Đền Cấm Tuyên Quang nằm trong hệ thống các đền thờ Mẫu linh thiêng của tỉnh. Đền thờ Thánh Mẫu Thượng Ngàn nổi bật với kiến trúc cổ kính, không gian thanh tịnh và hiện đang lưu giữ nhiều di vật, hiện vật cổ có giá trị lâu đời. Đền Cấm - điểm đến tâm linh linh thiêng ở Tuyên Quang (Ảnh: Sưu tầm) 1. Giới thiệu về đền Cấm Tuyên Quang Địa chỉ: phường Nông Tiến, Tuyên Quang Đền Cấm Tuyên Quang được xây dựng từ thế kỷ XIX để thờ phụng Bà Chúa Thượng Ngàn. Đền tọa lạc dưới chân núi Cấm thuộc dải núi Dùm. Cửa đền hướng về phía Tây Nam, nhìn ra dòng sông Lô. Đền Cấm Tuyên Quang thờ ai? Đền Cấm là điểm đến tâm linh linh thiêng thuộc hệ thống các đền thờ Mẫu nằm dọc sông Lô. Người dân tìm đến đây để dâng lễ lên Bà Chúa Cấm cầu mong cuộc sống bình yên, sức khỏe, tài lộc. Với giá trị văn hóa sâu sắc gắn với lịch sử Tuyên Quang, đền Cấm đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh vào năm 2007. Đền Cấm tọa lạc ở chân núi Cấm thuộc dải núi Dùm (Ảnh: Sưu tầm) 2. Sự tích đền Cấm Tuyên Quang Sự hình thành đền Cấm Tuyên Quang gắn liền với những sự tích ly kỳ huyền bí. Thuở đầu, cụ Nguyễn Hữu Chu đã dựng ngôi miếu nhỏ đặt tên là Xâm Lĩnh Linh Từ ở chân núi Cấm. Ngôi miếu là nơi thờ thần rừng, thần núi để trấn áp sự phá phách của thú rừng. Cũng từ khi lập miếu, thú rừng không còn quấy phá đời sống người dân nữa. Đặc biệt, Xâm Lĩnh Linh Từ thu hút rất nhiều loài rắn và trăn đến trú ngụ nhưng hiền lành và không gây hại cho ai bao giờ. Chính vì vậy, du khách thập phương đã đắp tượng rắn thần và thờ cúng cả Thần Xà bảo hộ ngôi miếu. Tương truyền rằng Thần Xà vô cùng linh thiêng, nếu ai báng bổ thần linh sẽ bị “hành” cho vô cùng khổ sở. Cũng bởi sự linh thiêng của ngôi miếu nên rất nhiều người tìm đến để cầu cúng và tổ chức hầu đồng. Tuy nhiên cụ Nguyễn Hữu Chu lại bài xích các hoạt động mê tín dị đoan nên đã đổi tên thành miếu Cấm và cấm tiệt những trò đồng bóng. Sau này, ngôi miếu được tu bổ khang trang hơn và gọi là đền Cấm. Hiện nay, đền Cấm là nơi thờ Bà Chúa Thượng Ngàn và Thần Xà, những vị thần bảo hộ mang đến bình an, ấm no và hạnh phúc. Đền Cấm Tuyên Quang gắn với những sự tích huyền bí, ly kỳ (Ảnh: Sưu tầm) 3. Đi đền Cấm Tuyên Quang có gì hấp dẫn? 3.1. Khám phá kiến trúc đền Cấm Đền Cấm Tuyên Quang sở hữu kiến trúc mang đậm phong cách thời Nguyễn với những dấu ấn tín ngưỡng cổ. Ngôi đền gồm có 4 tòa nhà chính là cung Chúa Bà, cung Sơn Trang, Tam tòa Thánh Mẫu và cung Tam Bảo. Tòa thứ nhất là cung Chúa Bà thờ Bà Chúa Thượng Ngàn. Đây là vị thần bảo hộ linh thiêng của núi rừng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của dân tộc ta. Trung tâm cung Chúa Bà đặt tượng Bà Chúa Thượng Ngàn sơn son thếp vàng uy nghi. Gian bên trái là cung Chầu thờ các vị Thánh Chầu. Gian bên phải là cung Trần triều thờ Đức Thánh Trần và cung bản mệnh thờ các vị thần bảo hộ loài người. Tại đây còn có giếng nước thiêng là nơi khách đến xin nước uống và rửa mặt với niềm tin mang lại sức khỏe, may mắn. Tòa nhà thứ hai là cung Sơn Trang, nằm ở trên sườn núi, đặt điện thờ Mẫu Sơn Trang. Đây là vị thần bảo vệ thiên nhiên, phù hộ cuộc sống ấm no, mùa màng bội thu. Bàn thờ Mẫu Sơn Trang đặt tượng Mẫu Sơn Trang cùng các tiên nữ hầu cận. Xung quanh trang trí hình ảnh hoa là, cây rừng, linh vật, thể hiện sự kết nối với thiên nhiên. Ban thờ Mẫu Sơn Trang trong Cung Sơn Trang tại đền Cấm Tuyên Quang (Ảnh: Sưu tầm) Tòa thứ ba là Tam tòa Thánh Mẫu, nằm ở chính diện, hướng đi lên sườn núi. Đây là nơi thờ 3 vị Thánh Mẫu cai quản ba miền không gian và thiên nhiên gồm Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải. Các pho tượng Mẫu được sơn son thếp vàng lộng lẫy, tọa lạc uy nghi trên bàn thờ. Phía trước Tam tòa Thánh Mẫu là các cây cổ thụ lớn trang nghiêm, tỏa bóng mát cho không gian. Tòa nhà thứ 4 là cung Tam Bảo, nằm ở vị trí cao nhất trong đền Cấm. Đây là nơi thờ Phật, thể hiện sự tôn kính dành cho Đức Phật. Bàn thờ trong điện được bài trí trang nghiêm với các pho tượng Phật tinh xảo bằng đồng hoặc gõ, sơn son thếp vàng. Xung quanh điện là hoành phi, câu đối với hình ảnh chủ đạo là hoa sen ngụ ý sự giác ngộ và thanh tịnh nơi cửa Phật. Cung Tam Bảo đền Cấm Tuyên Quang (Ảnh: Sưu tầm) 3.2. Chiêm ngưỡng các di vật, hiện vật cổ độc đáo Không chỉ có kiến trúc cổ kính, đền Cấm Tuyên Quang còn là nơi lưu giữ nhiều di vật, hiện vật cổ quý giá từ các triều đại phong kiến Việt Nam. Các hiện vật này được đánh giá cao về tính thẩm mỹ, thể hiện sự tài hoa sáng tạo của con người xứ Tuyên Quang xưa. Tại đền Cấm có đặt bia đá lịch sử hàng trăm năm, được chạm khắc các văn tự Hán Nôm. Nội dung bia đá kể về lịch sử xây dựng đền, tưởng nhớ công ơn các vị thần cũng như ghi nhận công đức. Những pho tượng Phật, tượng Thần trong đền được chế tác chủ yếu từ gỗ, đồng hoặc đất nung theo phong cách điêu khắc truyền thống của Việt Nam. Đường nét trên mỗi pho tượng trông uyển chuyển và tỉ mỉ đến từng chi tiết. Các bức hoành phi và câu đối đặt trong những điện thờ đều được làm từ gỗ lim. Các chi tiết chạm khắc được làm vô cùng tinh xảo, sơn son thếp vàng. Đền Cấm còn cất giữ những hiện vật như đỉnh đồng, chân đèn, bát hương sứ men lam… Đây là những di vật đồ thờ có giá trị tâm linh và là mình chứng cho trình độ làm sản phẩm thủ công mỹ nghệ của người xưa. Những bức tượng, hoành phi tinh xảo tại đền Cấm Tuyên Quang (Ảnh: Sưu tầm) 3.3. Cầu may mắn, tài lộc Đến Cấm ở Tuyên Quang là địa điểm tâm linh nổi tiếng, được bảo hộ và che chở bởi các vị thần linh thiêng. Người dân thường đến đây để cầu công danh, tài lộc, bình an và sự thuận lợi trong công việc lẫn cuộc sống. Dịp đầu năm, các ngày lễ hội, cũng như mùng 1, ngày rằm hàng tháng là thời điểm đông người đến đền cầu nguyện, cúng bái, xin lộc. Khi dâng lễ tại đền Cấm nên ăn mặc lịch sự cho phù hợp với không gian tâm linh và luôn giữ thái độ thành kính, nghiêm túc. Lễ vật chuẩn bị chu đáo với hương, nến, hoa, trái cây, vàng mã, lễ mặn (nếu có)... Người dân đi lễ đền Cấm Tuyên Quang để cầu may mắn, tài lộc, bình an (Ảnh: Sưu tầm) 3.4. Kết hợp tham quan các điểm du lịch tâm linh nổi tiếng khác Khi du lịch Tuyên Quang, ngoài đền Cấm bạn có thể kết hợp tham quan các địa điểm tâm linh nổi tiếng khác như: Đền Thượng: Đây là một trong những đền thờ Mẫu linh thiêng nhất ở Tuyên Quang. Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và Sơn Thần. Đền mang phong cách kiến trúc truyền thống Việt Nam, là điểm đến tâm linh có giá trị văn hóa, lịch sử đặc sắc. Thiền viện Trúc Lâm Chính Pháp: Đây là công trình Phật giáo thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử tại Tuyên Quang. Với kiến trúc hài hòa, không gian thanh tịnh chốn thiền tu, Thiền viện thu hút Phật tử đến chiêm bái, vãng cảnh và tìm kiếm sự bình yên trong tâm hồn. Đền Ghềnh Quýt: Đây là đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo và các vị thần linh trong tín ngưỡng của dân tộc ta. Ngôi đền có lịch sử gắn liền với cuộc chiến chống quân Nguyên Mông. Người dân và du khách tìm đến đây để chiêm bái thần linh, cầu nguyện những điều bình an, may mắn. Thăm Thiền Viện Trúc Lâm Chính Pháp ở Tuyên Quang (Ảnh: Sưu tầm) 3.5. Thưởng thức đặc sản Trong chuyến đi đền Cấm Tuyên Quang bạn có thể thưởng thức rất nhiều món đặc sản địa phương hấp dẫn. Đừng bỏ qua cơ hội nếm thử bánh gai, thịt lợn đen, cá bống sông Lô, xôi ngũ sắc, măng rừng Tuyên Quang, cam sành Hàm Yên, cơm lam, rau rừng… Những món đặc sản Tuyên Quang mang đậm hương vị núi rừng sẽ là trải nghiệm ẩm thực khó quên dành cho mỗi du khách. Thưởng thức bánh gai đặc sản xứ Tuyên (Ảnh: Sưu tầm) Theo VinPearl https://vinpearl.com/vi/den-cam-tuyen-quang
Đình Tân Trào trước đây có tên là Kim Long, được xây dựng vào năm Tự Đức thứ 6 (1853) nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh và là nơi hội họp, sinh hoạt văn hoá của dân làng. Đình thờ Thành hoàng làng cùng 7 vị sơn thần quanh khu vực làng Kim Long. Năm Quý Hợi (1923), đình được trùng tu lại theo lối kiến trúc nhà sàn, gồm ba gian 2 chái, mái lợp lá cọ, sàn lát ván. Ban thờ được đặt ở gian giữa. Do nằm trên mảnh đất có vị trí chiến lược về mặt quân sự, bốn bề là núi rừng bao bọc, đình Tân Trào đã được Bác Hồ và Trung ương Đảng chọn làm nơi tổ chức họp Quốc dân Đại hội trong hai ngày 16 và 17/ 8/1945. Tại đây, Đại hội đã tán thành chủ trương tiến hành Tổng khởi nghĩa của Đảng; thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh; quy định quốc kỳ của Việt Nam là lá cờ đỏ sao vàng, quốc ca là bài Tiến quân ca và cử ra Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Dưới mái đình này, sáng ngày 17/8/1945, thay mặt Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời tuyên thệ trong lễ ra mắt Quốc dân. Cách đình Tân Trào khoảng 500m về phía đông là cây đa Tân Trào - một trong những biểu tượng của quê hương cách mạng Tân Trào. Dưới gốc đa này, chiều 16/8/1945, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đọc Bản Quân lệnh số 1, chính thức phát động cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngay sau đó, quân Giải phóng Việt Nam đã làm lễ xuất quân trước sự chứng kiến của nhân dân xã Tân Trào cùng 60 đại biểu toàn quốc về dự Quốc dân Đại hội. Hàng năm, tại đình Tân Trào diễn ra 3 ngày lễ, trong đó lễ hội chính là lễ Cầu mùa (4 tháng Giêng âm lịch). Trong ngày lễ này, dân làng rước kiệu các vị thần về đình và tổ chức nhiều trò chơi như tung còn, đẩy gậy, hát then… Hai ngày lễ còn lại là lễ Hạ điền (4/5 âm lịch) và lễ Thượng điền (14/7 âm lịch). Mỗi năm, đình Tân Trào đón hàng trăm nghìn lượt khách tham quan, trở thành địa chỉ đỏ trong hành trình về nguồn, là nơi giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ người Việt. Theo KHU DU LỊCH TÂN TRÀO https://dulichtantrao.vn/dia-diem-tham-quan/dinh-tan-trao-75.html
Được tạo hóa ban tặng những cảnh sắc hùng vĩ, hệ thống rừng nguyên sinh, thảm thực vật phong phú và cộng đồng văn hóa đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc, hai huyện Na Hang và Lâm Bình đã và đang thực hiện nhiều giải pháp, khai thác có hiệu quả các tiềm năng, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Danh thắng Cọc Vài, xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình gắn với sự tích chàng Tài Ngào. Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình nằm giữa những cánh rừng đại ngàn dọc đôi bờ sông Gâm và sông Năng, nơi đây có hệ sinh thái đa dạng với nhiều loài động vật, thực vật quý hiếm, nhiều hang động kỳ thú; những thác nước tự nhiên thơ mộng, cảnh quan thiên nhiên huyền ảo, khí hậu trong lành và nhiều phong tục văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số Tày, Dao, H’Mông, Pà Thẻn... Khu bảo tồn được phân bố ở các xã Lăng Can, Khuôn Hà, Thượng Lâm, Phúc Yên (huyện Lâm Bình) và Năng Khả, Thanh Tương, Sơn Phú, Hồng Thái, Thượng Nông, Thượng Giáp, Yên Hoa, Côn Lôn, Sinh Long, Khâu Tinh, thị trấn Na Hang (huyện Na Hang). Chị Đinh Trà My, hướng dẫn viên du lịch Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình cho biết, đến với khu bảo tồn, du khách chắc chắn sẽ không bỏ lỡ cơ hội đi thuyền trên hồ thủy điện Tuyên Quang với diện tích mặt nước hơn 8.000 ha, để được đắm mình với thiên nhiên mênh mông sông nước, trùng điệp núi rừng, được nghe những câu chuyện kể về sự tích gắn với từng địa danh nơi đây. Trên đường vãn cảnh lòng hồ, du khách sẽ được ghé thăm thác Mơ được xếp hạng là thắng cảnh quốc gia. Những cánh rừng nguyên sinh có cây nghiến nghìn năm tuổi và loài voọc mũi hếch được ghi trong Sách đỏ thế giới. Đi dọc sông từ xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình giữa cảnh sông nước núi non hùng vĩ, là sừng sững chiếc "cọc Vài" đá (tiếng Tày nghĩa là cọc buộc trâu) gắn với sự tích chàng Tài Ngào. Từ đoạn hợp lưu giữa sông Gâm với sông Năng là một vùng sông nước, núi non hùng vĩ với những bóng cây cổ thụ của những cánh rừng nguyên sinh đổ xuống mặt nước. Anh Nguyễn Hồng Quang, khách du lịch đến từ quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội bày tỏ, khi đến với Khu du lịch sinh thái Na Hang-Lâm Bình, anh rất bất ngờ và ngỡ ngàng trước cảnh đẹp, vẻ hoang sơ, thuần khiết của những cánh rừng nguyên sinh, những dòng thác đổ xuống bọt trắng xóa. Khí hậu ở đây rất mát mẻ, dễ chịu và trong lành. Anh còn được tham gia đua bè mảng của người Tày và đây là trải nghiệm rất khó quên khi đến với Na Hang. Làng văn hóa du lịch thôn Nà Tông, xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình, là điểm đến hấp dẫn du khách. Tựa mình bên những dãy núi đá vôi trùng trùng điệp điệp, nghiêng soi bên hồ sinh thái Na Hang-Lâm Bình, những homestay được xây dựng theo kiểu nhà sàn truyền thống của người Tày khiến du khách cảm thấy thích thú. Anh Hoàng Văn Minh, chủ homestay Tài Ngào, Làng văn hóa du lịch thôn Nà Tông, cho biết: Tại cơ sở lưu trú của tôi, từng chi tiết nhỏ nhất như chiếc cốc, móc áo bằng tre cũng được chăm chút, giữ đúng truyền thống của người dân địa phương. Với mong muốn giúp du khách được hòa mình vào cuộc sống ở nơi đây, homestay còn tổ chức các hoạt động trải nghiệm cộng đồng như: Giã bánh dày, chơi những trò chơi như đánh pam, đánh yến, giao lưu văn hóa văn nghệ, đốt lửa trại, nhảy sạp, nghe hát then, đạp xe tham quan bản làng và thưởng thức các món ăn đặc sản của dân tộc. Mỗi tháng, homestay của tôi đón khoảng hơn 1.000 lượt khách đến lưu trú, nghỉ dưỡng. Đồng chí Lê Thế Đạt, Chủ tịch UBND huyện Lâm Bình cho biết: Để hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch, huyện đã tập trung huy động các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch, xây dựng hạ tầng giao thông và hạ tầng thiết yếu như: Bến thủy, xây dựng Làng Văn hóa du lịch... Bước đầu đã hình thành các khu, điểm du lịch, sản phẩm du lịch đặc trưng của huyện, nổi bật là du lịch cộng đồng với gần 60 hộ đang hoạt động. Huyện cũng đã xây dựng trên 20 điểm check in, dừng chân tại các địa điểm phù hợp để du khách trải nghiệm và chụp ảnh lưu niệm. Kết nối hơn 200 công ty du lịch, chủ động liên kết, hợp tác phát triển du lịch. Hướng đến xây dựng Lâm Bình là điểm đến "an toàn - hấp dẫn - thân thiện"; góp phần thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lâm Bình lần thứ 2, nhiệm kỳ 2020-2025 về đẩy mạnh phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, bền vững. Để khai thác các tiềm năng, thúc đẩy phát triển du lịch của địa phương, đồng chí Tô Viết Hiệp, Chủ tịch UBND huyện Na Hang cho biết, huyện sẽ tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 35 của Ban Thường vụ Huyện ủy về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của huyện giai đoạn 2021-2025. Tổ chức các hoạt động quảng bá, mời gọi chuyên gia tư vấn việc phát triển du lịch một cách bài bản, bền vững; khai thác có hiệu quả danh lam thắng cảnh Di tích Quốc gia đặc biệt Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang-Lâm Bình, lấy du lịch sinh thái thiên nhiên là trung tâm để phát triển các chuỗi sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng, trải nghiệm, du lịch sinh thái rừng, du lịch tâm linh, du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc của các dân tộc. Huyện phấn đấu đến năm 2025, xây dựng danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Na Hang-Lâm Bình là trung tâm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch khám phá có thương hiệu quốc gia, tiến tới thương hiệu quốc tế. Từ đầu năm đến nay, huyện Na Hang và Lâm Bình đã thu hút hơn 552.000 lượt khách du lịch; doanh thu đạt hơn 677 tỷ đồng. Hai huyện phấn đấu trong năm 2025, sẽ đón hơn 550.000 lượt khách (Na Hang 350.000 lượt; Lâm Bình 200.000 lượt), doanh thu xã hội đạt trên 770 tỷ đồng (Na Hang 430 tỷ đồng; Lâm Bình 340 tỷ đồng). Theo Báo Nhân Dân https://nhandan.vn/khai-thac-tiem-nang-the-manh-khu-du-lich-na-hang-lam-binh-post847128.html
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ tại thôn Lập Binh, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương vào tháng 3/1951. (Ảnh tư liệu) Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh rời thủ đô Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Tháng 2/1947, theo chỉ thị của Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ do đồng chí Nguyễn Văn Lưu - Chánh Văn phòng cùng một số cán bộ gồm: Nguyễn Doãn Đính, Tuấn, Lê Thị Lịch… đến ở và làm việc tại thôn Cả (Hồng Thái) xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Ở thôn Cả một thời gian ngắn, sau đó Văn phòng chuyển đến ở, làm việc tại thôn Lập Binh, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cán bộ, nhân viên các cơ quan Trung ương chúc thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 60 năm ngày sinh của Người, tại thôn Lập Binh, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương vào tháng 5/1950. (Ảnh tư liệu) Tháng 7/1947, đồng chí Nguyễn Văn Lưu, Chánh Văn phòng chuyển đi làm công tác khác. Ngày 17/8/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 232/SL cử đồng chí Phan Mỹ, nguyên Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng giữ chức Chánh Văn phòng Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ. Chị Lành Thị Kiên, hướng dẫn viên Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào cho biết, lịch sử ghi lại, ngày đầu đến đây, Văn phòng còn ít cán bộ. Sau một thời gian, để đáp ứng sự phát triển và phục vụ tốt hơn cho Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ mở rộng và tăng cường thêm nhiều cán bộ. Khu cơ quan, nhà cửa tuy chỉ làm bằng những vật liệu tre, nứa, lá và gỗ rừng, nhưng được xây dựng rất khang trang. Bao gồm: Hội trường Văn phòng Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ; Nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Nhà ở và làm việc của cán bộ Văn phòng; Nhà khách Quốc tế; Nơi ở và làm việc của Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và nhân viên Phòng 7. Nhà ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thôn Lập Binh, xã Bình Yên, huyện Sơn Dương từ năm 1948-1954. Văn phòng Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ ban đầu có bí danh là Trung đội 555, có thời kỳ còn gọi là Ban Thông tin Tháng Tám, sau đổi thành Ban Kiểm lâm 13. Năm 1949, Văn phòng Hội đồng Quốc phòng tối cao (có bí danh Tiểu đội Thanh Sơn) sát nhập Văn phòng Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ. Lúc này Văn phòng Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ lấy bí danh là Ban Kiểm tra 12. Bí danh này tồn tại cho tới khi về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ họp ngày 4/10/1949, Văn phòng Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ được tổ chức quy mô lớn hơn thành các phòng, gồm: phòng Bí thư; phòng Nghiên cứu; phòng Thư ký Hội đồng Chính phủ; phòng Hành chính; phòng Thống kê; Ban Thanh tra Chính phủ; Ban Huấn học; Ban Kinh tế; phòng Mật mã; phòng Vô tuyến điện; phòng Giao tế; phòng Y tế…. Tại thôn Lập Binh, đã tổ chức nhiều cuộc họp của Chính phủ, Quốc hội để quyết định những vấn đề quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bia di tích Khu di tích lịch sử Chính phủ. Từ ngày 30/9 đến 3/10/1948, Hội đồng Chính phủ đã họp bàn về một số vấn đề trong nước và quốc tế dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phát biểu về vấn đề thi đua, Người nêu rõ: Hiện nay nhiều người vẫn chưa hiểu hết về vấn đề thi đua, phong trào bình dân học vụ thi đua có kết quả là vì có nhiều cán bộ mà đều là cán bộ trong dân. Cho nên, trong việc vận động thi đua cần phải tránh xu hướng "bàn giấy", "công chức hóa". Cán bộ thi đua cũng nên đào tạo như cán bộ bình dân học vụ, lấy người địa phương mà huấn luyện. Quân đội và nhân viên các cơ quan cũng có trách nhiệm vận động thi đua. Cần có sự phối hợp thống nhất chương trình thi đua thì thi đua mới có kết quả rõ rệt. Từ ngày 14 đến ngày 16/6/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì họp Hội đồng Chính phủ để nhận định tình hình trong nước và quốc tế, bàn chủ trương công tác trong giai đoạn mới. Tổng kết phiên họp, Người kết luận: "Mọi việc muốn thành công, cần phải trông vào dân, các kế hoạch chương trình cần phổ biến cho dân hiểu và vận động dân tham gia". Ngày 20/9/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Hội đồng Chính phủ, nghe báo cáo tình hình thế giới và trong nước, tình hình quân sự, việc thực hiện biên chế, các vấn đề nội chính, kinh tế, tài chính, văn hóa-xã hội. Phát biểu tổng kết cuộc họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu một số ý kiến, kháng chiến cần có bộ đội, muốn bộ đội đánh giặc thì phải ăn no. Vấn đề thuế nông nghiệp phải được chú trọng đúng mức, như vậy mới cung cấp đủ gạo cho bộ đội. Từ trung ương đến địa phương phải thông suốt tư tưởng từ trên xuống dưới, phải cải tiến lề lối làm việc. Có kế hoạch trù bị ngân sách sớm cho Chính phủ và cho từng ngành. Hết sức giữ bí mật và quân sự hóa triệt để. Tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa I, diễn ra từ ngày 1 đến 4/12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày báo cáo "Tình hình trước mắt và nhiệm vụ cải cách ruộng đất". Người nêu lên tầm quan trọng của nhiệm vụ cải cách ruộng đất "Then chốt thắng lợi của kháng chiến là củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố công nông liên minh, củng cố chính quyền nhân dân, củng cố và phát triển quân đội, củng cố Đảng và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về mọi mặt. Chỉ có phát động quần chúng cải cách ruộng đất, ta mới tiến hành những việc đó được thuận lợi". Với ý nghĩa và tầm quan trọng, năm 2000, Khu di tích lịch sử Chính phủ được công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Trở thành địa điểm du lịch thu hút du khách trong nước và quốc tế, là cái nôi giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ. Theo Báo Nhân Dân https://nhandan.vn/khu-di-tich-lich-su-chinh-phu-trong-khang-chien-tai-tuyen-quang-post768605.html
Nhà thờ giáo xứ Tuyên Quang, tước hiệu Đức Mẹ Mân Côi xây dựng từ rất sớm, khởi công năm 1895 và hoàn thành vào tháng 10 năm 1897. Kiến trúc Nhà thờ kiểu kiến trúc châu Âu với tháp chuông cao vút và cung Thánh kiểu mái vòm. Theo dòng lịch sử, thời vua Trang Tông, niên hiệu Phúc Thái có ông Vũ Công Mật - Tổng trấn Tuyên Quang cùng một số tuỳ tùng về Hưng Hoá xin gia nhập đạo Công giáo, đó là ngày 24 tháng 4 năm 1647. Nhưng phải đến năm 1887, bề trên giáo phận mới sai cố Bắc (Girod) lên Tuyên Quang làm cha tuyên uý cho quân đội Pháp và truyền đạo. Đến năm 1895, Toà giám mục phái cha Báu (J. Chotard) thay thế cho cố Bắc. Lúc đó Tuyên Quang mới chỉ có khoảng 100 nhân danh (tín hữu) nhưng cha Báu đã nghĩ ngay đến việc xây Nhà thờ để làm nơi quy tụ dân Chúa và thực hành các nghi thức phục vụ. Nhà thờ được chọn xây trên ngọn núi cao nên ở phía nào cũng có thể nhìn thấy tháp chuông với cây Thánh giá vươn lên trời cao. Trải qua thời gian gần 125 năm và bao biến cố lịch sử Nhà thờ Tuyên Quang đã phải sửa chữa nhiều lần. Mặc dù thời gian đã bào mòn đi hình dáng ban đầu nhưng những hạt giống Tin mừng đã được gieo xuống mảnh đất này nay vẫn trổ thêm hoa trái Đức tin. Theo Nhà Thờ Công Giáo Việt Nam https://nhathoconggiaovietnam.com/nha-tho/nha-tho-giao-xu-tuyen-quang
Khí hậu Đồng Văn nằm trong vùng khí hậu gió mùa mang tính chất lục địa khá rõ nét. Lượng mưa trung bình lớn, khoảng 1.750 mm-2.000 mm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 20 độ C, khi lạnh nhất có thể xuống đến 1-2 độ, lúc nóng nhất gần 40 độ C. Độ ẩm không khí khoảng 84%. Ở Đồng Văn còn xuất hiện sương muối, thỉnh thoảng có mưa tuyết vào mùa đông. Di chuyển Đồng Văn cách thành phố Hà Giang 150 km về phía Bắc. Từ thành phố, du khách di chuyển theo quốc lộ 4C, có thể sử dụng nhiều phương tiện, trong đó phổ biến nhất là xe máy, ôtô tự lái, ôtô thuê hoặc xe khách... Thời gian di chuyển khoảng 3-5 tiếng, tùy phương tiện. Tại thị trấn Đồng Văn, du khách có thể thuê xe máy với giá khoảng 100.000 đồng một ngày. Sông Nho Quế chảy qua Đồng Văn và Mèo Vạc rồi đổ vào sông Gâm tại Cao Bằng. Ảnh: Xuân Phương Lưu trú Đồng Văn có nhiều nơi lưu trú, từ nhà nghỉ, homestay đến các khách sạn lớn. Trong số này, homestay có số lượng nhiều nhất, nằm rải rác từ trung tâm thị trấn tới các xã, như Hagiang Holic, Plum Homestay, Đồng Văn Cliffside House, Đồng Văn H’Mông Homestay, Đồng Văn B&B, Khói Home... Giá mỗi đêm dao động từ 400.000 đồng đến 1 triệu đồng một phòng hoặc 100.000 đồng đến 250.000 đồng một đệm của dorm hay nhà sàn trong homestay. Khách sạn có Hoa Cương Hotel, Hoàng Văn, Hoàng Ngọc, Mã Pì Lèng Hotel... với giá trung bình 400.000 đến 1 triệu đồng một đêm. Chơi đâu Phố cổ Đồng Văn Nằm trong vùng lõi của công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá Đồng Văn, phố cổ Đồng Văn là điểm đến du khách không thể bỏ qua. Phố cổ nằm ở trung tâm thị trấn, được hình thành từ hơn 100 năm trước. Trước đây khu này chỉ là một thung lũng hoang sơ, dân cư thưa thớt. Cuối thế kỷ 19, khu phố dần được hình thành. Từ trên cao nhìn xuống, phố cổ Đồng Văn là ba dãy nhà xếp thành hình chữ U, lợp ngói âm dương, gồm nhà ở, khu thương mại có quy mô không lớn song có những nét riêng mang bản sắc của vùng cao nguyên đá. Đến đây, du khách không nên bỏ qua quán cà phê Phố Cổ nằm ở góc chợ trung tâm Đồng Văn, trong căn nhà có tuổi đời hơn 100 năm, dựa vào núi. Dốc Thẩm Mã Dốc Thẩm Mã. Ảnh: Dulich24 Dốc Thẩm Mã là đường đèo nằm trên quốc lộ 4C, tiếp giáp giữa huyện Yên Minh và Đồng Văn. Con dốc được biết đến là một trong những cung đường nguy hiểm nhất miền Bắc, dài 5 km với 9 khúc quanh uốn lượn. Cũng chính vì lý do này mà nhiều người thích chinh phục dốc Thẩm Mã. Dừng chân tại đây, nơi có góc chụp ảnh cực đẹp, bạn sẽ có cơ hội nghe nhiều huyền thoại về con dốc này. Khu dinh thự nhà Vương Dinh thự nhà Vương ở xã Sà Phìn, được xây dựng từ đầu thế kỷ XX, mô phỏng kiến trúc nhà Thanh (Trung Quốc), theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Hà Giang. Căn nhà mất 8 năm mới hoàn thiện, nằm trên khu đất 1.120 m2. Dinh thự có hình mai rùa với những hàng cây sa mộc vươn cao. Hai vòng tường bao xây bằng đá hộc, có lỗ châu mai và bốt canh. Dinh có ba nhà sàn. Nhà chính quay mặt ra cổng, hai nhà phụ song song và vuông góc với nhà chính. Cả ba ngôi nhà từ cột, kèo, sàn, vách, mái đều được làm bằng gỗ quý. Nhà Vương nằm cạnh quốc lộ 4C trên đường từ thành phố Hà Giang đi Đồng Văn, cách trung tâm thị trấn Đồng Văn 13 km. Năm 1993, dinh thự nhà Vương được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia. Sông Nho Quế Sông Nho Quế bắt nguồn từ Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc - đông nam, qua các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc thuộc địa phận tỉnh Hà Giang để nhập vào sông Gâm ở Cao Bằng. Sông Nho Quế phần chảy vào Việt Nam dài 46 km, từ Lũng Cú qua hẻm núi Tu Sản và sau đó chạy dọc theo đèo Mã Pí Lèng. Một điểm đặc sắc của sông là phần lớn thời gian trong năm, nước có màu xanh ngọc. Những năm gần đây, các công ty du lịch tại địa phương cung cấp dịch vụ đi thuyền ngắm cảnh hoặc chèo kayak cho du khách. Giá thuê từ 50.000 đồng đến 150.000 đồng một thuyền, tùy loại. Một khúc sông Nho Quế. Ảnh: Xuân Phương Lưu ý: Để tới được bến thuyền, du khách sẽ phải vượt quãng đường ngoằn ngoèo. Nên thuê người địa phương có tay lái vững và quen đường chở đi. Cột cờ quốc gia Lũng Cú Cột cờ nằm ở đỉnh Lũng Cú hay còn gọi là đỉnh núi Rồng có độ cao 1.470 m so với mực nước biển, thuộc xã Lũng Cú. Cột cờ cách điểm cực Bắc của Việt Nam khoảng 3,3 km theo đường chim bay. Cột cờ có lịch sử lâu đời, trải qua nhiều lần phục dựng, tôn tạo, hiện có hình bát giác, cao hơn 30 m, khánh thành ngày 25/9/2010. Trên đỉnh là cán cờ cao 9 m cắm quốc kỳ Việt Nam rộng 54 m2. Từ trên đỉnh cột cờ nhìn xuống có hai ao nước hai bên núi, quanh năm không cạn, được gọi là ao mắt rồng. Cột cờ cách thị trấn Đồng Văn 24 km. Cánh đồng hoa tam giác mạch Sủng Là Mùa hoa tam giác mạch ở Sủng Là. Ảnh: Cao Anh Tuấn Cách thị trấn Đồng Văn gần 20 km, xã Sủng Là có khung cảnh như cổ tích, nằm dưới những vách núi đá tai mèo. Đồng bào dân tộc Mông ở Sủng Là thường trồng tam giác mạch ở các triền đồi cao, nên nơi này được xem là một trong những điểm ngắm hoa đẹp nhất tại Hà Giang. Thời điểm lý tưởng nhất là từ tháng 10 đến tháng 11. Nhà của Pao Cũng nằm tại xã Sủng Là, "Nhà của Pao" thực chất là căn nhà của người dân, xây dựng năm 1947, được sử dụng làm bối cảnh cho bộ phim "Chuyện của Pao". Ngôi nhà mang những nét kiến trúc của người Mông vùng cao nguyên đá, khép kín bốn hướng, chính giữa là sân trời. Khoảng sân trước nhà lát đá, xung quanh trồng mận, mơ, đào... những loài cây đặc trưng của vùng. Căn nhà có kiến trúc đẹp, cảnh quan xung quanh còn đẹp hơn vào mùa hoa nở nên nơi đây luôn thu hút đông khách du lịch. Điểm đến này thu phí 10.000 đồng với mỗi khách du lịch. Nhà của Pao nhìn từ xa. Ảnh: Hoàng Thế Anh Thị trấn Phó Bảng Không ồn ào như những nơi khác, ở Phó Bảng du khách sẽ có cảm giác thời gian trôi chậm. Đây là nơi sinh sống của cộng đồng người Hoa và Mông với hơn 500 nhân khẩu. Thị trấn nổi bật nhờ vẫn giữ được vẻ đơn sơ, bình dị và cổ kính. Vì đường đi xa xôi hơn các nơi khác nên Phó Bảng có phần tách biệt và ít được biết đến hơn. Để vào thị trấn, từ quốc lộ phải đi thêm gần 5 km, tới sát biên giới Việt - Trung, nơi chỉ có những núi đá tai mèo. Chợ phiên xã Phố Cáo Nằm cách trung tâm thị trấn Đồng Văn 25 km, phiên chợ Phố Cáo 6 ngày họp một lần, thường kéo dài từ mờ sáng đến hết trưa. Chợ Phố Cáo không chỉ là nơi mua bán hàng hóa, sản vật địa phương mà còn là nơi sinh hoạt giao lưu văn hóa giữa 17 dân tộc trên địa bàn. Các phiên chợ đều rất đông vui. Người dân mặc những chiếc váy đẹp nhất, mang đến chợ từ con gà đến đàn lợn, những chiếc váy, khăn quàng, dao mài sắc, mớ rau mới hái trong vườn. Ăn gì Món ăn ở Đồng Văn cũng chính là những món ăn tiêu biểu ở Hà Giang, có thể tìm thấy ở mọi nơi trong tỉnh. Tuy nhiên, tại Đồng Văn du khách sẽ có nhiều địa chỉ có tiếng để lựa chọn. Cháo ấu tẩu Món cháo ẩu tẩu đặc trưng Hà Giang. Ảnh: Xuân Phương Cháo ấu tẩu là món ăn đặc trưng ở Hà Giang. Nguyên liệu nấu cháo gồm củ ấu tẩu, gạo, thịt lợn, giò, trứng, rau và một số thứ khác. Ấu tẩu là một loại cây quen thuộc của người địa phương, còn có tên gọi khác là ấu tàu, thủ ô... được trồng nhiều ở vùng cao Hà Giang. Củ ấu tẩu tươi có độc, qua bàn tay chế biến của người dân đã trở thành món ăn ngon miệng. Ấu tẩu còn là một loại dược liệu quý, có tác dụng giải cảm, giãn gân cốt, giảm mệt mỏi, giúp ngủ ngon. Để làm cháo, củ ấu tẩu phải được ngâm trong nước vo gạo đậm đặc khoảng 10 tiếng, sau đó ninh nhiều giờ nữa cho đến khi củ mềm bở, chất độc biến mất. Địa chỉ tham khảo: cháo Mộc Miên, quán cháo trong chợ Đồng Văn. Bánh cuốn Nguyên liệu làm món này gồm bột gạo, thịt, mộc nhĩ, xương, giò chả và gia vị. Bột được ngâm qua đêm cho mềm rồi pha với gia vị. Khách đến ăn, người làm mới đổ bột lên khuôn tráng tại chỗ cho nóng. Sau khoảng 3 phút, bánh chín thì cuốn lại cùng thịt, mộc nhĩ đã sơ chế, cắt ngắn đặt vào đĩa, rắc thêm hành phi và rau mùi. Khác với bánh cuốn chấm nước mắm ở nhiều vùng, bánh cuốn Hà Giang ăn cùng nước dùng. Nước dùng được ninh bằng xương lợn nên có vị ngọt thanh. Theo người dân địa phương, vì khí hậu miền núi buổi sáng rất lạnh, bà con ăn bánh cuốn với nước canh cho ấm người. Địa chỉ tham khảo: Bánh cuốn bà Hà, Bánh cuốn cô Liễu. Bánh tam giác mạch Bánh được làm từ hạt hoa tam giác mạch với giá trị dinh dưỡng cao. Để làm bánh, sau mỗi mùa thu hoạch, người dân sẽ phơi hạt khô, một phần dùng để ủ tạo thành men, phần còn lại để làm bánh tam giác mạch. Hạt được xay nhuyễn, sau đó nhào thành bột và nặn thành những chiếc bánh dẹt, tròn, đường kính hơn một gang tay. Bánh sau khi nặn sẽ mang đi hấp và nướng bằng bếp than, ăn ngon nhất khi nóng, có vị ngọt nhẹ. Bánh được bán ở các chợ, những hàng quán ven đường, gần các khu du lịch. Thắng dền Trong số những món ăn vặt của Hà Giang, không thể không nhắc đến thắng dền. Được bán nhiều ở phố cổ Đồng Văn hay các phiên chợ, thắng dền tuy chỉ là "món ăn chơi" nhưng lại có sức hút khá đặc biệt. Một bát thắng dền gồm các viên bột nếp tròn luộc chín và nước đường nấu gừng, khi ăn thêm mè đen hay lạc rang giã nhỏ. Mèn mén Mèn mén. Ảnh: Xuân Phương Mèn mén là món ăn dân dã gắn liền với đời sống người bản địa. Vùng cao nguyên đá không canh tác được lúa nên cơm ngô (hay mèn mén) là thực phẩm chính của người Mông. Ban đầu, mèn mén chỉ là một món ăn thường ngày của người dân, dần dần được bán nhiều ở các phiên chợ để giới thiệu nét văn hóa ẩm thực. Để có mèn mén, ngô được phơi thật khô và chế biến qua nhiều công đoạn như giã, loại bỏ cặn, hấp. Mèn mén có vị thơm của ngô, có thể chan nước canh vào ăn cùng. Cà phê Cực Bắc Quán cà phê Cực Bắc nằm ở bản Lô Lô Chải, một ngôi làng nhỏ ngay dưới chân cột cờ Lũng Cú, cách biên giới Việt - Trung chưa đầy 1 km, thuộc xã Lũng Cú. Quán do ông Ogura Yasushy, người Nhật từng nhiều năm sinh sống tại Việt Nam và đặc biệt yêu mến Hà Giang, xây dựng. Quán có kiến trúc nhà trình tường mang bản sắc văn hóa người Lô Lô, mộc mạc và cũ kỹ với hàng rào đá, mái lợp ngói âm dương, tường đắp đất và cổng gỗ. Điều đặc biệt là quán không chỉ có cà phê pha phin truyền thống của người Việt Nam mà còn có trà xanh matcha Nhật Bản. Theo VnExpress https://vnexpress.net/cam-nang-du-lich-dong-van-4641450.html