Đình thần Châu Phú. Ảnh TL Ban đầu ngôi đền tọa lạc trong một khuôn viên rộng, thoáng mát, nhiều bóng cây cổ thụ, hướng ra dòng sông Hậu. Đến năm 1926, nhà cầm quyền Pháp ở tỉnh Châu Đốc quyết định xây dựng bệnh viện (Bệnh viện đa khoa Châu Đốc ngày nay) trên mảnh đất của đền. Bà Huỳnh Thị Phú và hương chủ Lan đứng ra vận động dân chúng góp tiền của để chuyển đình đến đầu chợ Châu Đốc xây cất kiên cố, kiến trúc đẹp, đồ sộ như hiện nay. Trong thời Pháp thuộc, như nhiều đền thờ khác, Lễ Công từ đường cũng bị đồng hóa, trở thành đình thờ thần hoàng làng, với tên gọi đình Châu Phú. Cổng tam quan đình Châu Phú đẹp cổ kính, với dòng chữ số 1926, bên dưới là bốn chữ quốc ngữ màu vàng trên nền đỏ: Đình thần Châu Phú, bên dưới nữa là 3 chữ Hán. Cổng có hai liễn đối, chữ Hán, màu đen trên nền đỏ. Trên cổng có cặp lưỡng long tranh châu. Sân đình có cây dương cổ thụ, cao lớn, phủ bóng mát. Đình được xây cất đồ sộ với chiều ngang 16 mét, dài 48 mét, kiểu chữ “Tam”. Nóc có lầu; mái tam cấp, lợp ngói đại tiểu màu đỏ, trên nóc chạm khắc nhiều tượng đẹp, khỏe, như: Bát tiên, lưỡng long tranh châu, lưỡng long chầu nguyệt, cá hóa rồng, chim, công, phụng, sư tử… Nền lót gạch bông, tường gạch hồ vôi ô dước, cột gỗ căm xe và cà chắt. Nội thất đình có bốn hàng cột, mỗi hàng mười cây cột to bằng căm xe, cà chắt. Tất cả kèo, cột đều có hoành phi, liễn đối, có đến 29 hoành phi và 22 liễn đối chạm trổ khéo léo, tô son phết vàng rực rỡ. Mặt chính dình Châu Phú. Ảnh TL Các liễn đối đều là lời ca ngợi công đức Nguyễn Hữu Cảnh, như “Khai thác quân thần, công tại biên thùy, danh tại sử; Trung thần chánh khí, sanh vi chân tướng, tử vi thần”. Tạm dịch: “Đấng quân thần mở mang bờ cõi, công ở biên thùy, danh ở sử; Người chính khí trung thành, sống làm tướng, thác làm thần”… Có nhiều dù lọng, chấn đỏ thêu rồng phụng sặc sỡ, đính kim tuyến lấp lánh, tôn thêm vẻ tôn nghiêm và nét đẹp cổ truyền. Đình còn có bia ký cùng hàng trăm hiện vật quý khác như lư hương, khánh thờ, kiệu, đồ lễ bộ, trống, đàn... Bàn thờ giữa đình thờ bài vị trên cao nhất cùng tượng Lễ Thành hầu Thượng đẳng thần Nguyễn Hữu Cảnh và hai vị quan văn võ hầu. Nguyễn Hữu Cảnh còn có tên Nguyễn Hữu Kỉnh, sinh năm 1650 tại Huế, con thứ ba của Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật – một dòng họ làm quan từ nhiều đời – tiên tổ là Ức Trai Nguyễn Trãi. Từ nhỏ ông được rèn luyện văn võ, theo cha trấn đóng tại Quảng Bình và lập nhiều công lớn, giữ chức Chưởng cơ. Ông lâm bệnh mất ngày mồng 5 tháng 5 năm Canh Thìn (1700) tại cồn Cây Sao (Cù lao Ông Chưởng, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang ngày nay). Có tài liệu nói ông mất ngày mùng 9 tháng 5 tại Rạch Gầm (Mỹ Tho, Tiền Giang). Bên trong đình Châu Phú. Ảnh TL Sau khi ông mất được nhiều sắc phong của triều đình Gia Long (năm 1810), Minh Mạng (năm 1833), Tự Đức (năm 1852) với các danh vị Đô Thống chế dinh thần cơ, Thượng đẳng thần, Khai quốc công thần, Lễ thành hầu… Ông là người có công lớn trong việc khai hoang lập ấp, trị an ở vùng đồng bằng nên nơi đây có rất nhiều đền thờ ông. Đình Châu Phú là đền thờ chính. Ngày nay, có nhiều tên đường, tên trường, tên sông, rạch, cù lao mang tên ông. Phía dưới bài vị thờ Nguyễn Hữu Cảnh là bài vị ông Thoại Ngọc Hầu. Thoại Ngọc Hầu tên thật là Nguyễn Văn Thoại, tức Thụy (1761-1829), người huyện Điện Phước, Quảng Nam. Khi được điều vào Nam, năm 1815, Nguyễn Văn Thoại chủ trương xây đồn Châu Đốc. Năm 1817, ông giữ chức Trấn thủ Vĩnh Thanh (gồm An Giang và Vĩnh Long). Trong giai đoạn nầy ông thực hiện nhiều công trình lớn ở An Giang mang tầm cỡ quốc gia, như: đào kinh Thoại Hà (1818), kinh Vĩnh Tế (1819-1824), đắp lộ từ Châu Đốc đến núi Sam, làm lộ từ Châu Đốc đến Lò Gò… di dân lập ấp hai bên bờ kinh Vĩnh Tế… Kế bên bài vị Nguyễn Văn Thoại là bài vị ông Vệ Thủy Đỗ Đăng Tàu và Lê Văn Sanh. Hai bên thờ tả hữu ban, tiền hiền, hậu hiền tiền bổn hội, hậu bổn hội, thiện nam tín nữ… Đình Châu Phú thể hiện những tinh hoa, những kiến trúc tiêu biểu vừa mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn, vừa mang phong cách truyền thống của đình làng Nam bộ nên đã được Bộ Văn hóa ra quyết định công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1988. Hàng năm, đình tổ chức lễ kỳ yên vào ngày 10 và 11 tháng 5 âm lịch (lễ giỗ Nguyễn Hữu Cảnh), và tổ chức lễ giỗ ông Thoại Ngọc hầu vào ngày mùng Sáu tháng Sáu âm lịch. Lễ nào cũng thu hút đông đảo nhân dân đến cúng bái. Theo Tạp chí Kinh Tế Sài Gòn Online https://thesaigontimes.vn/dinh-than-chau-phu/
Óc Eo - Ba Thê được các nhà nghiên cứu xem là một trung tâm tiêu biểu của văn hóa Óc Eo gắn với bối cảnh vương quốc Phù Nam tồn tại trong khoảng thế kỷ I đến thế kỷ VII sau Công nguyên. Những phát hiện khảo cổ trong nhiều thập niên cho thấy tại đây có hệ thống di tích phong phú gồm: Dấu tích cư trú, kiến trúc tôn giáo, mộ táng, dấu vết sản xuất thủ công và các cấu phần hạ tầng liên quan đời sống đô thị cổ... Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê thể thiện được tính xác thực và toàn vẹn, lưu giữ một quần thể di tích, di vật và cảnh quan văn hóa, tự nhiên có giá trị đặc biệt, thể hiện chân thực đời sống vật chất và tinh thần của cư dân cổ vùng hạ lưu sông Mekong trong suốt gần một thiên niên kỷ. Hệ thống kênh đào, các gò cư trú, kiến trúc tôn giáo cùng hàng nghìn hiện vật gốm, đá, kim loại, thủy tinh… được phát hiện cho phép phục dựng tương đối đầy đủ về đời sống sinh hoạt, sản xuất, tổ chức xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, cũng như quan hệ giao thương quốc tế của cộng đồng cư dân cổ Óc Eo. Di tích Gò Cây Thị A tại Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê (Ảnh: TN). Tính đặc biệt và độc đáo của khu di tích thể hiện rõ đây là minh chứng nổi bật cho sự giao thoa văn hóa giữa phương Đông và phương Tây trong bối cảnh toàn cầu hóa cổ đại. Trong những thế kỷ đầu công nguyên, khi các tuyến thương mại quốc tế kết nối Trung Hoa, Ấn Độ, Trung Đông và Địa Trung Hải thông qua Đông Nam Á, Óc Eo đã phát triển thành một trung tâm sản xuất, thương mại, tín ngưỡng có vai trò liên vùng, liên châu lục. Tổ hợp di tích này đại diện tiêu biểu cho mô hình cảng thị cổ với nhiều đặc trưng nổi bậ Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê hội tụ các tiềm năng to lớn để trở thành Di sản thế giới. Khu vực trung tâm Óc Eo - Ba Thê là một trong những cảng thị quan trọng và là trung tâm tôn giáo lớn, thể hiện bằng hàng chục di tích kiến trúc và khối lượng các loại hình di vật nhiều chất liệu. Đây là những cơ sở khoa học quan trọng để tiến hành xây dựng hồ sơ đề cử Di sản thế giới. Thời gian qua, Ban Quản lý di tích văn hóa Óc Eo triển khai nhiều hoạt động để nâng cao hồ sơ và đảm bảo hồ sơ bám sát chuẩn UNESCO. Tỉnh tổ chức hội thảo khoa học quốc tế ngày 30/7/2025 để tham vấn về giá trị nổi bật toàn cầu và tiêu chí đề cử. Ban Quản lý cũng tổ chức hội thảo góp ý bản thảo hồ sơ và kế hoạch quản lý ngày 4/9/2025. Đến ngày 24/11/2025, hội nghị khoa học lần thứ ba tại Hà Nội tiếp tục góp ý sâu cho hồ sơ và kế hoạch quản lý trước khi hoàn thiện. Cổ vật được trưng bày tại Nhà trưng bày văn hóa Óc Eo (Ảnh: ĐB). Mới đây, Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đồng ý gửi Hồ sơ khoa học “Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê, tỉnh An Giang” tới UNESCO để đề nghị công nhận và ghi vào Danh mục Di sản thế giới. Phó Thủ tướng ủy quyền Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch rà soát kỹ, hoàn thiện và ký Hồ sơ khoa học gửi Trung tâm Di sản Thế giới UNESCO theo quy định, bảo đảm chất lượng, thời hạn quy định. Bộ Ngoại giao, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện các thủ tục cần thiết để gửi Hồ sơ khoa học Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê, tỉnh An Giang tới Trung tâm Di sản thế giới UNESCO trước ngày 30/1/2026 theo quy định của Công ước Di sản thế giới 1972 và pháp luật về di sản văn hóa; Chú trọng phát huy vị trí, vai trò của Việt Nam trong các cơ chế điều hành của UNESCO; tích cực hỗ trợ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh An Giang và các cơ quan liên quan trong việc triển khai các biện pháp cần thiết nhằm tạo đồng thuận của quốc tế ủng hộ cho việc công nhận Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê là Di sản thế giới. UBND tỉnh An Giang rà soát, chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung, số liệu, tính chính xác của Hồ sơ khoa học "Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê" theo quy định của Công ước 1972 về Bảo tồn Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới của UNESCO và pháp luật về di sản văn hóa; Đồng thời chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và các cơ quan liên quan tiếp tục triển khai các biện pháp cần thiết, tạo thuận lợi cho quá trình UNESCO thẩm định, công nhận Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê là Di sản thế giới; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền theo quy định./. Theo Tạp chí điện tử Thiên nhiên & Môi trường https://thiennhienmoitruong.vn/khu-di-tich-khao-co-oc-eo-ba-the-huong-toi-danh-hieu-di-san-the-gioi.html
Chùa Vạn Linh nằm yên bình bên hồ Thủy Liêm trên đỉnh núi Cấm. Chùa Vạn Linh tọa lạc trên đỉnh núi Cấm cao hơn 700m so với mực nước biển. Trước đây, chùa Vạn Linh có tên là chùa Lá, do được cất bằng cây lá vào khoảng năm 1927. Về sau, chùa được xây dựng khang trang và trở thành điểm đến du lịch tâm linh nổi tiếng. Chùa Vạn Linh được xây dựng với kiến trúc đẹp. Trong khuôn viên chùa có nhiều bảo tháp, nổi bật như Bảo tháp Hòa thượng khai sơn Thích Thiện Quang (3 tầng), Tháp chuông hình bát giác (2 tầng), đặc biệt là Bảo tháp Quan Âm cao 40m, gồm 7 tầng, lấy cảm hứng từ hình mẫu Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ. Bảo tháp này tôn trí nhiều vị Phật và Bồ tát được tạc tượng bằng các loại đá quý. Chùa Vạn Linh - điểm đến nổi tiếng của du lịch tâm linh khu vực Tây Nam Bộ Chánh điện của chùa Vạn Linh rất đẹp. Nơi đây an vị của nhiều tượng Phật rất lộng lẫy, tôn nghiêm. Trong đó, tượng Phật Thích Ca thiền định ở giữa chánh điện được tạc bằng đá nguyên khối, nặng đến 2 tấn. Phía hậu điện còn có phù điêu Tổ sư Đạt Ma được chế tác tinh xảo, đẹp mắt. Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn có nhiều công trình rất đẹp như Vườn Lâm Tỳ Ni, tượng sáp Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh, người có công rất lớn trong phiên dịch kinh Đại thừa từ chữ Hán sang tiếng Việt và truyền bá pháp môn tu Tịnh độ tại nước ta… Tất cả các công trình đã tạo nên một tổng thể không chỉ uy nghi, mà còn là điểm đến lý tưởng để chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ. Trong khuôn viên chùa có nhiều bảo tháp uy nghi, lộng lẫy Kiến trúc rất đẹp của chùa Vạn Linh nhìn từ chánh điện. Bảo tháp trong chùa Vạn Linh không chỉ là kiến trúc độc đáo, mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong Phật giáo Bảo tháp Quan Âm lấy cảm hứng từ hình mẫu từ Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ. Bảo tháp tôn trí nhiều vị Phật và Bồ tát được tạc tượng bằng các loại đá quý Hoa văn trên nóc Bảo tháp Quan Âm Khu vực chánh điện của chùa được bày trí vô cùng tôn nghiêm và đẹp mắt, chủ đạo là tượng Phật Thích Ca thiền định dưới tán bồ đề, được tạc bằng đá nguyên khối và có khối lượng đến 2 tấn Tượng sáp cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh trong chùa Vạn Linh Chùa Vạn Linh có địa thế đẹp, lưng tựa vồ Bồ Hong, trước mặt là hồ Thủy Liêm. Tất cả tạo nên không gian hữu tình, nhẹ nhàng, tôn nghiêm. Theo Báo An Giang https://baoangiang.com.vn/kien-truc-dep-cua-chua-van-linh-tren-noc-nha-mien-tay-a460881.html
Qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, phủ thờ Nguyễn tộc vẫn giữ được kiến trúc xưa. Mái phủ thờ vẫn còn giữ một số tượng bằng gốm sứ xưa. Phủ thờ Nguyễn Tộc còn có tên gọi khác là dinh Ba quan Thượng đẳng. Nơi đây do 2 ông Nguyễn Văn Núi và bà Lê Thị Nhạc xây dựng. Ông Nguyễn Văn Cưu, Phó Trưởng tộc họ Nguyễn cho biết, ngôi phủ phờ lúc đầu xây dựng bằng gỗ lợp lá. Đến năm 1903, ngôi chánh điện được trùng tu lớn và hoàn thành vào năm 1905, tồn tại bền vững đến ngày nay. Phủ thờ được xây dựng theo kiến trúc cổ, mặt hướng ra sông Tiền. Vào phủ sẽ gặp các công trình chạm, lộng gỗ tinh xảo và các vật dụng trưng bày, như: Khánh, biển, liễn thờ, đồ minh khí, một số đầu tứ linh bằng gốm sứ hãy còn khá nguyên vẹn… Bên trong phủ thờ có bảy bàn thờ, gian giữa là bàn thờ chính thờ Thư Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thư cùng 2 người em là Nguyễn Văn Kinh và Nguyễn Văn Diện. Cũng theo ông Cưu, tại bàn thờ chính phủ thờ, con cháu Nguyễn Tộc làm hầm bí mật làm nơi ẩn tránh và là cơ sở nuôi chứa cán bộ, cách mạng qua hai thời kỳ kháng Pháp và chống Mỹ. Mái phủ thờ có kiến trúc vô cùng độc đáo. Sắc phong Thư Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thư. Kiến trúc độc đáo bên trong chính điện phủ thờ. Với những thành tích và cống hiến từ thời mở đất, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, bảo vệ biên giới Tây Nam và xây dựng đất nước, Phủ Thờ vinh dự được xếp hạng “ Di tích lịch sử cấp tỉnh theo Quyết định 1473 – QĐUB, ngày 5/7/2001. Theo Báo An Giang https://baoangiang.com.vn/kien-truc-doc-dao-phu-tho-nguyen-toc-o-cu-lao-gieng-a346599.html
Các sử liệu và truyền thuyết của cư dân làng Vĩnh Tế đều thừa nhận, tượng Bà Chúa Xứ không biết từ đâu đến, nhưng từ rất lâu đã ngự trị ở lưng chừng núi Sam (Học Lãnh sơn). Đây có thể là sản phẩm của nền văn hóa Óc Eo thời Vương quốc Phú Nam từ thế kỷ I - VII, hay còn xa hơn. Tin tưởng vào sự linh thiêng của pho tượng, cư dân bản địa thường đến đốt nhang cầu nguyện không bị thú dữ tấn công, mong mưa thuận gió hòa, gia đình ấm êm, hạnh phúc và sự việc đều được đáp ứng. Từ đó, pho tượng cao 1,65m trở thành chỗ dựa tinh thần của người dân, đặt tượng là Bà Chúa Xứ, dù chỉ biết tượng làm bằng đá, không rõ nam hay là nữ. Hai thế kỷ đã trôi qua, “hộ khẩu” Bà Chúa Xứ núi Sam, cũng như nguồn gốc của pho tượng và giai thoại về di chuyển tượng Bà cùng nhiều sự việc liên quan mãi là bí ẩn. Nhưng hơn tất cả, tượng Bà rất linh hiển, được người dân tin tưởng, sùng bái. Từ ngày 23 - 27/4 âm lịch hàng năm, bình quân có hàng triệu lượt người từ khắp nơi, cả trong lẫn ngoài nước đến chiêm bái, kính viếng, cầu xin Bà ban phước lành, điều may mắn và được linh ứng. Di chuyển tượng Bà Chúa Xứ Với mong muốn thờ cúng Bà Chúa Xứ thuận tiện, trang nghiêm, các bậc cao niên thời đó bàn nhau di chuyển pho tượng xuống triền núi để xây miếu thờ Bà (hiện tọa lạc khóm Vĩnh Tây 1, phường núi Sam, TP. Châu Đốc). Cúng lạy xong, 9 thanh niên lực lưỡng được giao nhiệm vụ khiêng tượng Bà, dù cố sức hết sức nhưng pho tượng không hề nhúc nhích. Ngay lúc đó, “cô gái được Bà đạp đồng” báo phải cử 9 cô gái đồng trinh, tắm gội sạch sẽ lên triền núi làm lễ rước Bà mới chịu xuống. Sau khi làm theo, 9 cô gái khiêng pho tượng nhẹ nhàng, nhưng đi đến chỗ lập miếu thờ hiện nay, tượng Bà bỗng nặng trĩu, không thể di chuyển được. Các bậc trưởng lão cho rằng, Bà muốn tựa lưng vào vách núi an vị để nhìn dân làng làm ăn sinh sống. Đó là ý nguyện của Bà Chúa Xứ. Liên quan đến tượng Bà, có một truyền thuyết lúc quân Xiêm hay qua vùng núi Sam quấy nhiễu và cướp bóc vào khoảng những năm 1820. Một hôm, chúng gặp tượng Bà, lấy dây buộc rồi khiêng xuống núi để mang về nước. Khiêng được một đoạn ngắn, tượng Bà bỗng nặng trĩu, không thể nhấc lên được. Tên giặc tức giận đập vào pho tượng và tức khắc bị Bà trừng phạt, còn những tên còn lại hoảng sợ bỏ chạy. Chính điện của miếu Bà còn có câu đối: “Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị/ Xiêm khả kinh, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lượng”. Có nghĩa là: “Cầu bà tất được, ban thì tất linh, báo điềm trong mộng/ Người Xiêm khiếp sợ, người Thanh kính nể, không thể tưởng tượng được”. Nói đến pho tượng Bà với truyền thông, TS Lâm Quang Láng, Phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh cho biết, “tập quán tín ngưỡng của người Việt thờ nữ thần và có thể Bà Chúa Xứ được dựng lên theo chủ ý của ông Thoại Ngọc Hầu. Trước tình hình dịch bệnh hoành hành, lam sơn chướng khí bào mòn sức dân, làm cho lòng người dao động, ông Thoại Ngọc Hầu đã cho thỉnh pho tượng từ trên núi xuống và lập miếu thờ Bà để người dân tin có thế lực siêu nhiên phù hộ, chở che, vững tâm vượt qua khó khăn, xây dựng cuộc sống trên vùng đất “phên giậu” của đất nước”. Theo một dị bản khác, tương truyền có 8 vạn nhân công được huy động đào kênh Vĩnh Tế, nhưng khi vào cuộc thì liên tiếp gặp cảnh người bệnh tật, thú dữ tấn công và chết vì tai nạn. Nghe dân làng về sự linh thiêng của Bà Chúa Xứ, phu nhân Thoại Ngọc Hầu, bà Châu Thị Tế lên núi Sam khấn vái pho tượng thiêng. Quả nhiên, sau ngày hành lễ, việc đào kênh được diễn ra suôn sẻ. Tin tưởng và tạ ơn, ông Thoại Ngọc Hầu quyết định xây dựng miếu Bà Chúa Xứ để người dân thờ cúng trang nghiêm, thuận lợi. Nguồn gốc tượng Bà Chúa Xứ Theo nhà khảo cổ học người Pháp Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, tượng Bà Chúa Xứ núi Sam có nguồn gốc từ Ấn Độ, thuộc loại tượng thần Vishnu (nam thần), là một trong 3 vị thần tối cao trong Bàlamôn giáo. Pho tượng cao 1,65m, làm bằng đá sa thạch (còn gọi là đá son), giá trị nghệ thuật cao, tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, ra đời vào khoảng cuối thế kỷ thứ VI và có thể đây là một trong số hiện vật cổ còn sót lại của nền văn hóa Óc Eo xưa. Trước đây, tượng Bà được đặt trên bệ đá ở phía Đông Nam trên đỉnh núi Sam. Bệ đá có chiều ngang 1,6m, dày 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m thuộc loại đá trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn. Theo nghiên cứu, đây là loại đá không có ở địa phượng. Trong tác phẩm “Đồng bằng sông Cửu Long - nét sinh hoạt xưa”, cố nhà văn Sơn Nam nhận định, tượng Bà Chúa Xứ là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer và tượng này bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt từ Bắc di cư vào, đưa pho tượng vào miếu, dùng sơn điểm tô, mặc áo lụa, đeo dây chuyền và biến pho tượng đàn ông thành đàn bà. Ông Trần Văn Dũng, tác giả cuốn “Lịch sử khai phá vùng đất Châu Đốc 1757 - 1857”, cũng khẳng định tượng Bà Chúa Xứ là tượng nam, ngồi ở tư thế vương giả. Phần đầu của tượng không phải là nguyên gốc mà được chế tác sau bằng loại đá không giống thân tượng. Về ngôi miếu và tượng Bà Chúa Xứ Ban đầu, miếu được cất đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng Vĩnh Tế xưa. Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miếng và lợp ngói âm dương. Năm 1965, Hội Quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu. Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, người thiết kế là 2 kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng. Đến tận ngày nay, nguồn gốc tượng Bà cũng như lai lịch về Bà Chúa Xứ núi Sam còn là một bí ẩn, huyền thoại. Những giai thoại này tiếp tục lưu truyền cho thế hệ mai sau. Tuy nhiên, dù pho tượng là nam thần hay nữ thần và nguồn gốc đến từ đâu, nhưng trong tâm thức không chỉ của người dân Nam Bộ, Bà Chúa Xứ luôn là điểm tựa tâm linh. Người dân đến viếng Bà với tấm lòng kính ngưỡng, sùng bái, tin tưởng Bà là nữ thần đầy quyền năng, phù hộ cho đất nước thái bình, bờ cõi bình yên, Nhân dân đoàn kết vượt qua khó khăn, làm ăn phát đạt, cuộc sống ấm no, hưng thịnh… Với nguyện vọng đó, hàng năm, hàng triệu du khách khắp nơi tụ hội về kính viếng, chiêm bái, tạ ơn Bà. Với lịch sử phát triển và bề thế hiện có, miếu Bà Chúa Xứ núi Sam được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam xác lập là ngôi miếu lớn nhất Việt Nam vào ngày 25/5/2008, với khuôn viên rộng khoảng 3.000m2. Năm 2009, tượng Bà được ghi vào sách Kỷ lục An Giang là bức tượng bằng đá sa thạch xưa nhất Việt Nam và có áo phụng cúng nhiều nhất. Tượng Bà được Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam công nhận là tượng Bà bằng đá sa thạch xưa và lớn nhất Việt Nam... Theo Báo An Giang https://baoangiang.com.vn/ky-bi-ve-ba-chua-xu-nui-sam-a417216.html
Miếu Bà Chúa Xứ là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng Vị trí Miếu Bà Chúa Xứ tọa lạc dưới chân núi Sam thuộc phường núi Sam; thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; Việt Nam. Miếu Bà Chúa Xứ có rất nhiều truyền thuyết huyền bí xung quanh hoàn cảnh ra đời của ngôi miếu; được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Miếu Bà Chúa Xứ tọa lạc dưới chân núi Sam Với sự linh thiêng và ứng nghiệm; cầu được ước thấy khiến Miếu Bà hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách đến tham quan cúng viếng. Đặc biệt vào mỗi dịp Tết đến, Xuân về góp phần phát triển ngành du lịch An Giang. Toàn cảnh Miếu Bà Chúa Xứ Lịch sử và kiến trúc độc đáo Theo truyền thuyết kẻ lại, cách đây khoảng 200 năm người dân địa phương tại Châu Đốc đã phát hiện ra tượng Bà ở trên đỉnh núi Sam và muốn đưa xuống. Tuy nhiên; mấy chục thanh niên cường tráng định khiêng tượng Bà nhưng không được. Sau đó qua miệng bà “cô Đồng” bảo chỉ cần 9 cô gái đồng trinh lên khiêng xuống. Nhưng đến chân núi thì tượng Bà bất ngờ nặng trịch không thể đi nữa. Người dân nghĩ Bà chọn nơi đây để an vị ở đây và đã lập miếu tôn thờ. Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam nổi tiếng linh thiêng và ứng nghiệm Một truyền thuyết khác liên quan đến ngôi miếu này, đó là nói về công lao ông Thoại Ngọc Hầu. Khi ông đi dẹp giặc ngoại xâm ở biên giới; bà Châu Thị Tế đã khấn vái Bà Chúa Xứ phù hộ ông dẹp yên giặc; gìn giữ xóm làng bình yên. Để tạ ơn những điều linh nghiệm; ông Thọai Ngọc Hầu cho thỉnh Bà từ trên đỉnh núi Sam về xây một ngôi miếu khang trang dưới chân núi và chọn ngày 24.4 là ngày cúng lễ Bà. Toàn cảnh Miếu Bà Chúa Xứ Ngày trước miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá; nằm quay về hướng tây bắc, phần lưng thì quay về vách núi, còn chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng. Vào năm 1870, miếu được người dân xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Trong 4 năm từ 1972 đến 1976, miếu Bà được hai kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng và Nguyễn Bá Lăng tái thiết lớn tạo nên dáng vẻ như hiện nay. Cổng Tam Quan Miếu Bà có bố cục kiểu chữ “Quốc”; hình khối tháp dạng hoa sen nở; mái tam cấp ba tầng lầu; lợp ngói đại ống màu xanh; góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Các hoa văn ở cổ lầu chánh điện thể hiện đậm nét nghệ thuật. Miếu Bà có bố cục kiểu chữ “Quốc” Lợp ngói đại ống màu xanh Phía trên cao; các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao; cánh cửa đều được chạm trổ; khắc; lộng tinh xảo và nhiều liễn đối; hoành phi lộng lẫy. Đặc biệt, bức tượng phía sau tượng Bà; bốn cây cột cổ lầu trước chánh điện gần như được giữ nguyên như cũ. Góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng Quần thể kiến trúc miếu có chính điện (nơi thờ tượng Bà); võ ca; phòng khách và phòng Ban quý tế. Chính điện Bên trong miếu thì lại được thiết kế và trang trí mang đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Các cánh cửa miếu được các nghệ nhân chạm trổ; điêu khắc tinh xảo. Đặc biệt; nhiều liễn đối và hoành phi ở nơi đây cũng được dát vàng son rực rỡ. Không gian bên trong miếu Tượng Bà được người dân đặt ở giữa chính điện; xung quanh đó còn có bàn thờ Hội đồng ở phía trước,;Tiền hiền và Hậu hiền thì đặt hai bên. Bàn thờ Cậu đặt ở bên trái; có thờ một Linga bằng đá rất to; cao khoảng 1,2m; còn bàn thờ Cô thì ở bên phải thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ,… Tượng bà uy nghiêm phúc hậu Về nguồn gốc tượng Bà Chúa Xứ có nhiều truyền thuyết khác nhau. Theo lời truyền miệng dân gian thì vào những năm 1820 – 1825; quân Xiêm sang quấy phá nước ta và đuổi theo dân lên đỉnh núi Sam thì gặp tượng Bà. Bọn chúng ra sức khiêng bức tượng nhưng không nhấc nổi; một tên trong số đó đã làm tức giận làm gãy tay Bà và ngay lập tức hắn bị trừng phạt. Từ đó người dân gọi là Bà Chúa Xứ và lập miếu thờ để cho Bà Chúa phù hộ mưa thuận gió hòa; mùa màng bội thu; tránh được giặc cướp; thoát khỏi dịch bệnh. Miếu Bà hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách đến cúng viếng Còn theo nhà khảo cổ học người Pháp Malleret nghiên cứu vào năm 1941 cho biết tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Vishnu (nam thần). Tạc dáng người nghĩ ngợi; quý phái; chất lượng bằng đá son; có giá trị nghệ thuật cao. Bức tượng được tạc vào cuối thế kỷ 6 và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ còn sót lại của nền văn hóa Óc Eo xưa. Vào năm 2009; tượng Bà được ghi vào sách Kỷ lục An Giang; là bức tượng bằng đá sa thạch xưa nhất Việt Nam và có áo phụng cúng nhiều nhất. Miếu Bà về đêm Điểm du lịch tâm linh bậc nhất Miền Tây Nam Bộ Vào mỗi dịp Tết đến; Miếu Bà Chúa Xứ lại thu hút đông đảo người dân địa phương và khách thập phương. Họ đến để thắp hương; cầu nguyện về một năm mới ấm no; hạnh phúc. Miếu Bà chúa xứ Núi Sam thể hiện rõ tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà miếu Bà Chúa Xứ mỗi năm thu hút hơn 3 triệu Phật tử từ các nơi đổ về hành hương; cúng bái cầu bình an; may mắn; tài lộc. Có du khách kể lại rằng; khi làm ăn họ không gặp vận; gặp thời. Người đó cúng bái khắp nơi; sau này nghe lời đồn; ông đã cất công từ Đà Nẵng bay vào Nam và viếng Miếu Bà Chúa Xứ. Và từ đó thời vận ông kéo về không thể hơn được. Từ đó hàng năm; ông đều vào Nam trả lễ Miếu Bà Chúa Xứ. Miếu Bà mùa lễ hội – Ảnh: Sơn Bình Phạm Khuôn viên vô cùng rộng rãi thoáng đãng với những cây cổ thụ rợp bóng xanh mát và nhiều cảnh được tạo dáng đẹp mắt. Điểm tô cho không gian là sắc hoa rực rỡ. Vào buổi tối khi đèn lên; không gian miếu cổ kính lại thêm phần lung linh. Vãn cảnh chùa; thắp nhang cầu những điều bình an tốt lành cho bản thân và gia đình xong; bạn có thể leo lên tầng cao của ngôi miếu; ngắm nhìn cảnh vật từ trên cao; đưa mắt hướng về phía xa; bạn có thể thấy được cả 1 góc của thành phố. Khuôn viên vô cùng rộng rãi Lễ hội vía Bà Từ tháng 1 đến tháng 4 âm lịch hàng năm; Miếu Bà luôn nô nức dòng người đến thăm viếng. Bởi đây chính là khoảng thời gian diễn ra lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam ( 24-27.4 âm lịch). Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ chính thức diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 4 âm lịch hàng năm; trong đó có ngày vía chính là ngày 25. Năm 2015; Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Vào mùa lễ hội buổi tối vẫn tấp nập dòng người đến viếng bất kể ngày đêm Vào mùa lễ hội; hàng triệu người từ khắp các vùng miền cả nước; nhiều nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long; thành phố Hồ Chí Minh; miền Đông Nam Bộ về đây dự lễ tắm tượng Bà; lễ dâng hương cầu phúc lành… và tham gia các trò chơi như hát bôi; múa võ; ca nhạc ngũ âm; múa lân; đánh cờ… Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ chính thức diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 4 âm lịch hàng năm Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam vang danh khắp vùng không chỉ bởi sự tâm linh mà còn bởi ý nghĩa lịch sử to lớn. Từ những di tích vật thể đến những giai thoại được truyền miệng từ đời này sang đời khác đều gắn với những sự kiện lịch sử hào hùng của dân tộc. Trải nghiệm du lịch Ngoài việc tham quan và cầu nguyện tại miếu Bà Chúa Xứ; du khách còn có thể khám phá nhiều điểm đến hấp dẫn khác trong khu vực như: Lăng Thoại Ngọc Hầu: Nơi an nghỉ của vị tướng tài ba Thoại Ngọc Hầu, người có công lớn trong việc khai phá và phát triển vùng đất An Giang. Chùa Tây An: Ngôi chùa cổ kính với kiến trúc độc đáo, là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa và lịch sử. Chùa Hang: Nằm triền núi Sam với khung cảnh tựa chốn thần tiên. Rừng tràm Trà Sư: Khu rừng ngập mặn rộng lớn với hệ sinh thái đa dạng, là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích thiên nhiên. Lưu ý khi tham quan chiêm bái: 1. Trang phục: Lịch sự và kín đáo: Miếu Bà là nơi linh thiêng, vì vậy hãy chọn trang phục lịch sự, kín đáo, tránh mặc quần áo quá ngắn, hở hang hoặc phản cảm. Màu sắc trang nhã: Nên ưu tiên những màu sắc trang nhã, nhẹ nhàng như trắng, xanh nhạt, vàng nhạt… Tránh mặc đồ quá sặc sỡ hoặc có họa tiết lòe loẹt. 2. Hành vi: Tôn trọng không gian linh thiêng: Giữ gìn trật tự, tránh nói chuyện to tiếng, cười đùa hoặc có những hành động thiếu tôn trọng trong khu vực miếu. Không xả rác: Hãy giữ gìn vệ sinh chung, không vứt rác bừa bãi. Không chen lấn, xô đẩy: Đặc biệt vào những dịp lễ hội, lượng khách rất đông, hãy kiên nhẫn xếp hàng, tránh chen lấn, xô đẩy gây mất trật tự. Không chụp ảnh tại các khu vực cấm. 3. Cúng bái: Chuẩn bị lễ vật: Nếu muốn dâng lễ, hãy chuẩn bị lễ vật từ trước, có thể mua tại các cửa hàng gần miếu. Thành tâm: Khi dâng hương, hãy thành tâm cầu nguyện. 4. An ninh: Cẩn thận tư trang: Hãy cẩn thận với tư trang cá nhân, tránh mang theo quá nhiều tiền mặt hoặc đồ giá trị. 5. Ẩm thực: Đừng quên thưởng thức các món ngon Châu Đốc được bán dọc đường và ngay tại miếu như nước thốt nốt, chả đòn chay, bánh bò thốt nốt… 6. Lưu trú: Vị trí: Ưu tiên những nơi gần Miếu Bà hoặc trung tâm Châu Đốc để thuận tiện cho việc di chuyển và tham quan. Giá cả: Cân nhắc ngân sách của bạn và lựa chọn nơi lưu trú phù hợp. Tiện nghi: Tùy vào nhu cầu cá nhân, bạn có thể chọn nơi có đầy đủ tiện nghi hoặc chỉ cần những dịch vụ cơ bản. Vào mùa lễ hội, lượng khách đổ về Miếu Bà rất đông, bạn nên đặt phòng trước để tránh tình trạng hết phòng. Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam Châu Đốc không chỉ là một điểm đến tâm linh mà còn là một biểu tượng văn hóa của vùng đất An Giang. Đến đây, du khách không chỉ được trải nghiệm không gian linh thiêng, cầu mong những điều tốt đẹp mà còn có cơ hội tìm hiểu về lịch sử, văn hóa và con người miền Tây sông nước. Theo Thám hiểm Mekong https://thamhiemmekong.com/thong-tin-du-lich-mien-tay/mieu-ba-chua-xu-nui-sam-chau-doc-an-giang.html
Đây là nơi không chỉ các tín đồ tâm linh mà còn các bạn trẻ đam mê check-in đều không thể bỏ qua. Chùa Koh Kas mang trong mình vẻ đẹp vừa cổ kính, huyền bí vừa mang sắc màu của nền Phật giáo Nam Tông, tạo nên một không gian thanh tịnh giữa cánh đồng lúa bạt ngàn. 1. Chùa Koh Kas – Nơi khởi nguồn hành trình tâm linh Chùa Koh Kas nằm tại vùng đất Tri Tôn, An Giang, một nơi mà văn hóa Khmer và tín ngưỡng Phật giáo Nam Tông gắn bó mật thiết với đời sống người dân. Khác với những ngôi chùa nổi tiếng khác ở An Giang như Chùa Vạn Linh hay Miếu Bà Chúa Xứ, Chùa Koh Kas khoác lên mình một vẻ đẹp hoang sơ, trầm mặc nhưng không kém phần ấn tượng với kiến trúc Phật giáo Nam Tông. Điểm nhấn đặc biệt của chùa chính là chiếc cổng trời Tri Tôn – một tác phẩm nghệ thuật tinh xảo được khắc họa rõ nét theo phong cách Khmer, nổi bật giữa khung cảnh đồng lúa vàng óng ánh. Chùa Koh Kas – ngôi chùa mang đậm nét văn hóa Khmer và tín ngưỡng Phật giáo Nam Tông 2. Hướng dẫn đường đến Chùa Koh Kas An Giang Để đến được Chùa Koh Kas, bạn có thể bắt đầu từ thành phố Châu Đốc, di chuyển theo hướng đi Ba Chúc. Khi đến ngã ba Ba Chúc, bạn chỉ cần rẽ phải và tiếp tục đi thêm một đoạn ngắn. Nhìn sang bên phải, bạn sẽ thấy cổng chùa Koh Kas với những hoa văn Khmer tinh tế, nổi bật giữa nền xanh vàng của cánh đồng lúa. Khoảng cách từ Châu Đốc đến Chùa Koh Kas chỉ khoảng 40km, tương đương 1 giờ di chuyển. Nếu xuất phát từ Thành phố Hồ Chí Minh, bạn có thể đi xe khách đến Châu Đốc, sau đó thuê xe máy hoặc ô tô để tiếp tục hành trình khám phá An Giang. Trên đường đến Tri Tôn, bạn sẽ đi qua nhiều điểm đến đẹp đẽ và mang đậm dấu ấn văn hóa Khmer như Chùa Hàng Còng hay Thánh đường Hồi giáo Mubarak. Đường đến Chùa Koh Kas qua cánh cổng thiên đường tâm linh tại Tri Tôn, An Giang 3. Thời điểm lý tưởng để check-in Cổng Trời Tri Tôn Thời gian thích hợp nhất để ghé thăm Chùa Koh Kas và chụp những bức ảnh đẹp tại cổng trời Tri Tôn là vào buổi sáng sớm hoặc chiều muộn khi ánh nắng dịu nhẹ. Đặc biệt, nếu bạn có dịp đến đây vào cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12, khi mùa lúa chín, cảnh quan càng trở nên rực rỡ với cánh đồng lúa vàng tươi, tạo nên những khung hình đẹp mắt. Vào cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12 là thời điểm tuyệt vời để có những bức hình đẹp check-in với Cổng trời Tri Tôn 4. Kiến trúc độc đáo mang dấu ấn văn hóa Khmer Chùa Koh Kas nổi bật với kiến trúc mang đậm dấu ấn của Phật giáo Nam Tông và văn hóa Khmer, tạo nên một không gian vừa uy nghiêm vừa huyền bí. Mặc dù không sở hữu quy mô lớn như các ngôi chùa khác, chùa Koh Kas lại ghi dấu bởi sự tinh tế trong từng chi tiết kiến trúc, đặc biệt là cổng trời Tri Tôn – một biểu tượng đặc trưng thu hút khách du lịch. 4.1. Cổng chùa Koh Kas – Điểm nhấn đặc biệt Điểm nổi bật đầu tiên mà bạn không thể bỏ qua chính là cổng trời Tri Tôn – một tác phẩm nghệ thuật kiến trúc độc đáo. Cổng chùa được chạm khắc tỉ mỉ với những đường nét hoa văn tinh xảo, mang đậm ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo Khmer. Phía trên cổng là ba tháp nhỏ tượng trưng cho ba ngôi Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), được đỡ bởi các cột trụ vững chắc. Mỗi tháp được trang trí bằng những họa tiết đặc trưng, thể hiện sự giao thoa giữa tín ngưỡng tôn giáo và văn hóa dân tộc Khmer. Đặc biệt, trên đỉnh tháp của cổng là hình tượng thần bốn mặt (Brahma) – một biểu tượng thiêng liêng trong văn hóa Khmer. Hai bên cổng có tượng rắn thần Nagar, được điêu khắc công phu, mang vẻ uy nghiêm và thần bí. Điều này thể hiện sự tôn trọng và tôn thờ các vị thần linh trong tín ngưỡng Phật giáo Khmer. Cổng chùa Koh Kas (Cổng trời Tri Tôn) – Điểm nhấn đặc biệt và ấn tượng nhất Cổng trời được bao quanh bởi cánh đồng lúa mênh mông, cây thốt nốt xanh mướt, tạo nên một khung cảnh hài hòa giữa kiến trúc và thiên nhiên. Khi đứng dưới cổng, du khách sẽ có cảm giác như mình đang bước vào một không gian thời gian khác, nơi mà sự giao thoa giữa con người và trời đất trở nên rõ nét hơn. 4.2. Không gian trong khuôn viên chùa Bước qua cổng trời, du khách sẽ được dẫn vào một con đường nhỏ uốn lượn, dài khoảng 500m, dẫn đến khuôn viên chính của chùa. Mặc dù chùa Koh Kas không có diện tích quá lớn, nhưng không gian nơi đây mang lại cảm giác yên bình, với những bụi hoa và cây xanh bao quanh. Chánh điện của chùa có màu vàng cam nổi bật, kiến trúc đơn giản nhưng tinh tế, thể hiện sự dung dị và khiêm nhường của Phật giáo Nam Tông. Không gian chùa yên bình, cây xanh bao quanh rất thích hợp thư giãn và gần gũi thiên nhiên Một chi tiết độc đáo khác là giàn hoa giấy rực rỡ nằm ở góc sân, với những bông hoa trắng và hồng đan xen, tạo nên sự tươi mới cho không gian. Chùa còn có một bồn sen lớn, biểu tượng cho sự tinh khiết và thanh tịnh trong Phật giáo. Không gian trong khuôn viên chùa luôn mang đến sự thanh tịnh và gần gũi với thiên nhiên, khiến cho mọi du khách đều cảm thấy tâm hồn thư thái khi ghé thăm. 4.3. Kiến trúc mang đậm dấu ấn Nam Tông Chùa Koh Kas thuộc hệ phái Phật giáo Nam Tông, được thể hiện rõ nét qua kiến trúc và cách bài trí. Mái chùa được thiết kế đơn giản với những tầng mái xếp chồng lên nhau, mang đặc trưng của các ngôi chùa Khmer. Mỗi chi tiết từ cột trụ, cửa sổ cho đến những bức tường đều được chạm khắc tỉ mỉ, mang tính biểu tượng cao trong văn hóa Nam Tông, với hình ảnh các vị thần, rắn thần, và hoa văn đặc trưng. Chùa Koh Kas sở hữu nét đặc trưng của các ngôi chùa Khmer Không gian của chùa không lộng lẫy nhưng mang lại cảm giác huyền bí, bình yên, phù hợp với tinh thần của Phật giáo Nam Tông – hướng đến sự giải thoát và giác ngộ. Những đường nét kiến trúc tuy đơn giản nhưng tinh tế, phản ánh rõ nét văn hóa của người Khmer và triết lý sống hướng về sự giản dị, yên tĩnh trong đời sống tâm linh. Chùa Koh Kas không chỉ là nơi để các tín đồ Phật giáo hành hương mà còn là địa điểm để du khách khám phá và trải nghiệm không gian văn hóa, kiến trúc độc đáo này. 5. Những lưu ý cần biết khi viếng thăm Chùa Koh Kas Để có một chuyến ghé thăm chùa Koh Kas (Cổng trời Tri Tôn) trọn vẹn và đầy trải nghiệm, bạn nên lưu ý một số điểm sau: – Trang phục lịch sự và thoải mái, phù hợp khi tham quan chùa. – Nên mang theo nước uống và một ít tiền mặt để tiện cho việc mua sắm hay chi tiêu dọc đường. Kinh nghiệm khi ghé thăm chùa Koh Kas (Cổng trời Tri Tôn) – Lựa chọn thời điểm tốt, tránh những ngày mưa hoặc thời tiết quá nóng. – Hãy tôn trọng những quy tắc trong chùa, tránh vi phạm những điều tối kỵ khi tham quan các điểm du lịch tâm linh. 6. Lời Kết Chùa Koh Kas, hay “Cổng trời Tri Tôn”, là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất tại An Giang. Nơi đây không chỉ mang đậm dấu ấn tâm linh mà còn là điểm check-in tuyệt đẹp với khung cảnh thiên nhiên hoang sơ và kiến trúc Khmer độc đáo. Nếu bạn đang tìm kiếm một hành trình mới mẻ để khám phá An Giang, thì Chùa Koh Kas chính là điểm dừng chân lý tưởng cho bạn. Theo Phiêu Lưu 5 Châu https://phieuluu5chau.com/chua-koh-kas-cong-troi-tri-ton-an-giang/