục dựng không gian căn cứ dựa trên cơ sở tư liệu và kết quả nghiên cứu khoa học, gắn với phát triển du lịch theo hướng hài hòa, bền vững. Qua đó, hình thành điểm du lịch lịch sử - văn hóa - cách mạng hấp dẫn, kết nối với các di tích và điểm đến khác của tỉnh Tây Ninh và vùng Đông Nam Bộ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Du khách lắng nghe thuyết minh về vai trò lịch sử của Căn cứ Trung ương Cục miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ. Ảnh: Giang Phương/TTXVN Nhiệm vụ lập quy hoạch yêu cầu phân tích, đánh giá toàn diện hiện trạng di tích và quỹ đất; tổ chức sưu tầm, nghiên cứu, bổ sung tư liệu, tài liệu liên quan đến di tích; thu thập thông tin thông qua phỏng vấn nhân chứng nhằm hoàn thiện hồ sơ hệ thống di tích, làm cơ sở phục vụ công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích; khảo sát, đánh giá các yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội có liên quan đến di tích; xác định giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trong khu vực di tích; ghi nhận các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội gắn liền với di tích. Quy hoạch sẽ đánh giá hiện trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích; rà soát tình hình thực hiện các dự án đầu tư tu bổ, tôn tạo. Trên cơ sở đó, xác định ranh giới bảo vệ di tích, khu vực cảnh quan văn hóa, khu vực hạn chế xây dựng và khu vực xây dựng mới; đề xuất định hướng bảo quản, tu bổ, phục hồi từng hạng mục, bảo đảm hài hòa giữa gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Theo Báo Tin tức và Dân tộc https://baotintuc.vn/van-hoa/di-tich-can-cu-trung-uong-cuc-mien-nam-diem-tua-ky-uc-va-niem-tin-20260126133438573.htm
Nhắc đến Tây Ninh, bạn có nghĩ ngay đến chiến công hiển hách của 3 anh hùng nhà họ Huỳnh năm ấy? Dù có hay không thì khi du lịch Tây Ninh bạn cũng nên đến Đền thờ Quan lớn Trà Vong một lần. Vì đây chính là địa điểm tâm linh mang giá trị truyền thống văn hóa và cả lịch sử. 1 Sơ lược về Đền thờ Quan lớn Trà Vong 1.1 Đôi nét về Đền thờ Quan lớn Trà Vong Nơi chôn cất Quán lớn Trà Vong - Ông Huỳnh Công Giảng tại ấp Trà Hiệp xã Trà Vong, Tân Biên. Nhưng đền thờ của ông thì được lập tại nhiều nơi trên đất Tây Ninh để tiện cho nhân dân đến cúng kiếng. Đây còn là nơi diễn ra 1 trong 7 lễ hội Tây Ninh quan trọng nhất. Bàn thờ Quan lớn Trà Vong của ông Huỳnh Công Nghệ được bày trí vô cùng trang nghiêm với đầy đủ các đồ cúng kiếng như hoa, đèn, nhang, trái cây… Nhãn 1.2 Ý nghĩa của Đền thờ Quan lớn Trà Vong Theo tư liệu lịch sử ghi lại, khi 3 ông anh em nhà họ Huỳnh hay tin vùng biên cảnh Tây Ninh đang bị giặc Miên xâm phạm, cướp bóc người nghèo thì đã cùng nhân dân nơi đây rèn luyện võ nghệ để bảo vệ xóm làng. Năm 1749, Triều Đình Huế đã đề cử ba anh em là ông Huỳnh Công Thắng, Huỳnh Công Giảng và Huỳnh Công Nghệ là các quan đại thần vào trấn nhậm vùng đất Tây Ninh. Nhờ vào đội binh hùng hậu cùng với mưu trí hơn người nên ba ông đã thực hiện việc di dân khai hoang lập ấp và gìn giữ biên cương một cách trọn vẹn. Vào năm 1782, khi quân Miên đánh chiếm thành Trà Vong, ông Huỳnh Công Giảng quyết tử để bảo vệ bờ cõi. Sau cuộc chiến quyết liệt đó, tuy có nhiều mất mát nhưng sự hy sinh của các ông là vô cùng ý nghĩa đối với người dân Tây Ninh và cả đất nước. Theo Ban cúng tế Miếu Trà Vong, dù không được triều Nguyễn sắc phong thần cho ông. Nhưng nhân dân vẫn lập miếu thờ và phong thần cho ngài để nhớ đến công đức khi xưa. Hằng năm, nơi đây đều có nhiều người đến chiêm bái, múa lân bên miếu để tưởng niệm về công ơn của các bậc tiền nhân. Đồng thời, đây cũng là nơi người dân đến để cầu cho mưa thuận gió hòa, gia đình bình an, làm ăn suôn sẻ. Thật tuyệt vời khi nét đẹp văn hóa này cần được giữ gìn và phát huy. Bàn thờ Quan lớn Trà Vong của ông Huỳnh Công Nghệ được bày trí vô cùng trang nghiêm với đầy đủ các đồ cúng kiếng như hoa, đèn, nhang, trái cây… 2 Kiến trúc độc đáo của từng Đền thờ Quan lớn Trà Vong 2.1 Đền thờ Quan lớn Trà Vong (Thái Vĩnh Đông, phường I) Đền thờ Quan lớn Trà Vong được xây trên gò đất cao với nhiều cây dầu cổ thụ bao quanh ở phía trước. Cấu trúc 3 gian, hình chữ nhị (2 lớp), tường xây gạch, mái lợp ngói âm dương tuy quen mà lạ. Kích thước đền có chiều dài khoảng 14m, ngang tầm 10m. Chánh điện có sắc phong chữ thân cùng những món đồ thờ cúng trang trọng như lư hương, chân đèn, lễ bộ… Điểm đặc sắc mà sẽ thu hút ánh nhìn của bạn chính là trên nóc là hoành phi và bức đại tự sơn son thếp vàng "Đáp tạ thần ân" vô cùng tinh vi và đẹp mắt. Cùng với đó là câu đối thể hiện rõ nét tấm lòng tri ân của nhân dân Tây Ninh: "Nhật tảo xuất anh tài vị quốc vong ân Trứ trứ phương danh thuỳ trúc bạch Tà dương trữ mạn tặc, ưu quân trí mạng Nguy nguy chính khí quán sơn hà" 2.2 Đền thờ Quan lớn Trà Vong ở xã Mỏ Công (Tân Biên) Đền thờ Quan lớn Trà Vong nằm gần Quốc lộ 22B gần trung tâm xã Mỏ Công. Nơi đây có cái tên thân thuộc hơn là "Dinh ông lớn Trà Vong". Cổng vào có chút khác biệt hơn lối xây dựng theo hình chữ nhị 5m x 9m. Dinh thờ bao gồm phần tiền đền và chính đền. Tương tự như các Đền thờ Quan lớn Trà Vong khác, phần chính đền có hoành phi đề "Quan lớn Trà Vong", ở giữa và bên trái "Long phi niên Đinh dậu" còn bên phải là "Quan đại thần chuyển binh" tất cả đều được ghi bằng hán tự. 2.3 Đền thờ Quan lớn Trà Vong ở xã Thái Bình Địa chỉ: Quốc lộ 22, ấp Cầy Xiêng xã Thái Bình (Châu Thành). Đây là nơi còn lại giữ được phần hậu đền dù đã được xây dựng cách nay hơn 100 năm. Đền thờ Quan lớn Trà Vong có kiến trúc theo hình chữ tam, mái lợp ngói, tường gạch thể hiện sự cổ kính, nghiêm trang. Phần tiền đền rộng 6m x 6m, còn phía sau chỉ khoảng 3m x 3m. Một điểm nổi bật khác ở nơi đây chính là phần chánh điện có thờ bài vị và tượng quan lớn cao 1m đứng đeo gươm trận vô cùng lẫm liệt. Đây cũng chính là nơi được chọn để tổ chức Lễ giỗ Quan lớn Trà Vong. 2.4 Đền thờ Quan lớn Trà Vong ở Suối Vàng. Nơi đây được đặt sát chân núi Bà Đen nên có khí hậu nóng. Theo tương truyền, đây chính là nơi luyện tập binh mã của quan lớn Trà Vong. Năm 1995 do mở rộng lộ giới nên dân bản địa đã xây dựng lại Đền thờ Quan lớn Trà Vong một cách khang trang hơn. Đây cũng là Đền thờ Quan lớn Trà Vong lớn nhất hiện nay, với kiến trúc theo chữ hình tam, cột bê tông chắc chắn, tường gạch và cả mái lợp ngói đỏ ngay ngắn. Ngoài ra còn có các nền thờ ông Huỳnh Công Nghệ và Huỳnh Công Thắng ở những nơi khác như: Mộ và đền thờ ông Huỳnh Công Nghệ nằm cạnh khu dân cư tại Vàm Bảo, Bến Thứ rạch Vịnh xã Hảo Đước, Châu Thành. Ngôi đền thờ ông Huỳnh Công Thắng tại thành Bảo Quang Hoá, xã Cẩm Giang, Gò Dầu. Trước đây, nhân dân có xây dựng đền thờ rải rác khắp nơi nhưng do chiến tranh ác liệt kéo dài nên nhiều ngôi đền bị tàn phá và chưa có điều kiện để trùng tu hay xây dựng lại. Nhiều người đến Đền thờ Quan lớn Trà Vong để bày tỏ lòng biết ơn và thành tâm cầu bình an cho gia đình. Lăng mộ có kiến trúc độc đáo cùng những nét vẽ tinh tế tạo nên hình con rồng ở 2 bên. 3 Sự thay đổi của Đền thờ Quan lớn Trà Vong theo thời gian Ngay trước, Đền thờ Quan lớn Trà Vong có một chiếc bàn to khoảng 4m2 xếp đầy các đĩa trái cây hấp dẫn. Tại gian vỏ ca trước đền thờ, nay đã có chút thay đổi và được ghi là Nhà tưởng niệm Quan lớn Trà Vong. Những năm 90 khi vừa mới khánh thành ngôi mộ, người ta đã xây lăng nhưng vẫn giữ nguyên vẹn gò mối bên trên bằng cách úp lên một lồng kính có thông hơi. Đầu mộ và một bên có hai gốc trâm già ba trăm năm tuổi lẻ, nhưng nay chỉ còn một cây. Đến nay, quy mô khu Đền thờ Quan lớn Trà Vong đã lớn hơn gấp cả chục lần. Do được nhiều người đến để viếng thăm, nên bên ngoài khu đền, người ta dựng vài dãy nhà rạp bằng tôn để làm nơi buôn bán và ăn uống. Nếu bạn có tham gia vào những dịp quan trọng tại Đền thờ Quan lớn Trà Vong vào 12/2 âm lịch (ngày giỗ) và ngày 15 - 17/3 thì sẽ thấy nghi thức của nơi này gần giống như Lễ Kỳ Yên. Lễ vật chủ yếu là hoa, trái cây các loại, hương, đèn nến… Ngoài ra còn có ban nhạc, gánh hát đờn ca tài tử được tổ chức biểu diễn cho bà con xem. Không khí nhộn nhịp của ngày lễ tại Đền thờ Quan lớn Trà Vong Theo MIA.VN https://mia.vn/cam-nang-du-lich/den-tho-quan-lon-tra-vong-nho-mai-cong-lao-giu-nuoc-cua-bac-tien-nhan-8991
Khi đến Khu du lịch Tây Ninh bạn muốn đến đâu? Chắc chắn không thể thiếu Đình Hiệp Ninh - Nơi có kiến trúc độc đáo, lay động lòng người. Không chỉ dừng lại là một nơi sở hữu cảnh sắc tuyệt mỹ mà nơi đây còn là niềm tự hào của người dân Tây Ninh khi đạt chứng nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. 1. Tổng quan về Đình Hiệp Ninh 1.1 Đôi nét về Đình Hiệp Ninh Địa chỉ: Khu phố 4, Đường 30 tháng 4, phường 3, thành phố Tây Ninh. Đình Hiệp Ninh được xây dựng lần đầu vào năm 1880 với lối kiến trúc vô cùng đơn sơ chỉ bằng thanh tre nứa lá. Mãi đến đầu thế kỷ 20 thì mới được xây dựng lại với quy mô lớn như hiện nay. Trước cách mạng, ngôi đình này chủ yếu là nơi họp của Hội đồng hương chức, đến sau năm 1945 thì mới thực sự thuộc về nhân dân. Ngày 22/10/1993, Đình Hiệp Ninh được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Cổng Đình Hiệp Ninh hiên ngang, uy nghiêm. Dù đã tồn tại lâu đời nhưng đến nay nơi đây vẫn giữ được vẹn nguyên nét đẹp ấy 1.2 Ý nghĩa của việc xây dựng Đình Hiệp Ninh Đình Hiệp Ninh thờ vị Thành hoàng được coi như người bảo hộ cho dân làng có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đây không chỉ là công trình kiến trúc chứa đựng những giá trị lịch sử văn hóa mà còn thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Tây Ninh đối với những người đã có công khai hoang, mở cõi khi xưa. Trải qua rất nhiều năm, ngôi đình đã có những dấu hiệu xuống cấp nhưng nhờ sự quan tâm của Nhà nước và nhân dân Tây Ninh, tất cả cùng nhau góp công trùng tu lại để nơi đây giữ nguyên được giá trị lịch sử của một Di tích quốc gia. 2. Khám phá kiến trúc độc đáo của Đình Hiệp Ninh Đình Hiệp Ninh có khuôn viên rộng đến 800m2, được xem là ngôi đình có diện tích lớn nhất tại Tây Ninh. Kiến trúc đình được xây theo hình chữ tam bao gồm tiền đình, hậu đình và nhà khách. Phần chính diện có 5 gian với tường vách hai bên xây cao chiều dài 50m, có đầy đủ gác chuông, gác trống. Tại đây bạn có thể thấy Đình Hiệp Ninh khác với nơi khác ở chỗ lầu chuông gác trống được xây vuông, hai tầng chiếm gần một nửa hai gian đầu. Cũng nhờ lối kiến trúc này mà mặt dựng của ngôi đình được cân đối và vững chắc hơn. Toàn bộ nội thất tiền đình được bố trí một cách hài hòa toát lên sự huyền bí, nhưng cũng rất gần gũi. Những chi tiết đều theo phong cách đình thần nên khá trang nghiêm, cùng tông màu vàng nổi bật trên tường khiến nơi đây tỏa sáng dưới ánh mặt trời. Cửa chính có chia thành ba gian, gỗ được chạm khắc lộng hoa dây, bát quái trên bề mặt, ở giữa đắp cuốn thư, còn trên nóc tô điểm thêm lưỡng long chầu nguyệt sống động đến từng chi tiết nhỏ. Đây chính là kiểu dáng trên nóc tiền đình và hậu đình nhưng có mang hình thù của lưỡng long tranh châu và cá hóa rồng. Tổng thể kiến trúc gồm có 16 cây cột gỗ tròn với đường kính 30cm và 8 cái khác làm bằng gạch ốp sát tường tạo ra một công trình kiến trúc gỗ bề thế, hoàn hảo và nhằm giúp chống đỡ mái ngói âm dương. Tất cả tạo nên một không gian bên trong vô cùng lộng lẫy và vững chắc. Có thể nói, Đình Hiệp Ninh là một công trình nghệ thuật. Nó được thể hiện thông qua những hình ảnh điêu khắc gỗ với nghệ thuật chạm nổi, sơn son, thếp vàng tinh xảo. Nhờ đó mà nơi này như một điểm son để lưu dấu lại tài hoa của cha ông ta khi xưa. Từ hệ thống “cửa võng” với những mảng họa tiết cách điệu tạo nên nhiều hình ảnh thú vị như tre trúc cùng tứ linh, dây nho, tứ quý, các hoành phi, câu đối,... Tất cả đều được tạo nên từ bàn tay nghệ nhân. 3. Các hiện vật mang giá trị lịch sử vẫn được lưu giữ tại Đình Hiệp Ninh Mặc dù đã tồn tại rất lâu đời nhưng Đình Hiệp Ninh vẫn bảo vệ được những hiện vật quý hiếm để cho bạn được chiêm ngưỡng khi đến đây. Đầu tiên phải kể đến là sắc phong thần, món đồ này được Vua Khải Định thân phong cho Thành Hoàng bổn cảnh ngày 18/03/1917, vật phẩm này được làm từ quý, vải lụa thêu kim tuyến và đính hạt châu. Tiếp đến là nghi thờ “Thành Hoàng bổn xứ” với gỗ có niên đại 1901 cực kỳ quý báu, nó được chạm lộng hoa lá, vân mây, sơn son thếp vàng ở ba mặt trước và hai bên. Bàn thờ Thành Hoàng bổn cảnh được trang trí 1 tác phẩm gỗ điêu khắc vô cùng nghệ thuật với các đề tài lưỡng long chầu nguyệt, họa tiết vân mây, hoa lá. Còn đối với tủ thờ Đương kim Thiên Tử Thượng vị thì được dựng nên vào năm 1902 cùng với cặp rùa đội hạc, hai bên là hàng bát bửu đặt dưới cửa võng công phu vô cùng. Kiệu thỉnh sắc cũng là một vật phẩm đặc biệt khi được làm với 2 tầng mái cong 4 mặt, những cái trụ được chạm khắc hình con rồng, hoa dây và cửa võng. Mỗi năm, cứ vào dịp Lễ Kỳ Yên đều dùng chiếc kiệu này để đưa đi thỉnh sắc ở đền về đình làm lễ tế Thành Hoàng. Các ban thờ khác như Tả ban, hữu ban, tiền hiền, hậu hiền cũng được khang trang, bày trí long trọng không kém. Chưa dừng lại ở đó, bạn sẽ tiếp tục choáng ngợp khi nhìn thấy còn 9 bức hoành phi, mà mỗi hình là 1 đề tài khác nhau và có niên đại 1901, 1902 đến 1927. Đình Hiệp Ninh còn có 12 bộ câu đối (liễn) được treo trên 24 cột chính, được tạo tác công phu. Nội dung đều ca tụng công đức của tổ tiên và những người có công khai hoang mở cõi. Nơi đây chính là địa điểm để nhắc nhở chúng ta về các giá trị văn hóa của dân tộc, lấy trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm gốc. Màu vàng chính là tông chủ đạo của Đình Hiệp Ninh, nó được sơn một cách chỉn chu từ trong ra ngoài tạo thành một thể thống nhất và có chút điểm nhấn bởi các hình linh vật Những chiếc cột được làm bằng gỗ quý đen mun, trên đó còn có chữ tam bảo. Ngoài ra còn những đường nét tinh xảo, tinh tế cũng được đính trên cột và tường Đình Hiệp Ninh có đến 2 cổng và mỗi bên đều có câu đối mang hàm ý gợi nhớ lại công ơn khai hoang mở cõi của các bậc tiền nhân Kiến trúc độc đáo và ấn tượng với tượng rồng, cá, những chi tiết khác đều được điểm xuyến bằng những mảnh ve chai Không gian Đình Hiệp Ninh rộng lớn, thoáng đãng và bình yên đến lạ thường Trước khi đến đây bạn nên đọc qua nội quy tham quan Di tích Đình Hiệp Ninh để tuân thủ đúng nguyên tắc 4. Đình Hiệp Ninh minh chứng lịch sử thời kỳ mở đất phương Nam Không những sở hữu kiến trúc tinh xảo trên từng đường nét mà nơi đây còn là một địa điểm chứng kiến biết bao nhiêu sự kiện lịch sử hào hùng của dân tộc. Chẳng hạn như sự hiện diện của thanh niên Tiền phong trong cuộc tổng khởi nghĩa của dân quân Tây Ninh trong giành chính quyền vào ngày 25/8/1945. Đình Hiệp Ninh đã chứng kiến bao lần đi về của các chiến sĩ cộng sản kiên cường dù phải nằm gai, nếm mật vẫn nhất quyết một lòng cùng Đảng và dân. Giai đoạn năm 1959 - 1960, địa điểm này còn được vinh hạnh làm cơ sở của Tỉnh ủy Tây Ninh do đồng chí Hoàng Lê Kha chỉ huy. Toàn bộ khối kiến trúc nơi đây bảo tồn được phong cách đình làng cổ xưa nhưng lại mang đặc trưng đình thần Nam bộ. Vì nơi đây cũng là địa điểm bày tỏ lòng thành kính đối với bậc tiền nhân nên hằng năm sẽ có những lễ hội Tây Ninh đặc sắc mà bạn có thể tham gia. Với nét kiến trúc độc đáo được điêu khắc vô cùng kỳ công, Đình Hiệp Ninh chính là một điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích những công trình mang vẻ đẹp cổ kính thời xưa. Hãy bỏ vào cẩm nang du lịch địa điểm này để có dịp đến Tây Ninh ghé đến tham quan nhé! Theo MIA.vn https://mia.vn/cam-nang-du-lich/dinh-hiep-ninh-noi-luu-dau-tai-hoa-nghe-thuat-cua-cha-ong-ta-8990
Một trong ba huyệt đạo thiêng nhất nước Nam Trong Gia Định thành thông chí – một sử liệu quan trọng về Nam bộ thời nhà Nguyễn của Trịnh Hoài Đức viết vào đầu thế kỷ XIX, núi Bà Đen được mô tả như sau:"Giữa đất đồng bằng nổi lên ngọn núi Bà Đinh (Bà Đen), ngày đẹp trời, từ Sài Gòn có thể thấy ngọn núi này mờ mờ hiện ra trong mây. Tương truyền đây là ngọn núi thiêng, có chuông vàng ẩn hiện trong hồ, đêm trăng, có thuyền rồng bơi lượn múa hát du dương…". Theo đó, núi Bà Đen được coi là ngọn núi thiêng, ngọn núi chính trấn thành Gia Định (tức Sài Gòn), giống như núi Tản Viên ở Thăng Long hay núi Ngự Bình ở cố đô Huế. Đỉnh núi Bà Đen bồng bềnh trong mây Vì những huyền tích gắn liền với núi Bà Đen, mỗi năm, có hàng triệu người từ khắp các tỉnh thành, đặc biệt là vùng miền Nam về đây hành hương, chiêm bái. Ngay dưới chân núi vào những ngày Tết hoặc Rằm tháng Giêng, rất nhiều người chọn ngủ lại, phần để sáng hôm sau có thể lên đỉnh núi thật sớm, phần để cầu may mắn cho cả năm. Những ngày cuối tuần trong tháng Giêng, những đoàn xe kéo dài suốt từ Trảng Bàng đến chân núi là chuyện thường thấy. Họ đều có chung một hành trình là đến du xuân chiêm bái cầu an ở núi Bà. Theo chị Phạm Thị Nga (Vũng Tàu): "Núi Bà Đen là một ngọn núi thiêng, gia đình chúng tôi năm nào cũng đến đây ít nhất một lần. Gia đình tôi không ngại quá đông đúc hay tình trạng tắc đường khi gần đến núi Bà, bởi có thiêng thì nơi đây mới đông người tới đến vậy. Chúng tôi tin Bà sẽ chứng giám cho hành trình vất vả của mình và sẽ phù hộ độ trì cho một năm mới mưa thuận gió hoà, phát tài phát lộc". Núi Bà Đen được xem là một huyệt đạo thiêng, với quầng mây huyền ảo trong đêm Việc người dân Nam bộ ngủ lại dưới chân núi thiêng Bà Đen và xếp hàng dài để đi cáp treo lên đỉnh núi không phải là điều quá ngạc nhiên trong đời sống tín ngưỡng của người Việt. Tại miền Bắc, vào lễ Mở cổng trời tại Đền Nưa (Thanh Hoá), hàng ngàn du khách đổ về đây dâng hương, đi quanh huyệt đạo nhiều vòng và hấp thu khí thiêng đất trời cầu may mắn. Theo nhiều nghiên cứu, núi Nưa (Thanh Hoá), núi Đá Chông (huyện Ba Vì, TP Hà Nội) và núi Bà Đen (Tây Ninh) là 3 huyệt đạo thiêng nhất nước Nam, là nơi hội tụ linh khí đất trời, là điểm giao hoà giữa trời và đất. Vì vậy, đa phần du khách xem việc đặt chân đến ngọn núi thiêng Bà Đen là việc phải làm mỗi năm để cầu bình an và may mắn. Và với rất nhiều người, một nắm đất hay một chút nước từ khe suối trên đỉnh núi đều ẩn chứa khí thiêng của huyệt đạo này. Theo Hoà thượng Thích Niệm Thới (Pháp chủ chùa Bà tại núi Bà Đen), khe suối trên núi Bà Đen được cho là có chứa vàng (vàng non), và rất nhiều người lên núi múc nước suối uống hoặc mang về. "Nhiều người tin rằng mang nước khe suối tại núi Bà Đen về nhà chính là mang về tài lộc, may mắn và sức khoẻ" – ông nói. Những huyền tích trên núi Bà Đen ít người biết Có rất nhiều truyền thuyết về núi Bà Đen được kể lại qua các thế hệ, trong đó được nhắc đến nhiều nhất là huyền tích về nàng Lý Thị Thiên Hương tử tiết trên núi với 3 lần hiển linh báo mộng, được tôn làm Linh Sơn Thánh Mẫu và trở thành biểu tượng cho tín ngưỡng của người Nam Bộ suốt nhiều thế kỷ qua. Quần thể chùa nơi lưng chừng núi Không chỉ có huyền tích về Linh Sơn Thánh Mẫu, tại quần tâm linh trên núi Bà Đen còn có rất nhiều miếu, động, chùa linh thiêng như Động Ba Cô, Miếu Sơn Thần, chùa Hang, động Kim Quang… Một trong những nơi rất linh thiêng trên núi Bà mà ít người biết đến là Động Ba Cô (nằm cao nhất tại khu vực chùa Bà). Theo sự tích, vào đầu thế kỷ 20, có ba chị em thiếu nữ đồng trinh sinh sống ở miền Tây lên núi Bà Đen tu hành từ thời núi Bà còn là nơi rừng thiêng nước độc. Hàng ngày, ba cô thường xuống núi giúp dân nghèo chữa bệnh, tối lại lên núi ngồi tụng kinh gõ mõ. Người dân lên núi thường thấy ba cô thiền định ngủ ngồi suốt hàng chục năm trời. Tương truyền, nhờ hấp thu linh khí của núi Bà Đen cùng thân tâm đã vứt bỏ mọi tham sân si và thất tình lục dục, ba cô đã tỏ tường ngày giờ vãn sanh của mình. Sau khi ba cô lần lượt qua đời, người dân đã lập miếu thờ ngay tại hang động nơi ba cô tu hành. Ngày nay, động Ba Cô là một hang động huyền ảo, đặc biệt cửa hang vào động mỗi ngày càng hẹp dần khi gốc cây sung ở cửa hang ngày càng lớn hơn. Với nhiều người, đến động Ba Cô để cầu tình duyên và cầu sức khoẻ sẽ rất linh nghiệm. Tượng Phật Bà Tây Bổ Đà Sơn uy nghiêm trên đỉnh núi Bà Đen Không chỉ ẩn chứa những huyền tích linh thiêng, trên đỉnh núi Bà Đen ngày nay còn có một quần thể tâm linh kỳ vĩ kết nối mạch nguồn linh khí với chùa Bà ở lưng chừng núi. Tượng Phật bà Tây Bổ Đà Sơn bằng đồng trên đỉnh núi cao nhất Châu Á đến nay được xem là biểu tượng linh thiêng của núi Bà Đen. Tay trái tượng Phật cầm bình cam lộ đang dốc xuống, tượng trưng cho ban phát phước lành, cứu rỗi chúng sinh khỏi khổ đau. Tay phải Phật Bà nâng lên bắt quyết Giáo hóa ấn Karana Mudr, mang ý nghĩa lìa xa ác nghiệp. Hoa văn, họa tiết của đài sen được phỏng theo cánh sen kép trong tượng Phật thời Lê, với tạo hình đám mây và ba giọt nước, tượng trưng cho lời cầu nguyện mưa thuận gió hòa. Núi Bà Đen lung linh huyền ảo trong đêm Chị Thanh Hằng (Hà Nội) kể lại: "Tôi có cơ may được đứng ở nơi cao nhất ngay chân tượng Phật nhìn ra toàn cảnh đồng bằng trù phú của miền Đông Nam Bộ. Tôi có thể nhìn thấy rõ đường chân trời màu hồng mênh mông diệu ảo và nhìn thấy ảo ảnh của Phật bà đang bồng bềnh nơi chân trời và cảm nhận một luồng sinh khí dồi dào và một tâm thái vô cùng an yên. Không phải ai cũng có cơ duyên nhìn thấy ảo ảnh kỳ diệu đó". Có thể thấy sau nhiều thế kỷ, núi Bà Đen không chỉ còn là một huyệt đạo thiêng nhất vùng miền Nam mà còn trở thành biểu tượng cho tín ngưỡng và niềm tin vào những điều thiêng liêng khó lý giải của người dân Nam bộ. Ngày nay, người dân thập phương không chỉ hành hương đến núi Bà vào dịp đầu xuân năm mới, mà suốt quanh năm đều tìm đến núi Bà Đen như một cách để tìm về an yên, với một niềm tin mãnh liệt và niềm hạnh phúc đích thực từ trong tâm. Theo Báo điện tử Thể thao & Văn hóa - TTXVN https://thethaovanhoa.vn/nui-ba-den-va-nhung-chuyen-it-biet-ve-huyet-dao-thieng-2023021416495737.htm
Đàn cò nhạn quý hiếm hơn 1.000 con di cư về Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát. Ảnh: Thanh Tân/TTXVN Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát có tổng diện tích là 30.023 ha, nằm trên địa bàn 6 xã Tân Lập, Tân Bình, Hòa Hiệp, Thạnh Tây, Thạnh Bắc và Thạnh Bình thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, giáp với biên giới Campuchia. Trong đó, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt hơn 10.615 ha, phân khu phục hồi sinh thái hơn 19.277 ha và phân khu dịch vụ hành chính 130,46 ha. Đây là khu bảo tồn tự nhiên độc đáo ở Việt Nam, với nhiều loài động, thực vật phong phú, đa dạng sinh học, gắn với nhiều di tích lịch sử quan trọng, đã trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách. Theo Thạc sĩ Hồ Đắc Long, Phó trưởng Phòng Khoa học, Bảo tồn và Hợp tác quốc tế, thuộc Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát, đây là vùng rừng đa dạng sinh học đặc trưng rất riêng so với những vùng khác bởi chuyển tiếp giữa khu vực Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Đến nay, Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát đã xác định được hơn 700 loài thực vật, 49 loài thú, 203 loài chim, 58 loài bò sát…. Nhiều loài thú có tên trong Sách đỏ Thế giới (IUCN, 2005) như: voọc chà vá chân đen, voọc bạc, khỉ đuôi dài, khỉ đuôi lợn, cu li nhỏ. Các loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam như: dơi chó tai ngắn, mễn, mèo rừng, chồn bạc má, sóc đen, cheo, nhím bờm, sóc bay nâu… Tại các trảng bán ngập nước ghi nhận nhiều loài chim nước quý hiếm di cư như giang sen, già đẫy nhỏ và cò nhạn. Ngoài ra, now đây còn là nơi dừng chân bay qua của loài sếu đầu đỏ, hạc cổ trắng trên tuyến di cư giữa Đồng bằng sông Cửu Long về nơi sinh sản tại Campuchia. Từ tháng 10/2019, tại Hội nghị Bộ trưởng Môi trường ASEAN lần thứ 15, Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, được công nhận là Vườn Di sản ASEAN; trở thành 1 trong 10 Vườn Di sản ASEAN của cả nước và là duy nhất ở Đông Nam Bộ. Bên cạnh những giá trị về đa dạng sinh học, Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát còn gắn với nhiều di tích lịch sử quan trọng của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ như Căn cứ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục Miền Nam, Thông tấn xã Giải phóng, Đài phát thanh Giải phóng, Xưởng phim Giải phóng... Em Phạm Quỳnh Anh, học sinh lớp 9A1, Trường trung học cơ sở Nguyễn Thái Bình (thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) thích thú khi được trải nghiệm tại Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát cho biết: em cùng các bạn tham gia cuộc thi hội họa do Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Tây Ninh tổ chức và được Ban tổ chức cho đi thực tế tại Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát để tìm hiểu về đa dạng sinh học, các di tích lịch sử để lấy cảm hứng sáng tác. Em Quỳnh Anh cho biết, đây cũng là lần đầu tiên em được tham quan tại vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát; một địa điểm đa dạng sinh học được bảo tồn khá tự nhiên và nhiều di tích lịch sử đầy ý nghĩa; em sẽ hoàn chỉnh bức tranh thiên nhiên và các bức tranh di tích lịch sử. Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh Trần Thị Huy Hoàng cho biết, hiện tại Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát đang khai thác nhiều hoạt động du lịch tham quan sinh thái rừng tại khu vực trảng Tà Nốt, suối Đa Ha, sinh cảnh ngập nước... phù hợp cho hoạt động giao lưu học tập, nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, tại Vườn Quốc gia cũng tổ chức tour đi xe đạp xuyên rừng, tham quan cột mốc biên giới Việt Nam - Campuchia và các di tích lịch sử, sinh cảnh ven sông Vàm Cỏ Đông; chinh phục tháp canh lửa cao 33 m; thăm cây di sản Việt Nam hơn 200 năm tuổi; dựng lều cắm trại qua đêm; thưởng thức ẩm thực rừng… Nhờ đó, Tây Ninh đã xây dựng nên các tour, tuyến du lịch mới lạ, độc đáo, tạo chuỗi sự kiện mang tính liên kết, đồng bộ, rộng khắp trên địa bàn tỉnh, khác lạ so với các tỉnh khác trong vùng, tạo hiệu ứng lan tỏa, thu hút mạnh mẽ nhiều đối tượng khách du lịch trong và ngoài tỉnh đến với Tây Ninh. Ngoài ra, việc sở hữu Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát (Vườn Di sản ASEAN duy nhất vùng Đông Nam bộ) nằm trong quần thể liên hoàn với Di tích Quốc gia Đặc biệt Căn cứ Trung ương Cục miền Nam cũng là một trong những đặc trưng riêng của Tây Ninh. Tỉnh Tây Ninh hiện đang rất quan tâm đến việc khai thác, phát huy các ưu thế về đa dạng các loại hình du lịch. Trong đó, các loại hình như: du lịch sinh thái, du lịch về nguồn tìm hiểu lịch sử; du lịch nghỉ dưỡng tìm hiểu đa dạng sinh học gắn với giáo dục, bảo tồn thiên nhiên, đảm bảo bền vững; duy trì các hệ sinh thái và hệ thống hỗ trợ sự sống. Theo ông Tạ Ngọc Dân, Phó giám đốc Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát, hiện nay du lịch sinh thái đang là xu hướng chung của thế giới. Riêng ở Tây Ninh, tỉnh rất quan tâm phát triển ngành du lịch đối với loại hình này. Minh chứng là nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học trong và ngoài tỉnh chọn đi thực tế, tham quan, về nguồn tại Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát. Chính sự đa dạng sinh học đặc trưng, nhiều di tích lịch sử, Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát đã trở thành địa chỉ đỏ của những chuyến về nguồn, tham quan trải nghiệm của du khách. Phó Giám đốc Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát cũng nhìn nhận thực tế vẫn còn nhiều khó khăn; việc phát triển du lịch hiện nay vẫn còn “nút thắt” dẫn đến chưa thể phát triển tương xứng với tiềm năng. Ông Dân lý giải, do đặc thù của rừng đặc dụng, cũng như những quy định riêng đối với vùng biên giới khiến đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng du lịch gặp khó. Do vậy, để phát triển du lịch xứng với tiềm năng, đúng định hướng của tỉnh và đúng quy định pháp luật sẽ rất cần đến những cơ chế đặc thù. Trong khi đó, theo kế hoạch quảng bá điểm đến du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2023 - 2025 (được UBND tỉnh Tây Ninh ban hành vào tháng 8/2023), tỉnh Tây Ninh cũng nhìn nhận thực trạng chi tiêu khách du lịch quốc tế hiện còn thấp so với dự báo, cũng như tiềm năng phát triển của tỉnh. Trong đó, tỉnh chưa thu hút được nhiều khách quốc tế, mặc dù có lợi thế về đường biên giới dài 240 km. Theo ông Võ Đức Trong, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Tây Ninh, trong giai đoạn 2023 -2025, Tây Ninh sẽ xác định các điểm tham quan trọng điểm, có vai trò kết nối, lan tỏa, gắn với các danh mục lễ hội đặc trưng, tiêu biểu của tỉnh để khai thác du lịch. Từ đó đưa ra cách thức thực hiện, tập trung quảng bá; khai thác có hiệu quả các giá trị, các yếu tố văn hóa, lịch sử. Đồng thời, định hình và hướng tới khẳng định thương hiệu du lịch điểm đến Tây Ninh trên bản đồ du lịch Việt Nam. Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Căn cứ Trung ương cục miền Nam nằm trong Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát sẽ là 1 trong 4 điểm tham quan trọng điểm đã được tỉnh xác định cùng với Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh núi Bà Đen; Tòa Thánh Cao Đài và hồ Dầu Tiếng – hồ thủy lợi nhân tạo lớn nhất Đông Nam Á. Theo Báo Tin tức và Dân tộc https://baotintuc.vn/du-lich/vuon-quoc-gia-lo-go-xa-mat-phat-trien-du-lich-gan-voi-bao-ton-thien-nhien-20230906071030638.htm